Sub-DOC MN-10: PHÁP QUÁN HƠI THỞ TRONG PHẦN QUÁN THÂN TRÊN THÂN

107. Kathañca bhikkhave bhikkhu kāye kāyānupassī viharati. Idha bhikkhave bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāyaparimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati, satova (Sato – Sī, Syā) passasati. Dīghaṃ vā assasanto “Dīghaṃ assasāmī”ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto “Dīghaṃ passasāmī”ti pajānāti. Rassaṃ vā assasanto “Rassaṃ assasāmī”ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto “Rassaṃ passasāmī”ti pajānāti. “Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī”ti sikkhati, “Sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī”ti sikkhati. “Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī”ti sikkhati, “Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī”ti sikkhati.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: Tôi thở vô dài; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: Tôi thở ra dài; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: Tôi thở vô ngắn; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: Tôi thở ra ngắn. Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập; Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập; An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập; An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.

Seyyathāpi bhikkhave dakkho bhamakāro vā bhamakārantevāsī vā dīghaṃ vā añchanto “Dīghaṃ añchāmī”ti pajānāti, rassaṃ vā añchanto “Rassaṃ añchāmī”ti pajānāti. Evameva kho bhikkhave bhikkhu dīghaṃ vā assasanto “Dīghaṃ assasāmī”ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto “Dīghaṃ passasāmī”ti pajānāti. Rassaṃ vā assasanto “Rassaṃ assasāmī”ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto “Rassaṃ passasāmī”ti pajānāti. “Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī”ti sikkhati, “Sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī”ti sikkhati. “Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī”ti sikkhati, “Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī”ti sikkhati.

Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: Tôi quay dài hay khi quay ngắn, tuệ tri: Tôi quay ngắn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, tuệ tri: Tôi thở vô dài; hay thở ra dài, tuệ tri: Tôi thở ra dài; hay thở vô ngắn, tuệ tri: Tôi thở vô ngắn; hay thở ra ngắn, tuệ tri: Tôi thở ra ngắn. Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập; Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập; An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập; An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati. “Atthi kāyo”ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya. Anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho (Evampi – Sī, Syā, I) bhikkhave bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

———-

Tham khảo phần dịch của ngài Indacanda cho đoạn kinh tương ứng từ bài Tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra

Và này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào là có quả báu lớn, có lợi ích lớn? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]

Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’

Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’

Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’

Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’[10]

—–

[5] Chú ý đến từ “hoặc” (từ Pali là ‘vā’) ở đầu câu và động từ “nhận biết” (pajānāti) trong nhóm 4 câu này. Có thể hiểu là ở pháp thiền này, hành giả không điều khiển hơi thở theo ý mình mà để hơi thở tự nhiên rồi chú tâm nhận biết sự diễn biến của hơi thở khi dài khi ngắn khác nhau.

[6] assasanto và assasāmi là các biến thể của động từ assasati. Đa số các từ điển và các bản dịch tiếng Anh đều ghi nghĩa cho động từ này là “thở vào,” nên ở từng đôi như vậy trình bày “thở vào” trước rồi “thở ra” sau. Còn ở bản dịch này, chúng tôi ghi nhận nghĩa của động từ assasati là “thở ra” nên trình bày “thở ra” trước rồi “thở vào” sau. Sự chọn lựa này được căn cứ vào 2 chứng cớ:

– Ở Chú Giải Tạng Luật, ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Assāso ti bahi nikkhamanavāto. Passāso ti anto pavisanavāto = Hơi thở ra là gió đi ra bên ngoài. Hơi thở vào là gió đi vào bên trong” (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 408, theo bản in của Pali Text Society – PTS).

Tự Điển Pali – English Dictionary của PTS cũng ghi assasati là thở ra (trang 90), passasati là thở vào (trang 447).

Nếu là như vậy, phải chăng phương pháp Ānāpānassati hay “Niệm hơi thở” nên được trình bày và tu tập theo thứ tự hơi thở ra trước rồi mới đến hơi thở vào? Việc thử nghiệm xin dành cho các hành giả, ở đây chúng tôi chỉ trình bày theo sự nghiên cứu về văn tự.

[7] – Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (nhận biết) và có liên từ “vā” (hay là, hoặc là) xen vào giữa. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập). Theo thiển ý của cá nhân thì đến giai đoạn này, hành giả đã có sự tiến triển trong sự tu tập hơi thở và các chi thiền bắt đầu sanh khởi.

[8] – Ngài Buddhaghosa giải thích là sabbakāya (toàn thân) nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc của toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 411, theo bản in của PTS).

•    Ngài Mahābhidhāna, ở tập Chú Giải Saddhammappakāsinī, ghi rằng: ‘Trong khi làm cho được biết rõ, trong khi làm cho rõ rệt phần đầu-giữa-cuối của toàn bộ hơi thở vào, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập (Patisambhidāmagga-atthakathā tập 2, trang 491, theo bản in của PTS).

[9] Ở nhóm 2 câu này, cụm từ sabbakāyapatisamvedī (có cảm giác toàn thân) nên được hiểu là ‘danh tính từ’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào.

[10] Tương tợ như trên, ở nhóm 2 câu này, từ passambhayam (trong khi làm an tịnh) nên được hiểu là ‘phân từ hiện tại, thể liên tiến (progressive)’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào. Cách giải thích này được áp dụng tương tợ cho các nhóm 2 câu ở bên dưới.

—–

Một ý có liên quan của Sư Từ Minh

•           Còn một điểm nữa: ở phần ‘‘Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, …

Ở đây đức Phật nói: ātāpī (có nhiệt tâm) sampajāno (có sự rỏ biết) satimā (có niệm) như 3 pháp hổ trợ cho vị sống quán thân (kāyānupassī). Nhưng ở phần chi tiết về niệm hơi thở đức Phật lại dạy:

•           So satova assasati, satova passasati. – Chỉ có niệm vị ấy thở ra, chỉ có niệm vị ấy thở vô; ở đây chỉ CÓ NIỆM (satova=sati+eva), mà không phải là ātāpī sampajāno satimā.-Dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti…,

•           và khi thở ra dài, vị ấy tuệ tri tôi thở ra dài…ở đây là TUỆ TRI (pajānāti) mà không phải là ātāpī sampajāno satimā.

•           Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati…,- vị ấy tập rằng: tôi sẽ thở ra có ý thức rõ toàn thân (hởi thở chặng đầu, giữa, cuối), ở đây là VỊ ẤY TẬP (sikkhati) mà không phải ātāpī sampajāno satimā.

•           Không biết dụng ý đức Thế Tôn dùng từ ở đây như thế nào ? Hay satova, pajānāti và sikkhati mỗi pháp đều có 3 cái ātāpī sampajāno satimā ? Hay là đức Phật đi từ tổng quát ( ātāpī sampajāno satimā) rồi đến chi tiết hành trì (satova, rồi pajānāti rồi sikkhati)Xin chư vị chia sẻ chỗ này.

Ý kiến của Sư Adhiṭṭhāna ‎về mặt ngữ pháp thì 4 chi trên đều bổ nghĩa cho chữ Bhikkhu, ý nói nó ngang nhau là ngang nhau như vậy.

Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃở đoạn trên Đức Phật Ngài dùng từ rất rõ ràng như thế này: (Nếu) 1 vị tỳ khưu sống trên thân có sự dõi theo thân (kāyānupassī), có nhiệt tâm (atīpī), có sự rõ biết (sampajāno), có niệm (satimā)>>> (thì vị ấy sẽ có thể ) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian_

Vấn đề được đặt ra : nhiệt tâm (ātīpī), rõ biết (sampajāno), chánh niệm (satimā) đã đủ hay chưa để cho đến kết quả tốt đẹp là sẽ có thể loại bỏ được tham ái (abhijjhā) và domanassa (sầu ưu)Ở phần đoạn văn này, Đức Phật đưa ra điều kiên và kết quả (hãy đủ điều kiện đi cái đã :P)

Tiếp tục,So satova assasati – Vị đó tỉnh giác thở vào – satova= sata + eva với sata bổ nghĩa cho chủ ngữ so, satovapassasati – vị đó tỉnh giác thở ra.

Dīghaṃ vā assasanto “Dīghaṃ assasāmī”ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto “Dīghaṃ passasāmī”ti pajānāti – Trong khi đang thở vào dài, vị đó biết tôi đang thở vào dài, hay là trong khi đang thở ra dài vị đó biết tôi đang thở ra dài.

Rassaṃ vā assasanto “Rassaṃ assasāmī”ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto “Rassaṃ passasāmī”ti pajānāti – Trong khi đang thở vào ngắn vị đó biết tôi đang thở vào ngắn, hay là trong khi thở ra ngắn vị đó biết tôi đang thở ra ngắn.

“Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī”ti sikkhati, (vị đó) thực tập có sư cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào“Sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī”ti sikkhati (vị đó) thực tập có sư cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra.

“Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī”ti sikkhati, (vị đó) thực tập thân có được sự yên tịnh, tôi sẽ thở vào“Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī”ti sikkhati. (vị đó) thực tập thân có được sự yên tịnh, tôi sẽ thở ra

Đệ mạo muội dịch lại phần này theo ý mình vì có những điểm sau đây:

Khi vị đó thực hành, sự tiến bộ theo từng bước, lúc đầu chỉ là sự nhận biết hơi thở vào ra >>> tiếp theo hơi thở dài ngắn >>> tiếp theo trước khi thở vào hay thở ra vị đó nhận biết được toàn thân >>> tiếp theo trước khi thở vào hay thở ra, vị đó lại xem thân mình đã yên tịnh hay chưa. Một chuỗi tiếp diễn quá trình thực hành như thế này đã đủ để gọi là satimā hay chưa ?😀

—–

Hạnh Trương

Chỗ này còn một chút nữa chưa rõ ở đoạn cuối, nhờ Ven Adhiṭṭhāna khởi sự đi ạ.Sau đó chúng ta sẽ bàn kỹ về pháp hành theo đoạn kinh này ạ. Đây là phần hết sức quan trọng, gỡ được là cả bài kinh sẽ rõ ra nhiều lắm.

Thien Nguyen Ba

Em thấy khó nhất là thiết lập niệm luôn hiện diện. Giả sử mình cũng thiết lập niệm nhưng bị gián đoạn. Vậy khi gián đoạn, mình có cần thiết lập lại niệm giống như ban đầu không?

Hạnh Trương

Thiện thấy khó nhất là đúng đấy, có lẽ chính vì thế mà bài kinh có tên là SATI…Vì nếu dễ thì có thể bài kinh đã được các trưởng lão đặt tên là Nhiệt Tâm Kinh, hoặc Tỉnh giác Kinh , hoặc Quán kinh rồi.

Hiếu Nguyễn

Đúng rồi ạ, mấy bài kia (118, 119) cũng là Sati hết.

Thien Nguyen Ba

Em mong chờ vấn đề này lâu rồi Anh Hạnh ơi, bây giờ có điều kiện, em phải hỏi, thắc mắc để Quý Sư và các anh chị giúp cho việc thực hành được tốt hơn.

Ven Adhiṭṭhāna

Đoạn 107 có khuất mắt nằm ở đây:

“Atthi kāyo”ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya.

Chia đoạn ra làm 2 phần để phân tích

Phần I : “Atthi kāyo”ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti

Paccupaṭṭhita = paṭi + upa + √ṭhā +ta – được thiết lập

panassa = pana + assa

pana (indcl) hơn nữa

assa (sở thuộc cách của “ta”) của người đó, của hắn, v.v..

sati (f) chánh niệm (sammāsati)

“Atthi kāyo”ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti – Hơn nữa, niệm của vị ấy được thiết lập “có thân đây”

Vấn đề quan trọng đã xuất hiện, sao lại “có thân đây” (Phật giáo chủ trương thuyết tự ngã à? Dĩ nhiên là không, nhưng sao lại thiết lập niệm với “atthi kayo”- “có thân đây”)

Trong chú giải ghi “Atthi kāyoti vā panassāti kāyova atthi, na satto, na puggalo, na itthī, na puriso, na attā, na attaniyaṃ, nāhaṃ, na mama, na koci, na kassacīti evamassa sati paccupaṭṭhitā hoti.” _ “Có thân đây có nghĩa là (vị đó chỉ đơn thuần nhận biết) chỉ có cái thân, không phải chúng sanh, không phải người, không phải người nữ, không phải người nam, không phải bản ngã, không thuộc về bản ngã, không phải tôi, không phải của tôi, không phải bất cứ ai, không thuộc về cứ ai” niệm của vị đó được thiết lập như vậy.

Phần II : yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya.(phần này cực kì chua )

ñāṇamattāya (chỉ định cách của ñāṇamattā = ñāṇa + mattā)

paṭissatimattāya (chỉ định cách của paṭissatimattā = paṭi + sati + mattā)

với cấu trúc yāvadeva …. mattāya như thế này nên hiểu thế nào cho đúng?

Yāvadevāti payojanaparicchedavavatthāpanametaṃ – yāvadeva ở đây được dùng cho xác định dùng cho một giới hạn – (có nghĩa là) chỉ dành cho (yāva + eva)

Idaṃ vuttaṃ hoti – yā sati paccupaṭṭhitā hoti, sā na aññatthāya. Ở đây được nói là – một cái (chánh) niệm nào được thiết lập, thì cái (niệm) đó không dành cho một lợi ích nào khác. (vậy thì cho lợi ích gì)

Atha kho yāvadeva ñāṇamattāya aparāparaṃ uttaruttari ñāṇapamāṇatthāya ceva satipamāṇatthāya ca, satisampajaññānaṃ vuḍḍhatthāyāti attho. Vậy thì, chỉ dành cho giới hạn của trí, hơn nữa chỉ dành cho lợi ích “dung lượng” của trí và dành cho lợi ích “dung lượng” của chánh niệm, “nhằm mục đích cho sự tăng trưởng niệm và tỉnh giác” (satisampajaññānaṃ vuḍḍhatthāyāti attho).

Kết lại phần II, như vậy yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya phải được hiểu là “ chỉ dành cho sự phát triển của trí và niệm” nói cách khác (theo chú giải) “nhằm mục đích cho sự tăng trưởng niệm và tỉnh giác” (satisampajaññānaṃ vuḍḍhatthāyāti attho).

Đây là đoạn khó cần làm rõ, vì vấn đề cần đặt ra là hiểu đoạn này như thế nào, coi như những phần quan trọng trong bài kinh Mahāsatipaṭṭhāna, đã được làm rõ .

>>> Nhiệm vụ đã xong, phần còn lại xin giao cho các vị khác từ từ bàn luận😀

Hạnh Trương

Sư Từ Minh vào phản biện giùm Sư Ven Adhiṭṭhāna đi, hihi.

Hạnh Trương

Internet Miến Điện, tốt lên, tốt lên cho Sư Từ Minh làm việc nào🙂

Hạnh Trương

Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā …

ajjhattaṃ / bahiddhā

Ven Adhiṭṭhāna tiện thể show luôn kết quả đi ạ.

Hạnh Trương

<<coi như những phần quan trọng trong bài kinh Mahāsatipaṭṭhāna, đã được làm rõ >>

Chưa đâu Ven Adhiṭṭhāna, chưa được chạy🙂

Từ Minh

Hôm qua không thấy phần tiếp tục của Ven Adhiṭṭhāna, có

lẽ do nhiều comment, nay nhờ chú Hạnh Trương tách riêng mới hiểu ý của Ven Adhiṭṭhāna bảo cho thêm ý kiến.

•           Tôi rất thích đức Phật dùng từ eva ở hợp từ satova. Eva là một dạng bất biến dùng để nhận mạnh chỉ, từ đó có thể hiểu vị hành giả trong khi tu tập chỉ có ba pháp: nhiệt tâm (ātāpī), tỉnh giác (sampajāno) và niệm (satimā) đang tu, đang hành thiền, đang ghi nhận; chỉ có ba pháp đang làm việc trên đối tượng… chớ không phải tôi, ta, mình đang tu, đang hành thiền.
– Theo tôi nghĩ trong mỗi từ satova, pajānāti và sikkhati đều bao hàm ba pháp: ātāpī sampajāno satimā và tùy trường hợp pháp nào trội hơn pháp nào, chẳng hạn ở câu: So satova assasati, satova passasati. thì satimā trội hơn hai pháp còn lại, vì đây là bước khởi đầu niệm hơi thở, nên chỉ cần đưa tâm vào và biết hơi thở đang ra, vô là ok rồi. Câu Dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti… thì sampajāno trội hơn hai pháp kia, vì biết thêm hơi thở ra, vô dài hay ngắn. Và câu Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati… thì sikkhati trội hơn, vì phải gia công nhiều hơn.
– Bởi vì đoạn này đức Phật dạy về hơi thở cho nên tất cả chữ kāya được xài ở đây đều chỉ cho hơi thở mà không phải là cái body này. kāye: ở nơi thân (nơi hơi thở ra, vô); kāyānupassī: quán thân (quán hơi thở ra, vô); Sabbakāya: toàn thân (toàn thân hơi thở=chặng đầu, giữa, cuối); kāyasaṅkhāraṃ: thân hành (chỉ cho hơi thở ra, vô thô tháo) và khi Passambhayaṃ: làm cho an tịnh, cũng để chỉ làm cho an tịnh hơi thở thô tháo (kāyasaṅkhāraṃ)…

‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.

Đoạn này Ven Adhiṭṭhāna đã theo chú giải phân tích như vậy thì ở đây cũng hết ý rồi. Sadhu Ven Adhiṭṭhāna. Ở đây chỉ xin dựa vào bản Nissaya của Miến Điện và làm theo cách của riêng mình:

vā pana-và hơn nữa -> hoti-vị ấy có -> paccupaṭṭhitā-sự suy nghĩ về -> sati-niệm -> assa (bhikkhuno)-của vị ấy ->iti -rằng -> atthi-có -> kāyo-thân (chỉ có hơi thở ra, vô)/ viharati-vị ấy sống -> yāvadeva ñāṇamattāya-chỉ dành cho ích lợi sự tăng trưởng của trí -> yāvadeva paṭissatimattāya-chỉ dành cho ích lợi sự tăng trưởng của của niệm -> anissito ca-và không lệ thuộc (ái, mạn, kiến)/ na ca upādiyati-và không bám víu -> kiñci-vào dính mắc mạnh mẽ nào -> loke-ở thế gian (thủ uẩn)// bhikkhave-này các tỷ-kheo -> Evampi kho-như thế ->bhikkhu-vị tỷ kheo ->viharati-sống -> kāyānupassī-quán thân (hơi thở) -> kāye-nơi thân (hơi thở).
– Theo ý kiến cá nhân nếu chữ kayo được hiểu là thân hơi thở ra, vô thì vấn đề sẽ đơn giản hơn.

Từ Minh

Chờ mạng từ hôm qua tới giờ mới post được phần này, xin chư vị góp ý.

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Từ Minh

hay đó huynh, nissaya của Miến dịch y chang :)). Tiện thể huynh qua trả lời câu hỏi của Công Định dùm luôn, chưa có ai giải đáp thắc mắc hết😛

Hạnh Trương

Sư Từ Minh tuyệt quá, hai Sư kết hợp quá xịn!!!

Công Định

Ước gì có thêm nhiều sư và nhiều sư cô nữa tham gia giảng dạy thì tuyệt cú mèo luôn.🙂

Phan Duc Tuan

Có phải phát triển chánh niệm hơi thở là tâm luôn hay biết hơi thở không?

Con không biết tiếng Pali nhưng về mặt hành văn thì con thấy chữ thân ở đây ám chỉ thân hơn thở vô ra, nó mới trôi chảy, có lí.

Hạnh Trương

Sư Từ Minh đâu rồi nhỉ, chỗ tôi SẼ thở ra.., Sư có ý gì riêng về thì tương lai không? Ý riêng của Sư nha🙂

Thuận Pháp Dhammiko

Theo TP: Có thân đây chỉ vị đó đang có niệm trên thân, tức tâm của vị đó đang ghi nhận đề mục là cái thân vật lý, đó là hơi thở hay những gì liên quan đến thân vật lý. Có thân đây chỉ là một từ chế định để nói rằng vị đó đang ghi nhận, chú ý về thân vật lý. Nhưng thiền Vipassana thì không cho đó là thân tôi, hay tự ngã của tôi, của anh, mà chỉ thấy và ghi nhận các tính chất của thân vật lý là cứng mềm, nóng lạnh, co rút hay chuyển động, các tính chất này bị chi phối bởi sự vô thường, vô ngã. Do đó, vị đó luôn ghi nhận có thân đây sẽ phát triển được niệm hay chánh niệm của mình; thấy được các tính chất của thân thì sẽ thấy được sự vô thường, vô ngã, bất toại nguyện thì dẫn đến không chấp trước, không bám vúi vào cái thân vật lý và tâm của mình, của người khác hay bất kỳ sự vật hiện tượng gì khác trên thế gian, như vậy vị đó sẽ làm tăng trưởng được tỉnh giác hay Tuệ của mình.

Hạnh Trương

Hai chữ này khó hiểu quá …

ajjhattaṃ / bahiddhā

Như vậy vị ấy sống quán [thân, thọ, tâm, pháp] trên các nội [thân, thọ, tâm, pháp] ; hay sống quán [thân, thọ, tâm, pháp] trên các ngoại [thân, thọ, tâm, pháp]

Thế nào là nội, nội là so với cái gì, thế nào là ngoại, ngoại là so với cái gì?

Quý Sư và các đạo hữu giải giùm đi ạ.

Từ Minh to Hạnh Trương

tôi SẼ thở ra.. Sư có ý gì riêng về thì tương lai không? Ý riêng của Sư nha🙂

Tôi sẽ thở ra… chỉ xuất hiện ở hai câu cuối trong phần niệm hơi thở:

‘Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.

Vị ấy tập rằng tôi sẽ thở ra có ý thức rõ toàn thân (hơi thở); vị ấy tập rằng tôi sẽ thở vô có ý thức rõ toàn thân (hơi thở). Vị ấy tập rằng tôi sẽ thở ra khi làm chấm dứt hơi thở ra thô, vị ấy tập rằng tôi sẽ thở vô khi làm chấm dứt hơi thở vô thô.

Theo ý cá nhân thì ở đây chỉ cho sự kết hợp với tác ý chân chánh (yonisomanasikāra), nghĩa là vị ấy có tác ý lấy hơi thở ra, vô làm thành đối tượng cho ātāpī sampajāno satimā. Tác ý chân chánh là trí tuệ xuất hiện trước ātāpī sampajāno satimā và làm cho đối tượng (hơi thở ra, vô) rõ ràng và không lầm lẫn. Nếu tác ý sai, thì dẫn đến việc hành sai. Cũng giống như bộ phận zoom lens của máy chụp hình làm cho hình ảnh thu lại được rõ nét, thì tác ý chân chánh cũng có chức năng như vậy.

Tác ý sai là sao? Tức là lúc tu tập vị ấy nghĩ rằng TÔI thở ra, TÔI thở vô, TÔI biết rõ hơi thở…

Tác ý chân chánh là sao? Vị ấy tác ý rằng chỉ có 3 danh: ātāpī sampajāno satimā đang theo dõi hơi thở. Khi tác ý đi trước như vậy rồi thì 3 danh sẽ làm việc tốt đẹp trên đối tượng, và việc hành sẽ thành thôi.

Ý riêng tôi thì nghĩ như vậy, còn ý riêng chú Hạnh Trương thế nào?

Hạnh Trương

Haha, Sư Từ Minh chơi đẹp quá🙂

Ven Adhiṭṭhāna to ‎Từ Minh

đúng là dân từ Paṇḍitā ra có khác :))

Hạnh Trương

HT cũng có cùng ý với Sư Từ Minh về chỗ thì tương lai đó, có nghĩa là ….

bước 1 ….

bước 2….

bước 3.. vị ấy chủ động hướng tâm, nhắc tâm như thế này bây giờ tôi SẼ thở ra ( thở vào) làm sao để cảm giác được toàn thân. = thiết lập một niệm như vậy.

Thiết lập niệm như vậy rồi, SAU ĐÓ vị ấy im lặng tập (ở đây là thở vào, thở ra) làm sao để đạt được cái mà vị ấy mong muốn ( cảm giác được toàn thân).

Trong khi tập như vậy thì niệm của vị ấy được thiết lập trên cái thân đang được quán dưới đề mục cảm giác toàn thân, sự nhiệt tâm của vị ấy được dùng để hỗ trợ cho việc quán và duy trì niệm, sự tỉnh giác của vị ấy để việc quán được rõ và liên tục, đối trị hôn trầm , thụy miên, niệm là niệm.

Ý riêng của HT đó ạ, có cái khác với ý riêng của Sư Từ Minh nhiều không, hihi.

1. Chưa sắc, chưa danh ở giai đoạn này

2. Yonisomanasikāra là một chuyện khác nữa, có dịp sẽ thảo luận thêm, cũng là một

Hạnh Trương

Cái chữ cảm giác toàn thân tiếng Việt nó ít ý, nhưng ngắm cái chữ Sabbakāyapaṭisaṃvedī thì vô cùng lý thú🙂 (tiếng Việt bỏ mất 2 tiền tố là paṭi và saṃ trong chữ paṭisaṃvedī)

Hạnh Trương

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy mẫu câu [sẽ như thế .., vị ấy tập] gặp nhiều trong kinh điển, ví dụ như trong đoạn kinh sau đây :

tasmātiha te, rāhula, ‘hassāpi na musā bhaṇissāmī’ti — evañhi te, rāhula, sikkhitabbaṃ.

Do vậy, này Rahula, Ta quyết (sẽ) không nói láo, dầu nói để mà chơi, này Rahula, Ông phải học tập như vậy. ( Việt dịch : Hòa Thượng Minh Châu ), bài kinh 61. Trung Bộ Kinḥ

Chúng ta dễ nhận thấy ở câu Pali có cùng một cấu trúc , đó là một câu dùng với mục đích hướng tâm, tạo ý trước, ở thì tương lai, (… bhaṇissāmī) và sau đó là chữ tập (Sikkhati)

Hạnh Trương Chỗ này còn 1 số điểm rất thú vị, Sư cô Nguyen Huong, Ven Adhiṭṭhāna , Sư Từ Minh , xem có gì cần góp ý từ phía ngôn ngữ cũng như kinh nghiệm riêng không ạ.  Sau đó thì chúng ta quay lại từ đoạn đầu của phần tập hơi thở này để từ đó có cái đi tiếp cho các phần còn lại.

Để thuận tiện cho việc thảo luận cũng như theo dõi và hiểu ý các comment tới đây, cần tham khảo bài kinh nhập tức xuất tức niệm, phần liên hệ tới tứ niệm xứ.

http://paliviet.info/TriTan/TriTan_HoiTho.htm
Qua kinh nghiệm trao đổi của HT, việc hiểu đơn giản đoạn kinh này vô cùng khó khăn.

Hy vọng PLCD với những thảo luận tích cực, những phản biện sắc xảo, sẽ phần nào phá vỡ được cái “đám mây” bao quanh đoạn kinh quan trọng và phổ biến này.

Thien Nguyen Ba Đây là những câu dùng với mục đích hướng tâm, tạo ý trước, ở thì tương lai:

“Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’[10]

Vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở vào.’

Vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát[11] về vô thường, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào.’”

Thien Nguyen Ba Câu hỏi của em là:

1/ Những câu hướng tâm, tạo ý trước ở trên cũng là dùng để “thiết lập niệm” phải không?
2/ Chúng ta vừa thở vô, vừa thở ra trong khi ta vừa hướng tâm phải không?

Hạnh Trương Hỏi lại cái đã..
Trong 14 đề mục đó, thì niệm đặt ở đâu ?

Thien Nguyen Ba Dạ, 02 đề mục đầu niệm đặt ở thân, 12 đề mục tiếp theo lần lượt đặt ở thọ, tâm, pháp (mỗi nhóm 04 đề mục).

Hay là niệm đặt ở hơi thở vô, hơi thở ra?

Nếu hiểu sai, mong rằng anh chỉ thẳng!

Hạnh Trương Nếu đặt ở hơi thở thì nó như nhau cho cả 16 đề mục , vậy thì không còn là tứ niệm xứ.
Vậy hơi thở không thể là nơi đặt niệm, đó là điểm thứ nhất có thể phải lưu ý tới chăng?
Sau đó cần quay lại từ đầu, đề mục đầu.

Vậy thì niệm được thiết lập như thế nào cho từng đề mục? duy trì niệm như thế nào? Thiện thử xem kỹ câu chữ rồi tự mình soi nó ra cái gì, hihi. Ai cấm🙂

Hạnh Trương Lưu ý comment của mấy Sư ở trên về vai trò của các pháp như nhiệt tâm, tỉnh giác … ở mức độ tổng quát cho toàn bộ các đề mục.

Hoa Nguyen ‎to Thien Nguyen Ba:

1/ Những câu hướng tâm, tạo ý trước ở trên cũng là dùng để “thiết lập niệm” phải không?
Không phải “lập niệm”, tôi nghĩ là “Như lý tác ý”: khi thiện pháp (như tâm hân hoan) chưa khởi sinh thì làm cho nó sinh khởi. Không thể chờ đợi cho đến khi có tâm hân hoan (hồn nhiên) mới thở vô, thở ra, mà chuẩn bị, tác động trước để được tâm này. Muốn vào định phải có các tâm hỷ, lạc, an tịnh, ly dục, xả ly…

Hạnh Trương

Có một vấn đề rất hệ trọng cho những người tu tập có liên quan tới thở như thế này.
Tuyệt đại đa số các thiền sư hiện đại khi hướng dẫn đều nói là phải lấy HƠI THỞ làm đối tượng để chú tâm, hay an trú. Trong khi các bài kinh có liên quan thì TUYỆT NHIÊN không có nhắc gì tới HƠI THỞ, mà chỉ nhắc tới SỰ THỞ, quá trình thở.

Đây có phải là điểm cần phải hết sức lưu ý khi thực hành, và nó có ảnh hưởng thế nào tới đường hướng và kết quả tu tập, chúng ta thử làm rõ một số vấn đề .

1. Hơi thở khác gì sự thở

2. [biết rõ hơi thở ra] có khác gì với [biết rõ “tôi đang thở ra”]

Thuận Pháp Dhammiko to ‎Thien Nguyen Ba: <<Dạ, 02 đề mục đầu niệm đặt ở thân, 12 đề mục tiếp theo lần lượt đặt ở thọ, tâm, pháp (mỗi nhóm 04 đề mục)>>??? Tất cả 16 sự tập luyện này đều là niệm thân hết, chính xác là tập niệm hơi thở thôi, không có tập niệm thọ, tâm, pháp gì ở đây cả. Vì sao? tập niệm hơi thở sẽ rõ🙂

Hạnh Trương

<< Vì sao? tập niệm hơi thở sẽ rõ :)>>

TP nói thế cũng như không nói, nói có sách , mách có chứng chứ🙂

“Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bốn sự thiết

lập niệm được hoàn bị?

Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thọ khác nữa trong số các thọ, tức là sự chú tâm tốt đẹp đối với sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.””
http://paliviet.info/TriTan/TriTan_HoiTho.htm

TRANG ÔN CỐ TRI TÂN

www.paliviet.info

Đây là bản dịch mới của bài Kinh Ānāpānasatisuttam thuộc Tạng Kinh, Trung Bộ…See More

Thuận Pháp Dhammiko

Như vậy đức Phật mới phân ra 4 nơi để tập thiết lập niệm khác nhau. Cái cần bàn ở đây gọi là VỊ ẤY TẬP LUYỆN, trong bài kinh Ānāpānasatisuttam thì tất cả 16 cách trên đều thuộc phần <Tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra> cả. Trong cách này, v

ị tu tập lấy hơi thở làm đối tượng chính để tập làm tăng trưởng chánh niệm. Nhưng không một ai lần đầu tiên tập chánh niệm nơi hơi thở mà không bị phóng dật cả. Khi bị phóng dật thì tâm có thể nhảy sang đối tượng khác như là các cảm thọ đau nhứt, các tâm suy nghĩ vu vơ,…Điều quan trọng là nếu bị như vậy thì vị đó phải biết để làm cho tâm an tịnh, hân hoan, nghĩ về vô thường,…và phải trở về lại ghi nhận đối tượng chính là hơi thở để niệm SẼ ĐƯỢC THIẾT LẬP LẠI (thì tương lai), không để tâm vọng động trên nhiều đối tượng khác nhau sẽ làm cho Niệm yếu đi, dẫn đến Định yếu đi, cũng làm cho Tuệ yếu đi.

Hạnh Trương <<Trong cách này, vị tu tập lấy hơi thở làm đối tượng chính để tập làm tăng trưởng chánh niệm.>>. Chỗ nào trong kinh ghi điều này TP nhỉ?

Thuận Pháp Dhammiko

Trong KINH GIẢNG VỀ NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA (Ānāpānasatisuttam), có ghi như sau (ghi bóng gió nhưng phải hiểu đúng🙂

(Tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra)

<<<Và này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, đư

ợc thực hành thường xuyên như thế nào là có quả báu lớn, có lợi ích lớn?>>> Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]
Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’
Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’

Sau đây là NIỆM THỌ: <<Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;>> Nếu ai lấy THỌ làm đối tượng chính thì chỉ tìm cảm thọ mà niệm thôi, bỏ qua hơi thở hay cái khác đi.

Sau đây là NIỆM TÂM: <<Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở vào;>>

Sau đây là NIỆM PHÁP: <<Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;>>

Hạnh Trương Hỏi lại TP lần nữa nhé, trả lời thẳng vào câu hỏi, đừng nói bóng gió. Pháp hành không phải là văn học.

1. Chỗ nào trong kinh nêu rõ là HƠI THỞ được lấy làm đối tượng của tu tập?

‎2. TP có đồng ý là 16 đề mục không phải có chung một thứ là quán thân? Nếu có ý khác, xin chứng minh?

Thuận Pháp Dhammiko

Theo em thì nội dung chính của bài kinh Ānāpānasatisuttam chỉ có duy nhất một đề mục chính là HƠI THỞ (vô, ra) thôi, mọi cái khác đều là đề mục phụ cả. Đây chỉ là 1 phương pháp lấy hơi thở làm đối tượng để trau dồi chánh niệm, còn các đề mụ

c về thọ, tâm, pháp chỉ là thứ yếu để ghi nhận, ghi nhận chúng xong rồi thì quay về tập ghi nhận lại hơi thở.

Ānāpānasati = Ānāpāna + Sati: sati là tâm ghi nhận, đối tượng của tâm sati này là Ānāpāna (hơi thở vô, ra). Sati này có thể làm phát triển thành 2 loại thiền Định, thiền Tuệ khác nhau nữa!!!

Hạnh Trương OK, đó là kiến giải riêng của TP về nội dung bài kinh🙂. Nói chung không chỉ TP có kiến giải như vậy.

HT sẽ dẫn ra một ví dụ cụ thể để chúng ta xem xét. Biết là điều này cực kỳ khó tin vì đã quá nhiều thông tin về HƠI THỞ bị nhét vào đầu chúng ta. Do quá nhiều người tu HƠI THỞ gặp nạn (nghĩa đen), nên HT đành lôi vấn đề này ra.
Điều này có thể khiến rất nhiều vị không hài lòng, nhưng đành vậy.

Dīghaṃ vā assasanto “Dīghaṃ assasāmī”ti pajānāti,

Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’

Đối tượng của nhận biết ở đây được GHI RÕ TRONG NGOẶC KÉP (ti) là TÔI THỞ RA DÀI, chứ không phải là HƠI THỞ RA DÀI.

Để dễ hình dung hơn, HT xin ví dụ thế này :

Đang xem youtube về kỹ thuật tâng bóng, HT nói với con trai, “này con, hãy theo dõi cầu thủ tâng bóng kìa”

Các bạn nghĩ sao, nó sẽ theo dõi TRÁI BÓNG, hay theo dõi SỰ TÂNG BÓNG? Nó theo dõi sự chuyển động của quả bóng, hay nó theo dõi cả những động tác, những kỹ thuật, những chuyển động của cầu thủ đang tâng bóng? Đối tượng của sự theo dõi của nó là TOÀN BỘ SỰ KIỆN TÂNG BÓNG hay là CHỈ TRÁI BÓNG.

Liệu nó chỉ theo dõi TRÁI BÓNG thì có đúng không?

Cũng vậy, liệu chỉ lấy HƠI THỞ làm đối tượng thì có đúng theo như được mô tả trong bài kinh không?

Hạnh Trương

Cũng vậy, trong phạm vi của phần quán thân, có đoạn :

108. Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu gacchanto vā “Gacchāmī”ti pajānāti, ṭhito vā “ṭhitomhī”ti pajānāti, nisinno vā “Nisinnomhī”ti pajānāti, sayāno vā “Sayānomhī”ti pajānāti. Yathā yathā

vā panassa kāyo paṇihito hoti, tathā tathā naṃ pajānāti

(Hòa Thượng Minh Châu)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”, hay đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”, hay ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”, hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.

Thì đối tượng của pajānāti ở đây không phải là cái chân, không phải là cái bước chân, mà là nguyên cả cái “tôi đi” …..

Hạnh Trương Thế nào là nguyên cả cái TÔI ĐI được lấy làm đối tượng của pajānāti? Cái này trong PLCD có một vài vị đã có kinh nghiệm, rất mong được các vị chia sẻ thêm.

Mấy vị này đã chia sẻ từ lâu rồi, nay HT xin mượn lại. Một số đạo hữu khác cũng kinh nghiệm cái này rồi🙂
http://www.facebook.com/groups/paliviet/permalink/129043003849486/?comment_id=129054450515008&offset=0&total_comments=22

PALI-Chuyên Đề

Sư Indacanda viết : Sư trình như vầy: “Lúc ấy tôi đang kinh hành thì tôi thấy t

ôi tách làm hai: một cái tôi đang đi và một cái tôi khác (đi phía sau ở phía trên một chút) nhìn xem cái tôi đang đi. Từ đó về sau, trước khi đi kinh hành thì tôi tác ý một cái thì một cái t…

Hiếu Nguyễn Khi lấy đối tượng là “Tôi …” thì mình như tách lìa ra thành người thứ 3 đứng quan sát, nó “khách quan” hơn. Em cũng cảm giác là việc quan sát nó “bám nhẹ” hơn vào đề mục, tổng quát hơn, không đi sâu vào chi tiết bằng.
Khi lấy đối tượng là “Hơi thở” hoặc “cử động” v.v… mình sẽ có xu hướng quan sát chi li từng li từng tí.

Đây là kinh nghiệm của em ạ.

Hạnh Trương

Còn bây giờ là một đoạn kinh ngắn trong Tăng Chi, mô tả hiện tượng này :

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.

11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngườ

i quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

VÍ NHƯ,…., MỘT NGƯỜI QUÁN SÁT MỘT NGƯỜI KHÁC…

Thien Nguyen Ba Em thấy cang phan tich van de hơi thở, cang có lợi cho viec thuc hanh.

Hạnh Trương

Tại sao HT lại nêu và nhấn mạnh việc không phải lấy hơi thở làm đối tượng. Lý do là KHI NGỒI KIẾT GIÀ, NHẮM MẮT mà lấy HƠI THỞ LÀM ĐỐI TƯỢNG thì rất dễ làm cho luồng hỏa hầu được kích hoạt.

Với một số vị có thiên hướng về Kundalini, thì nó

sẽ được kích hoạt rất mạnh và vị ấy rơi vào đủ thứ có thể rơi…. dễ tai nạn là ở chỗ này đây. Chỉ có rất ít người có đủ kỹ năng, kỹ thuật và kiến thức về Kundalini để có thể khống chế và sử dụng nó (cho mục đích nào đó), mà không bị nguy hiểm, bị phản ứng phụ.

Và vô hình chung, khi tập như vậy, các vị đang tu tập theo PGNT lại rơi vào thiền ngoài Phật Giáo với các công năng không phải do tâm thanh tịnh mà có, mà do sự hoạt động mạnh của luồng hỏa hầu mà có.

Nói xéo qua vấn đề này chút để có thể quay lại các đề mục tiếp theo…

Hiếu Nguyễn Nhân chuyện ở comment trên của anh Hạnh, mọi người có thấy khi ngồi trong kinh có đề cập gì tới nhắm mắt hay mở mắt không ạ?

Karmalaw Net

KN vẫn luôn nghi ngờ chỗ dịch: “thở ra TÔI biết thở ra dài” và “quán THÂN TRÊN THÂN”. Bởi vì theo rất nhiều trường phái tu tập, NT cũng như PT, hoặc dịch lại kinh theo kiểu “An Ban Thủ Ý” theo cách bên Làng Mai,..thường rất nguy hiểm chỗ nà

y. Thay vì nhấn trọng tâm chỗ BIẾT thì đa số lại nghĩ TÔI BIẾT, hoặc TÔI biết. Còn phần “quán thân trên thân” cũng vậy, đa số dc dạy là quán tưởng 1 cái thân nào đó (như quán tử thi ngoài nghĩa địa), ko phải THÂN NÀY tức là cái thân hiện đang hiện tiền ở đây lúc này.

Theo KN thì.
Các kết quả quán chú trọng Tôi, cho kết quả An Lạc và Nhất Niệm, nhưng không có thể dẫn tới định.
Các kết quả quán tử thi không đặt hoàn toàn ngay trên thân này sẽ không tự động dẫn tới Niệm Thọ.

Hạnh Trương Đó là lý do tại sao PLCD lại phải phân tích kỹ từng câu, từng chữ trong bài kinh là như vậy, sai 1 ly là đi luôn…

Với pháp hành thì không thể cẩu thả, tùy tiện được. Có thể cách mà một vị nào đó sáng tạo ra phù hợp với vị đó, cũng chẳng sao, đó là việc của vị ấy và những người coi vị ấy là Thầy.
Còn với những ai thực sự quan tâm tới những gì mà đức Phật đã chỉ dạy thì buộc phải có thái độ và cách tiếp cận hết sức nghiêm túc và cẩn trọng với từng câu, từng chữ trong kinh. Có thể phải đem chính mình ra làm vật thí nghiệm để kiểm chứng cách hiểu của mình, phải đem lý luận của mình ra để các vị khác phản biện, kiểm tra, đối chiếu. Có như vậy thì họa may chúng ta mới tiếp cận được gần hơn với những gì đã được đức Phật chỉ dẫn hơn 2500 năm.

Phạm Doãn

TÓM TẮT THẢO LUẬN giúp mọi người cùng nắm VẤN ĐỀ.

Thực hành quán hơi thở

– Lấy HƠI THỞ làm đề mục. Đề mục hơi thở ở đây giống như một điểm để nương tựa tức không phải là đối tượng hay mục đích chính, mà chỉ là PHƯƠNG TIÊN

– Mục Đích thực sự là tạo ra: CHÁNH NIỆM trên BỐN NIỆM XỨ (tức làm hoàn chỉnh bốn sự thiết lập Niệm). Bài kinh còn nói rõ sự thiết lập niệm này rất cần trong tương lai để chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian cũng như để tạo ra Niệm Giác Chi (một trong bảy yếu tố để giác ngộ)

Từ trước đến giờ, thực hành quán niệm hơi thở đều được dạy là theo dõi (với sự chú tâm) “hơi thở” lúc vào, lúc ra. Tuy nhiên phân tích ý nghĩa của cả hai bản dịch chúng ta thấy dường như có sự chênh lệch giữa việc thực hành (theo dõi hơi thở- itself)) và ý nghĩa kinh (nhận biết toàn diện SỰ thở vào, thở ra)

Hòa Thượng Minh Châu dịch:
Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”.
Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”.
Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”.
Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”.

Sư Indacanda dịch:
Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]
Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’
Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’

Căn cứ trên cả hai bản dịch, qua sự liên kết với các trải nghiệm của Sư Indacanda, cô Nguyên Hương, các đạo hữu, một đoạn kinh tăng Chi v.v…Đạo hữu Hạnh Trương có suy nghĩ và đã đặt vấn đề về sự tu tập Niệm Hơi Thở, cho đúng với ý nghĩa trong Kinh hơn Đó là vấn đề: Cái nào đúng:
– Nhận biết riêng về Hơi Thở
– Hay nhận biêt toàn diện về Sự Thở

Đa số mọi người ở đây, đều từng có tu tập với các vị thày hướng dẫn khác nhau. Thiết nghĩ, mỗi người đã có pp tu tập rồi, thì cứ áp dụng theo cách tu tập của mình. NGOÀI RA, những ai còn đang học hỏi kinh điển, hoặc những ai có nghi vấn về sự thực hành của mình, thì có thể tham khảo thêm đề tài này ở các comments vừa được post.

Đơn Sa

Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]
Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’
Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết

: ‘Tôi thở vào ngắn.’

Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’[10]
(Theo bản dịch của Sư Indacanda)

DS không rõ trong nguyên gốc thế nào và cách cắt nghĩa như thế nào trong Pali ? Trong tiếng Việt thì theo đoạn trên DS có chú ý đến sự xuất hiện của các danh từ, động từ, tính từ, trạng từ:

– Có câu dùng tính từ, có câu dùng trạng từ. Ví dụ: “Tôi thở ra dài” (dài là tính từ) chứ không phải: “Tôi thở ra một cách dài” (kiểu trạng từ); “Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào” (có cảm giác: cụm trạng từ). Trạng từ (diễn đạt trạng thái) và Tính từ (mô tả tính chất) được dùng như vậy có ý gì không?

– Trong câu động từ có khi là dạng hiện tại, có khi là dạng tương lai. thì hiện tại đi với tính từ, thì tương lai có trạng từ.

– “Tôi thở”, “tôi sẽ thở” được đặt sau các cụm từ: “nhận biết”, “có cảm giác toàn thân”, “trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân”, có phải là cái đặt trước sẽ quan trọng, được quan tâm, chú ý hơn cái đặt sau ?!

Hạnh Trương

Nhân có DS hỏi, thì chuyển qua thảo luận về pháp hành cụ thể hơn cho phần này nhé.
Bắt đầu từ câu đầu tiên :

Idha bhikkhave bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāyaparimukh

aṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati, satova (Sato – Sī, Syā) passasati

(I) Sư Indacanda (đoạn tương tự từ bài kinh NTXTN):
Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

(II) Ngài Minh Châu:
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra.

Chỗ này đã gặp vấn đề lớn ở câu ” thiết lập niệm luôn hiện diện” (Sư Indacanda ) và ” an trú niệm trước mặt” ( Ngài Minh Châu)

Câu “an trú niệm trước mặt” rất được hoan nghênh bởi các trường phái tu năng lượng và công năng, vì nó giúp cho việc xuất hiện các hiệu ứng quang học và năng lượng khá thuận lợi.

Sau khi phân tích và tìm hiểu ý nghĩa của cả bài kinh, ý nghĩa của niệm, tỉnh giác và nhiệt tâm, thì HT thấy cách dịch (I) gần với nội dung của pháp hành hơn.

Vì sao, vì Niệm là pháp căn bản (các pháp lấy niệm làm tăng trưởng), làm gì thì trước khi làm cũng cần có niệm đã được thiết lập (rồi sau đó là duy trì ). Ở đây cũng vậy, sau khi đã làm đủ các việc cần thiết để có thể bắt đầu thực hành phần quán thân trên thân, vị ấy bắt đầu vào thực hành bằng cách thiết lập niệm và làm cho nó luôn hiện diện, và sau đó, với niệm đã được thiết lập thì vị ấy thở vô, thở ra…. trong khi thở vô, thở ra vị ấy duy trì niệm đã được thiết lập….

Phạm Doãn
VỀ SỰ TÁCH BIỆT CỦA NGÃ

Tôi cũng từng hỏi ở PLCĐ và mới đây hỏi sư cô Nguyên Hương, rằng tại sao các thông tin về dạy thực hành Chánh Niệm thì có rất nhiều mà sự mô tả trạng thái khi “Chánh Niệm lúc thành công” lại dường như không thấy! Ý muốn nói, ngoài trạng thái nhận biết rất rõ bốn niệm xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) thì trạng thái Chánh Niệm có kèm theo những trải nghiệm gì khác đặc biệt không?
Ai ngồi thiền, lúc quan sát Tâm của chính mình, cũng có trải nghiệm về trạng thái “một người” quan sát “một người”.
Hoặc ngay lúc chấm dứt ngồi thiền, có người vẫn có cảm giác mình đang quan sát mình. Tôi và thân thể của Tôi là hai cái gì đó khác nhau!
– Sư Indacanda (lúc đi thiền hành) cũng có mô tả về cái cảm giác như có một “cái tôi” khác nữa quan sát “cái tôi” của mình.
Cô Nguyên Hương (lúc ngồi thiền):
– Vâng, những gì mà ‘hành giả” Indacanda nói là có thể kinh nghiệm được. Khi sati & sampajana đã được phát triển hoàn hảo, hành giả sẽ không cần phải tác ý trước mỗi động tác. Mọi chuyện xẩy ra gần như tự động và cực kỳ chính xác. Người quan sát như tách ra và ‘nhìn’ nguời hành động rất khách quan từ bên ngoài. ở giai đoạn này hành giả cảm thấy cực kỳ thoải mái, thiền không còn là ‘hành’ nữa mà là một lối sống rất tự nhiên tràn đầy phúc lạc. Mong rằng các Phật tử đều có thể nếm trải pháp tu tuyệt vời này!

– PD cũng đã có trải nghiệm tương tự. Sau khi kết thúc buổi thiền với cảm giác sảng khoái, thì cái cảm giác sảng khoái tồn tại rất lâu, không mất đi. Sáng hôm sau, khi làm việc, tiếp xúc với bệnh nhân, mình thấy rõ là mình đang quan sát mình. Như có một ý thức chủ thể nào khác, tồn tại ở đâu đó, nhìn xuống, thấy rõ từng động tác cơ thể của mình, thấy rõ từng ý niệm sắp khởi lên trong tâm của mình. Tất cả rất tự nhiên không có một nổ lực nào cả! Tự nó dính vào mình!

Như vậy, một “hiệu ứng phụ” của thiền Chánh Niệm trong Đạo Phật (hoặc thiền trong một pháp môn nào khác) có thể xảy ra đó là SỰ TÁCH BIỆT CỦA NGÃ. Việc theo dõi tâm của mình, hay theo dõi tất cả thân thọ tâm pháp, miên mật lâu ngày có thể biểu hiện ra sự tách biệt của ngã. Trạng thái này, đối với Đạo Phật, sẽ giúp hành giả Chánh Niệm trên bốn niệm xứ, một cách thoải mái mà không cần một nổ lực nào cả!

TRỞ LẠI đề tài thảo luận.
Có phải, khi thực hành bài kinh Anapanasati thì “nhận biết toàn diện SỰ THỞ” thì đúng ý Kinh hơn và có thể đem lại Chánh Niệm nhanh hơn và <một> biểu hiện của nó là sự Tách Biệt của “ngã”.
Cái này rõ ràng là ta phải tự mình kiểm chứng!
Mong rằng mọi người ở đây cùng đóng góp những trải nghiệm của mình về trạng thái CHÁNH NIỆM cho thảo luận này.

Hạnh Trương

Một điểm đặc thù của trạng thái này là … sướng🙂, nói dân dã là như vậy, và càng đi càng khỏe ( nếu đi kinh hành ), và thích đi, thích ở cái trạng thái đó, cho tới khi nào nghiệp nó can thiệp khiến trạo hối nổi lên hất người quán sát đi
Tình trạng thì nó đúng như Sư Indacanda và Sư cô Nguyên Hương và BS Phạm Doãn đã mô tả, hoặc như trong đoạn kinh Tăng Chi HT đã dẫn, cái biết nó dường như là đứng ngoài đối tượng được quán sát (là toàn thân hành giả đang làm gì đó).
Có lần HT gợi ý điều này cho một đạo hữu, vị ấy lập tức thử nghiệm và sau khi nhận ra trạng thái này, vị ấy gần như bật khóc… vị ấy nhận ra có cái ngã đang cúi xuống và nhận ra “đó không phải là tôi”…
Thử nghiệm này làm không khó, ví dụ khi HT đang gõ phím đây, theo được mô tả trong bài kinh, thì đang làm gì thì tuệ tri thân thể đang làm việc đó, thay vì HT chỉ để ý quán sát hai tay đang gõ phím, thì HT thấy nguyên thằng Hạnh nó đang làm việc đó.

Có sự khác biệt rất rõ giữa hai cách này, quý vị cứ thử mà xem. Một cách càng làm càng khỏe, một cách càng làm càng mệt.

Phạm Doãn

Khi tôi trải nghiệm sự tách biệt của ngã, thì thời đó tôi chưa biết bài kinh Quán niệm Hơi Thở, chưa rõ biết khái niệm về CHÁNH NIỆM trong Đạo Phật.
Tôi chỉ cố làm yên lặng Tâm bằng cách quan sát chính nó, hoặc đôi khi đặt niệm trước mặt, h

oặc đôi khỉ rảo qua toàn bộ cơ thể mình.
Như vậy tôi nghĩ rằng, ngoài phương pháp thực hành chánh niệm của Đạo Phật, có nhiều kiểu thiền khác, có thể đưa đến trải nghiệm về sự tách biệt của ngã!
Tôi tìm các tài liệu tâm lý học về các trải nghiệm tâm linh thì có được một số thông tin về sự tách biệt của ngã (được cho là trải nghiệm Kundalini).
Về sự tách biệt của ngã, các nhà tâm lý học gọi đó là trạng thái “detachement”, hoặc ý thức chứng nhân (witness consciousness), hoặc với sự tách biệt có cường độ mạnh hơn nữa thì gọi là “dissociation”:

– Sự tách biệt của Ngã (detachement)
Trong cơn bùng dậy của Kundalini, ta thấy dường như ta là ai đó từ bên ngoài, đang quan sát rất kĩ từng cảm xúc, từng ý nghĩ, từng hành động của ta. Hiện tượng ý thức lạ này rất phổ biến và được gọi là ý thức chứng nhân (witness consciousness). Đạo Sufis gọi là “ngọn lửa tách biệt” Tư duy bộ não vẫn hoạt động bình thường bên cạnh ý thức chứng nhân.

– Hiện tượng phân ly (dissociation)
Khi ngã được tách rời khỏi mọi cảm giác và hành động của bản thân, ta rơi vào ý thức nhân chứng, ta ở ngoài ta quan sát ta. Nếu ta không quá sợ hãi với tình trạng kì cục này thì không sao. Nếu nỗi sợ hãi (từ ý thức hay vô thức) xuất hiện, cấu trúc tâm thần sẽ bị chấn thương, gây ra bệnh hysterie hoặc tâm thần phân liệt (schizophrenia), tức là điên. Rất nhiều người thực hành Kundalini thiếu bản lãnh trong tình trạng ý thức này tự cho mình bây giờ đã là siêu nhân, đấng tiên tri hoặc đấng cứu thế. Tuy nhiên thái độ lệch lạc này có thể dần dần biến mật và tâm trí bình thường lại…”
Đọc toàn bộ tài liệu này ở đây:
http://bsphamdoan.wordpress.com/cac-bai-vi%E1%BA%BFt-cu/th%E1%BB%83-nghi%E1%BB%87m-kundalini/

– Thể-nghiệm Kundalini

bsphamdoan.wordpress.com

Thể-nghiệm Kundalini Kundalini Kundalini tượng trưng bằng hình ảnh hỏa xà (con r…See More

Hạnh Trương Vậy là chỗ này hơi nhạy cảm rồi đây🙂 , nó có một cái đi hẳn ra ngoài làm chứng nhân (cái này dân mật tông chứng nhiều) và cái DƯỜNG NHƯ là đứng ngoài ….
Cần phải phanh chỗ này lại chút ạ… đứng ngoài với dường như là đứng ngoài ?

Nguyễn Viết Huy

Cháu xin góp một đoạn về có phải Hơi Thở làm đối tượng hay không, cháu tìm thấy trong bài Kinh này:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-54.htm (6. VI. Arittha)
Tóm tắt đại ý: Một vị Tỳ Kheo mô tả mình tập niệm hơi thở như sau:

“Bạch Thế Tôn, đối với các dục (kàma) quá khứ, con đoạn trừ dục tham (kàmacchanda). Ðối với dục tương lai, con từ bỏ dục tham. Ðối ngại tưởng (pàtighasanna), đối với nội ngoại pháp, được khéo nhiếp phục nơi con. Chánh niệm, con thở vô. Chánh niệm, con thở ra. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra.”

Nhưng Thế Tôn phủ nhận: “Ðây cũng là niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này Arittha, nhưng Ta tuyên bố là không phải. Này Arittha, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào là niệm hơi thở vô, hơi thở ra, được phát triển, được làm cho viên mãn. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

Và giải thích rõ hơn:”Ở đây, này Arittha, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống, ngồi kiết-già:… “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Như vậy, này Arittha, niệm hơi thở vô, hơi thở ra được phát triển, được làm cho sung mãn.”

Như vậy có vẻ như Hơi Thở không phải là đối tượng đúng như anh Hạnh Trương nghi vấn, và có vẻ như quá trình thở và quán ly dục, ly tham mới là đối tượng.

Tuong Ung – Tap 5 – Chuong 54

www.budsas.org

Phạm Doãn
Về sự AN TOÀN
Sự thực hành Thiền sẽ an toàn, nếu đúng Chánh Pháp, không vượt cấp, bỏ giai đoạn. Thực hành Chánh Niệm chỉ là một pháp Quán, dựa trên sự tỉnh táo theo dõi hơi thở (hoặc sự thở), không có tập trung

trên một điểm cố định (như đầu mũi) thì theo tôi không có nguy hiểm gì cả!
Tu tập theo Chánh Pháp là tu tập có MỤC ĐÍCH đoạn trừ các lậu hoặc làm sạch các ô nhiễm của tâm. Các giai đoạn Chánh Niệm hay Thiền Định chỉ là “biểu hiện” của sự làm sạch tâm ít hay nhiều! Đây là nền tảng của Đạo Phật. Nếu động lực tu tập của thiền sinh lấy sự làm sạch ô nhiễm làm căn bản, không dựa vào dục vọng (khao khát trở thành siêu nhân) thì luôn an toàn.
Về sự NGUY HIỂM
Khi tu tập loại Thiền có sự tập trung quá nhiều, nhất là khi tập trung trên một điểm cố định (Vd: tập Thiền Định). Hoặc tu tập không chú ý đến việc thanh tẩy làm sạch tâm. Hoặc tu tập với động lực không trong sạch (khao khát có những năng lực hơn người v.v…) thì thiền sinh phải đối mặt với sự nguy hiểm. Ngay những trung tâm thiền có tiếng hiện nay, thiền sinh (có thày hướng dẫn) cũng vẫn xảy ra các trường hợp loạn tâm, hoặc các bệnh tâm thần cũ đã khỏi, nay lại tái phát. Lúc đó không những có trạng thái Dissociation mà còn có thể trầm trọng hơn nữa là Schizophrenia (điên)

Hạnh Trương Có dấu hiệu nào báo trước sự nguy hiểm đang cận kề khi tu định sai không BS nhỉ?

Hạnh Trương to Thien Nguyen Ba

Hỏi
<<Câu hỏi của em là:

1/ Những câu hướng tâm, tạo ý trước ở trên cũng là dùng để “thiết lập niệm” phải không?
2/ Chúng ta vừa thở vô, vừa thở ra trong khi ta vừa hướng tâm phải không?>>

1. Đúng, chúng được dùng để thiết lập niệm .

2. Không, trong khi thở vô, thở ra, thì phải LÀM CÁI VIỆC CẦN LÀM theo như đã được thiết lập VÀ duy trì liên tục việc đó. CHỈ KHI NÀO lãng đi, bị thất niệm thì nhắc lại , thiết lập lại.

– Theo ý riêng của HT thì việc thiết lập này được thực hiện ở khoảng giữa của hơi thở ra và hơi thở vào ( thở ra tự nhiên thì nó sẽ ngưng một chút, ở cái khoảng ngưng đó mình mới thiết lập niệm.

Phạm Doãn to Hạnh Trương:

Xin phép được ngoài lề một chút. Mọi sự nguy hiểm liên hệ đến “Thiền” (nói chung) thường liên hệ đến cái gọi là luồng Hỏa xà (cái này thày HT chuyên môn hơn). Bệnh nhân của tôi có người tập thiền, nhập viện vì xuất tinh liên tụ

c đến kiệt sức. Có người nghe tiếng nói của người khác, hoặc nhiều người khác trong đầu, không cách gì bắt nó im đi được. Chưa chết, chưa gọi là điên. Nhưng có thể xem đó là một trong những dấu hiệu báo trước!

Hạnh Trương Thế hiện tượng dễ nổi sân, đôi khi bột phát và rất mạnh rồi lại bình thường trở lại, có thể là một dấu hiệu không ạ?
Ngoài những cái BS đã nói (thấy mà sợ), em còn thấy nhiều vị dễ nổi sân với nhiều chuyện mà người thường cũng chẳng sân như thế.
Theo kinh nghiệm của em, thì vụ sân này do cái lò sinh Kundalini đã được bật mà “gạo” cho nó thì vì lý do gì đó mà thiếu ( thiếu thật, đã bị dùng quá nhiều..) cho nên bị “nóng”…

Thôi, không nói vụ này nữa ạ, nói ra tự thấy sợ rồi đó ạ….

Vo Thi Huyen Chi Vậy Câu hỏi đặt ra kế tiếp là : trong trường hợp có vấn đề lúc tập thiền, thì nên làm gì? (Có nên tách ra thành một chủ đề riêng ko ạ?)

Phạm Doãn to ‎Vo Thi Huyen Chi :Tách DOC rồi cho nó một chủ đề riêng!

Phạm Doãn Đang trong sự tĩnh lặng (Thiền) xuất ra môi trường động bên ngoài mà không chuẩn bị, xuất ra bất ngờ nhanh quá (như có người bất ngờ gọi, gõ cửa v.v…). Thì sự thay đổi trạng thái đột ngột này làm nhiều người dễ bị kích thich, nổi giận!

Thuận Pháp Dhammiko to Hạnh Trương: <<Theo ý riêng của HT thì việc thiết lập này được thực hiện ở khoảng giữa của hơi thở ra và hơi thở vào ( thở ra tự nhiên thì nó sẽ ngưng một chút, ở cái khoảng ngưng đó mình mới thiết lập niệm>>

Chỗ này TP thấy sao sao ấy a HT? Khoảng giữa của hơi thở ra và hơi thở vào thì hơi thở coi như biến mất thì thiết lập niệm ở đâu? Niệm muốn có thì phải có đối tượng của nó mà. Theo TP ở khoảng trống này thì thiết lập Tuệ mới đúng hơn, tức tuệ thấy Nhân Quả: Hơi thở biến mất là nhân thì tâm không ghi nhận được nó nữa là quả.

Hạnh Trương Có dùng hơi thở làm đối tượng để thiết lập niệm đâu, nên khi không thở là thân nó an nhất, thân nó an thì tâm nó cũng an, khi đó mới thiết lập một niệm, mới hướng tâm, thì việc đó nó sẽ hiệu quả hơn. Chỉ là một mẹo thôi🙂

Hạnh Trương Thấy TP hỏi mới chợt nhận ra là chúng ta đã nghiên cứu bài kinh Đoạn Giảm vội vàng, giờ chắc phải quay lại, vì bài kinh đó mô tả các pháp hành rất căn bản, nền tảng. Chưa hiểu thì sẽ không hiểu được cách thực hành ở MN10 và rất nhiều pháp hành khác sẽ xuất hiện thường xuyên trong Chánh Tạng.

Các đạo hữu nào quan tâm tới pháp hành thì đọc kỹ lại comment này của Ven Adhiṭṭhāna, HT sẽ tranh thủ tạo một subdoc tương ứng để làm rõ thêm về đề tài “khởi tâm, hướng tâm”.

http://www.facebook.com/groups/paliviet/permalink/326655474088237/?comment_id=327725817314536&offset=0&total_comments=38

PALI-Chuyên Đề

Hiếu Nguyễn Vâng anh tạo đi ạ, mấy cái cơ bản này hay bi bỏ qua lắm. Tâm chưa trong sạch, chưa được định hướng tốt, chưa nhu nhuyến dễ sử dụng thì làm sao xài được.

Hạnh Trương Anh đang làm, nhưng nó lại có vài chỗ hơi tế nhị, đang nhờ các Sư giúp đỡ một chút

Thien Nguyen Ba

Một đề mục của hơi thở thường có 2 giai đoạn là thở ra và thở vào.

Ví dụ:
“Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

Như vậy, việc chúng ta hướng tâm, thiết lập niệm, tập luyện ở giai đoạn hơi thở ra như sử dụng câu: ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’

Hoặc là chúng ta hướng tâm, thiết lập niệm, tập luyện ở giai đoạn hơi thở vào như sử dụng câu: ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở vào;’

Hay là chúng ta hướng tâm, thiết lập niệm, tập luyện ở cả hai giai đoạn hơi thở vào và hơi thở ra như sử dụng cả hai câu:
‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

Đào Trọng Trác Chỗ này Thiện lưu ý theo mình là 4 giai đoạn chứ không phải 2 đâu :
1) Trước khi thở ra lưu ý đến cảm giác toàn thân (mọi cảm giác hiện có)
2)Tôi sẽ thở ra.
3)Sau khi thở sẽ có khoảng dừng cũng lưu ý đến cảm giác toàn thân.
4)Tôi sẽ thở vào….nếu khi bắt đầu thở ra bằng miệng và thở vô bằng mũi sẽ thấy rõ điều này…..



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s