MN 005 – Kinh Không Uế Nhiễm (Anaṅgaṇasuttaṃ)

I.  BẢN KINH MN005

1. Bản tiếng Việt của HT Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung05.htm

2. Bản tiếng Anh của Sister Upalavanna dịch

http://www.metta.lk/tipitaka/2Sutta-Pitaka/2Majjhima-Nikaya/Majjhima1/005-anangana-sutta-e1.html

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/005.htm

 

II. TÀI LIỆU tham khảo cho bài kinh MN005

1. Toát yếu kinh Trung Bộ – Thích nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm

2. Giảng kinh Không Uế Nhiễm HT THích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-005.htm

3. Giảng kinh Không Uế Nhiễm – T.T Thích Nhật Từ (Audio)

http://tusachphathoc.com/KinhTrungBo/12A_Vinga_trungtam_khong_cauue.wma

http://tusachphathoc.com/kinh/index.htm

———————-

III. THẢO LUẬN

Phạm Doãn

Có những bài kinh khó, phải đọc kỹ, thảo luận nhiều. Có những bài kinh dễ, ý nghĩa đã rõ ràng, có thể đọc nhanh. Kính mời mọi người cùng tham gia tích cực, để tiến độ học kinh Trung Bộ được nhanh hơn!

Huỳnh Phúc Kiến

Con chỉ mới nghiên cứu Nam Tông nên có khi chưa hiểu lắm, phải đọc đi đọc lại nhiều lần

Thien Nguyen Ba

‎”Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ tư niệm tịnh tướng. Do tư niệm tịnh tướng, tham sẽ làm ô nhiễm tâm của người này. Người này sẽ từ trần, trong khi còn có tham, còn có sân, còn có si, trong khi còn cấu uế, trong khi tâm còn ô nhiễm”. Này Hiền giả, giống như một cái bát bằng đồng, mang từ chợ về hay mang từ nhà thợ rèn về, thanh tịnh và sạch sẽ. Và người chủ cái bát ấy không dùng đến, không lau chùi và quăng cái bát ấy vào chỗ đầy bụi bặm. Này Hiền giả, như vậy cái bát ấy, sau một thời gian, càng ô nhiễm hơn, càng bụi bặm hơn.”

Con không hiểu tại sao hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”. Với người này, có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ tư niệm tịnh tướng…”?
Tại sao người này sẽ tư niệm tịnh tướng?

Phạm Doãn to Thien Nguyen Ba :

Tôi nghĩ… có những người nghiệp quá khứ tốt, nên khi tái sanh tâm ít có ô nhiễm & cấu uế. Người ấy tâm vốn ít cấu uế, nhưng do không tu tập (hoặc tu tập chưa đủ) nên không thể nhận biết tâm của chính mình vốn là thế nào? – “Ở đây, này Hiền giả, hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: “Nội thân ta không có cấu uế”.
Do người ấy chưa “như thật tuệ tri” (yathābhūtaṃ pajānāti) rằng tâm của mình vốn trong sáng.
- nên người ấy không biết mình có một giá trị đặc biệt, cao quý khác hẳn mọi người khác!
- nên đối với ngoại cảnh, người ấy vẫn sống theo thị hiếu của đám đông. Nghĩa là ham thích các hình tướng đẹp đẽ bên ngoài. Như vậy tham ái sẽ tăng trưởng dần.

Thien Nguyen Ba

Dạ, cảm ơn Bác Phạm Doãn ạ!

Bhikkhu Indacanda

tassetaṃ pāṭikaṅkhaṃ: subhanimittaṃ na manasi karissati, tassa subhanimittassa amanasikārā rāgo cittaṃ nānuddhaṃsessati,
Với người này có thể chờ đợi như sau: “Người này sẽ không tư niệm tịnh tướng. Do không tư niệm tịnh tướng, tham sẽ không làm ô nhiễm tâm người này.
Ở bài Kinh này, HT MC dịch manasikāra là “tư niệm”, còn ở 1 số bài Kinh khác là “tác ý”.

Thuận Pháp Dhammiko

Như vậy con đã gặp 3 cách dịch từ manasikāra là tác ý, hành ý, tư niệm. Búi luôn!

Hoa Nguyen

Dàn ý hay lý luận đoạn đầu bài kinh rất rõ ràng, chặt chẽ:
Có bốn hạng người là :
1/ “Nội thân cấu uế”, lại chia ra làm hai loại:
a. “như thật tuệ tri”: “Nội thân ta có cấu uế”. “Người này sẽ khởi lên ước muốn, sẽ cố gắng, sẽ tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy”, nên loại người này sẽ có nội thân tinh sạch. tâm hết nhiệm ô. Nên là Ưu thắng
b. “không như thật tuệ tri”: “Nội thân ta không có cấu uế”. Nên “Không khởi lên ước muốn, sẽ không cố gắng, sẽ không tinh tấn để diệt trừ cấu uế ấy”. Kết quả thân còn cấu uế, tâm còn ô nhiễm, nhưng không biết để tu sửa, nên vẫn chìm sâu trong tham, sân, si. Vậy là Hạ liệt.

2/ “Nội thân không cấu uế”, lại chia ra hai loại:
a. “không như thật tuệ tri”: “Nội thân ta không có cấu uế”. Người này sẽ tư niệm tịnh tướng. Do tư niệm tịnh tướng, tham sẽ làm ô nhiễm tâm của người này. Vì sai lầm mong tìm tịnh tướng (tưởng là sẽ làm nội thân tinh đẹp), kết quả sa vào tham, sân, si . Hạ liệt.
b. “như thật tuệ tri”: “Nội thân ta không có cấu uế”. Người này sẽ không tư niệm tịnh tướng, do không tư niệm tịnh tướng, tham sẽ không làm ô nhiễm tâm. Trái lại sẽ cố giữ gìn tính không cấu uế của nội thân đang có, và tinh tấn tu tập cho thêm tăng trưởng. nên là Ưu thắng.

Một điểm cần làm sáng tỏ là “tịnh tướng” ở đây có nghĩa gì. Tịnh tướng tôi hiểu dùng ở đây có nghĩa trái ngược với bất tịnh tướng, khi Phật nói về 32 tướng xấu, nhơ nhớp, bất tịnh ở thân thể con người (thân bất tịnh). Cho là nội thân cần có được (32) tịnh tướng cho tốt đẹp, thanh khiết, là mong cầu điều không đúng, và tham dục, ngã ái thái quá (khởi tâm tham).

Bhikkhu Indacanda

Anh Hoa Nguyen ghi: <Một điểm cần làm sáng tỏ là “tịnh tướng” ở đây có nghĩa gì. Tịnh tướng tôi hiểu dùng ở đây có nghĩa trái ngược với bất tịnh tướng, khi Phật nói về 32 tướng xấu, nhơ nhớp, bất tịnh ở thân thể con người (thân bất tịnh). Cho là nội thân cần có được (32) tịnh tướng cho tốt đẹp, thanh khiết, là mong cầu điều không đúng, và tham dục, ngã ái thái quá (khởi tâm tham).>
ĐỒNG Ý VỀ ĐOAN ĐẦU:
Một điểm cần làm sáng tỏ là “tịnh tướng” ở đây có nghĩa gì. Tịnh tướng tôi hiểu dùng ở đây có nghĩa trái ngược với bất tịnh tướng,
Từ Pali ở đây là subhanimitta và asubhanimitta (thường được dịch là tịnh tướng và bất tịnh tướng, dịch sát từ sẽ là mỹ tướng và bất mỹ tướng; subha = đẹp). Các đề mục asubha là 10 hiện tượng biến hoại của xác chết.
KHÔNG ĐỒNG Ý VỀ ĐOAN SAU:
khi Phật nói về 32 tướng xấu, nhơ nhớp, bất tịnh ở thân thể con người (thân bất tịnh). Cho là nội thân cần có được (32) tịnh tướng cho tốt đẹp, thanh khiết, là mong cầu điều không đúng, và tham dục, ngã ái thái quá (khởi tâm tham).
Nói về 32 (hoặc 31) là các đề mục về thể trược, từ Pali là asuci, và từ dịch sát nghĩa của asuci là bất tịnh; suci nghĩa là trong sạch, tịnh. Nhiều người đã bị lầm lẫn về đều này khi nói về bất tịnh thường liên tưởng đến việc tu tập ở 32 bộ phận của cơ thể.
LẠI THÊM MỘT VẤN ĐỀ VỄ NGỮ NGHĨA!!!

Bhikkhu Indacanda

Ở bài Kinh này, HT MC dịch manasikāra là “tư niệm”, còn ở 1 số bài Kinh khác là “tác ý”. Thấy từ “tư niệm” thì lại liên tưởng đến “tư niệm thực (Manosañcetanāhāra).”

Hạnh Trương

Tiện thể Sư cho xin luôn 4 cái “thực” bằng tiếng Pali đi ạ

Bhikkhu Indacanda

‎[166] Bốn pháp cần biến tri (Pariññeyyā dhammā):

Tức là bốn loại vật thực, tứ thực (Āhārā):

1. Đoàn thực (Kabaliṅkārāhāra), là vật thực thô tế mà chúng sanh ăn uống nhai nếm như cơm cháo v.v… để nuôi dưỡng thân sắc pháp. Khi liễu tri đoàn thực cũng sẽ liễu tri tham phát sanh từ ngũ dục.

2. Xúc thực (Phassāhāra), là xúc tâm sở, sự hội tụ của căn – cảnh – thức – sẽ làm duyên cho Thọ sanh khởi. Khi liễu tri xúc thực cũng sẽ liễu tri tam thọ.

3. Tư niệm thực (Manosañcetanāhāra), là tư tâm sở, sự cố ý hành động tạo ra thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, sẽ làm nhân cho quả tái tục trong các hữu. Khi đạt tri được tư niệm thực cũng sẽ đạt tri ba ái.

4. Thức thực (Viññāṇāhāra), là thức uẩn hay tâm thức, pháp làm duyên trợ danh sắc. Khi đạt tri thức thực cũng sẽ đạt tri danh sắc.

Đoàn thực là sắc vật thực, còn xúc thực, tư niệm thực và thức thực là danh vật thực. Gọi là vật thực vì các pháp ấy nâng đỡ nuôi dưỡng danh pháp và sắc pháp, làm cho sự sống được phát triển.

D.III.228; M.I.48, S.II.101, Vbh.401

Hạnh Trương

Lại có cái từ mới “đạt tri” kìa Sư , Sư cho xin luôn đi ạ

Bhikkhu Indacanda

Cái đó phải hỏi Soạn Giả và Dịch Giả là TT. Giác Giới, ở Vĩnh Long.

Phạm Doãn

NĂM DỤC
Ham muốn 5 điều: sắc, thanh, hương, vị xúc.
Có nơi giải thích ngũ dục là: tài, sắc, danh, thực, thụy.

BA CẢM THỌ (Vedanā):
1. Thọ lạc (Sukhavedanā), sự cảm thọ dễ chịu thoải mái của thân và tâm. Tức là thân lạc và tâm hỷ.
2. Thọ khổ (Dukkhavedanā), sự cảm thọ khó chịu bức xúc của thân và tâm. Tức là thân khổ và tâm ưu.
3. Thọ phi khổ phi lạc (Adukkhamasukhaveda-nā), sự cảm thọ không khổ không lạc, cảm giác không vui, buồn, sướng, khổ. Tức là thọ xả.
Đây là Ba pháp cần biến tri (Pariññeyyā dhammā).
D.III.216, 275; S.IV.331

BA ÁI (Taṇhā):
1. Dục ái (Kāmataṇhā), sự khát vọng, mong muốn hưởng ngũ dục lạc; sự tham ái duyên theo cảnh sắc, thinh, hương, vị và xúc.
2. Hữu ái (Bhavataṇhā), sự khát vọng, mong muốn cõi tái sanh; sự ái luyến thiền lạc; và sự tham ái có liên hệ với hữu kiến hoặc thường kiến (Sassa-tadiṭṭhi).
3. Phi hữu ái (Vibhavataṇhā), sự khát vọng, ái tham có liên hệ đến tà kiến đoạn diệt, tức là ái vô hữu kiến hoặc đoạn kiến (Ucchedadiṭṭhi) .
Đây là Ba pháp cần đoạn trừ (Pahātabbā dhammā).
D.III. Dasuttarasutta; A.III.445;Vbh.365

Hoa Nguyen

Xin thưa tôi vẫn nghi ngờ cách hiểu của tôi về “tịnh tướng”, được suy diễn từ “nội thân cấu uế”, và “nội thân không cấu uế”. Tuệ tri từ thân, nhưng mang nghĩa bên trong (và cùng nghĩa ở trên ?) thân như thế nào, để dẫn tới tâm ô nhiễm hay không bởi tham dục.

Thuận Pháp Dhammiko

Tham khảo:
Cetanā – Tác ý: Pháp tác động các pháp đồng sanh thực hiện nhiệm vụ của mình;
Manasikāra – Hành ý: Pháp hướng và dẫn các pháp đồng sanh đến đối tượng.
(Trích 52 tâm sở, VDP của Sư Tường Nhân)

Hạnh Trương

Mấy cái này đọc bản Milanda do Sư Indacanda dịch là hiểu liền, rõ ràng, đâu ra đó, với các ví dụ cực hay

Thuận Pháp Dhammiko

‎”Nội thân cấu uế” hình như thuộc phần tâm, không thuộc về thân, vì trong bài kinh nói rằng: <<Này Hiền giả, phẫn nộ, và bất mãn, cả hai thuộc về cấu uế>>, phẫn nộ, bất mãn là các thuộc tính của sân tâm.

Hoa Nguyen

Nhưng có “Tịnh Tướng” đi theo phần 2.

Hoa Nguyen

Cấu uế của Tâm:
Phần sau của bài kinh nói về cấu uế của tâm do sân hận và bất mãn gây ra, khi mong muốn được hơn người từ phần vật chất đến danh dự mà không thoả ý, trong lúc đi khất thực, thuyết pháp, nhận sự tôn kính, cúng dường…
Xét cho cùng đây cũng do lòng tham dục và ngã ái mà sinh ra tâm sân nhuế khi mong muốn vị kỷ không được thoả mãn. Tất cả có lẽ chỉ do ở chấp ngã, và phần biểu hiện, tác động gần nhất là ngã ái. Muốn lìa bỏ tâm chấp ngã không phải là dễ, vì phải lên đến bậc A-la-hán mới chứng được vô ngã (và vào Niết bàn). Phần ngã ái chắc chắn đeo đuổi với con người cho tới khi chứng đắc được bậc vô học. Nhưng những lỗi và phạm giới ở đây cũng có phần thái quá, trái với lời Phật dạy về đời sống viễn ly :
“Mong rằng các Tỷ-kheo hãy để ta đi trước trong khi vào làng để dùng cơm!”
“Mong rằng tại chỗ ăn, ta được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất”
“Mong rằng bậc Ðạo Sư hãy hỏi ta nhiều lần trong khi giảng pháp “
“Mong rằng, ta sẽ thuyết pháp cho các Tỷ-kheo tụ tập tại ngôi tịnh xá…”
“Mong rằng các Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta
“Mong rằng các Tỷ-kheo-ni… (như trên)… các Nam cư sĩ… (như trên)… các Nữ cư sĩ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường ta”.

Bhikkhu Indacanda

<Nhưng những lỗi và phạm giới ở đây cũng có phần thái quá, trái với lời Phật dạy về đời sống viễn ly> Vấn đề tương tợ như thế đã được một người Phật tử (rất thân cận với các Sư) phát biểu như sau: “Tại sao có những vấn đề sơ đẳng tụi con vư…See More

Hoa Nguyen

Những lỗi như trên, người thế gian phạm gấp nhiều lần hơn, nhưng vì họ không nhận biết lỗi mình đó thôi (nên thuộc thành phần hạ liệt!). Bình thường vì ăn uống đầy đủ, phủ phê, họ đâu thấy giá trị của một thứ nhỏ nhoi như thức uống tốt (chỉ là nước lã tinh khiết) để mà thèm. Nhưng các lỗi vạch ra đó thật ra xuất phát từ lòng tham lợi và hám danh của người cư sĩ hay không theo đạo Phật, là hai động cơ chính gây ra biết bao sự bất công và đối xử tàn ác với đồng loại. Vào cửa Phật rồi, nếu còn rơi rớt lại vài điều nhỏ thì cũng hiểu được khi còn chưa chứng đắc (ngay trong bài kinh cũng nên thấy chỉ một số ít phạm lỗi như vậy). Trên tôi nói lỗi “quá đáng” là so với lời khuyên “viễn ly” của Phật, còn phạm giới hình như là không. Vì thấy không có ai thêm ý kiến ở phần cuối bài kinh, tôi có mấy lời lạm bàn đó, có khi do vô ý mà thành không nên không phải.

Tieu Lam

có thể có một ví dụ nào khác cho bốn hạng người trong bài kinh không ạ!?

Bhikkhu Indacanda

Ý kiến của Sư vừa nêu, Anh Hoa Nguyen chưa nắm được. Vấn đề này khó trình bày vì nó không thuộc phạm vi lý luận. Nói chung, các Sư ở chùa khi tâm sự có thể xếp vào 2 hạng: 1 hạng cho hay rằng sau ngày xuất gia thì thấy mình trở nên thánh thiện trong sạch, hạng thứ 2 than phiền rằng sau ngày xuất gia mới nhận ra mình có quá nhiều ô nhiễm, lớn có nhỏ có. Đa số Phật tử tôn vinh và sùng bái hạng thứ 1.

Tieu Lam

hình như trong thiền tập cũng thế ạ. kỷ niệm vui, khi vào trường thiền, thời gian đầu trình pháp, cái gì cũng tốt, ít phóng tâm nhưng vị thiền sư bảo chưa được. được tháng hơn, báo cáo sao tâm phóng dật nhìu quá, hôn trầm nữa ( nghĩ là sẽ bị rầy) nhưng vị thiền sư bảo có tiến bộ! hihii

Hiếu Nguyễn

Về vấn đề Sư Indacanda nêu lên, con có một trải nghiệm tương tự nên rất đồng cảm. Bình thường mình tưởng mình là người ngon lành, ít “ác pháp”, nhưng khi bị đặt vào hoàn cảnh đặc biệt dễ làm ác pháp nổi dậy, lúc đó mình mới cảm thấy tâm mìn…See More

Hạnh Trương

Lấy ví dụ về tấm vải trắng, vết bẩn đen thì sẽ thấy rất rõ vấn đề mà Sư Indacanda đưa ra.
nếu HT không nhầm thì đa số các vị “Thầy” xuất thân từ hạng thứ nhất. Đa số các bậc Thánh xuất thân từ hạng thứ 2.

Hiếu Nguyễn

VD này hay thật anh! Vải đen thì khó thấy bẩn, vải trắng thì một chút cũng lợn cợn con mắt ngay.

Phạm Doãn

‎- Bài kinh có nói đến loại người “tâm có cấu uế”, nhưng không biết không thấy thấy tâm mình có cấu uế. Chắc chắn loại người này không phải là ít!
- Khi một người có được khả năng phản tỉnh (tự mình có thể nhìn mình) thì mới có thể biết được tâm mình vốn ra làm sao.
- Tu tập Chánh Niệm có khả năng giúp ta tự nhìn thấy tâm ta rõ ràng. Chính vì vậy lúc mới bắt đầu tu (công lực còn yếu) thì mình thấy mình ít lỗi. Càng tu, khả năng quán tâm càng mạnh mẽ và tinh vi hơn. Người tu có thể nhìn thấy những lỗi núp sâu trong miền vô thức (unconsciousness) cho nên ta cảm thấy rằng dường như “càng ngày ta càng tội lỗi hơn”!
- Ai có kinh nghiệm tu tập Chánh Niệm đều biết điều này! Khi tu tập đến giai đoạn thấy tâm có nhiều lỗi hơn trước, thì ta chắc đã có tiến bộ rồi!

Phạm Doãn

‎- Có lẽ, vì tính “thần bí và tín ngưỡng” vốn dính quá chặt, vốn khó tách biệt được với tôn giáo, cho nên có tình huống:
“…hạng cho hay rằng sau ngày xuất gia thì thấy mình trở nên thánh thiện trong sạch …” (theo comment của Bhikkhu Indacanda).
- Thêm vào đó về phía các tín đồ (tuyệt đại đa số) cũng với tinh thần “tín ngưỡng và thần bí”, đã biểu lộ sự “sùng bái” đến quá mức. Hai cái “tưởng tri” hợp lại, phát huy tác dụng qua thời gian dài…có lẽ cũng là một trong những nguyên nhân khiến Đạo Phật phải thoái trào!

Hoa Nguyen

Tác động lên tâm linh vẫn rất thật, ngay cả khi tác ý (dù là như lý hay phi lý). Người xuất gia đã nghĩ kỹ trước khi quyết định, ít ra cũng tin mình có căn tu, đủ sức chịu đưng kham nhẫn để tu, biết trước được những thiếu tiện nghi, nhiều khó khăn khác trước mắt (như giới luật, phải từ bỏ nhiều thói quen thế tục…), cho nên khi thệ nguyện xuất gia thì thấy mình trong sạch, thanh tịnh hơn. Nhưng về sau khi càng tu càng nhận biết tập khí nhiều đời kiếp vẫn còn tồn tại trong tâm và thân xác phàm, và nhận thấy mình có nhiều khuyết điểm chưa vượt qua được.

Hoa Nguyen

Về Niết Bàn có người cho là trải nghiệm cá nhân mà ngày nay vẫn có “nhiều” người đạt tới (như khi hành thiền Minh sát), nhưng tôi nghĩ điều họ nói đó chỉ là mức tâm thanh tịnh, an lạc (từ trung bình tới cao hơn) mà người hành thiền khác như An Chỉ cũng thấy chứng đạt được. Chưa phải là Niết Bàn và còn cách xa lắm, mà thức tri cả thắng tri dù cao thế nào vẫn chưa có thể với tới đó. Phải chờ đến khi chứng đắc liễu tri, theo như kinh Phật. Nhưng làm sao để được liễu tri, khi chỉ được nghe kể lại ở vài người. Cho nên tuy người theo đạo Phật tự nhận mình rất duy lý, nhưng người ngoài đạo Phật bằng suy nghiệm vẫn cho Niết Bàn là một trong nhiều quan điểm “thần bí và tín ngưỡng”, chưa có thể minh chứng được bằng cách nào ngoài niềm tin tôn giáo.


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.