KINH MN 11 – TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG (CULASIHANADA SUTTA)

I. BẢN KINH MN 11 – Tiểu Kinh Sư Tử Hống (Cūlasīhanādasutta)

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung11.htm

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Ñanamoli Thera & Bhikkhu Bodhi

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.011.ntbb.html

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/011.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 11

1. Giảng Kinh Sư Tử Hống – Hòa Thượng Thích Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-011b.htm

2. Giảng kinh Sư Tử Hống – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-011.htm

3. Toát yếu Kinh Sư Tử Hống – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-02.htm

4. KINH SƯ TỬ HỐNG – Phẩm NHÂN 9 -TRUNG A HÀM 103 – Việt dịch và Chú Giải :Thích Tuệ Sỹ 

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham103.htm

III. ĐỀ CƯƠNG

  • Tìm hiểu ý nghĩa của cụm từ mang tính ẩn dụ “Sư Tư Hống”.
  • Tìm hiểu tính đặc biệt quan trọng của bài kinh. Có phải bài kinh đưa ra cách xác nhận Đạo Phật nguyên thủy hay không?
  • Tìm hiểu các bản kinh A Hàm tương đương với kinh Sư Tử Hống.

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn Các thành viên PLCĐ kính mến!
Chúng ta sẽ quay lại việc học các bài kinh Trung Bộ nhé.
Sư Indacanda chắc cũng đang theo dõi việc học kinh của chúng ta đấy!
– Bài kinh MN11 (Tiểu Kinh Sư Tư Hống) là một bài kinh rất đặc biệt. Sau khi thảo luận chúng ta sẽ hiểu, tại sao Đức Phật dạy các đệ tử phải phải rống lên “tiếng gầm Sư Tử” khi thuyết bài kinh này với ngoại đạo!
– Kính mời các đạo hữu tham gia thảo luận tích cực bài kinh rất hay này, để nâng cao tinh thần học hỏi của Pali Chuyên Đề!

Huỳnh Phúc Kiến Con chỉ mới tìm hiểu vỀ KINH Pàli, nên thấy nó thật wá khó hiểu😐

Chua Nhu Phap Kính gửi câu hỏi thảo luận đến Qúy Đạo Hữu trong PALI-Chuyên đề.
Đức Phật tuyên bố trong bài kinh Tiểu kinh Sư tử hống: “chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn” Vậy “ở đây” là ở đâu ? và “Sa-môn” chỉ cho ai? Xin cùng làm sáng tỏ ý nghĩa từ “Sa-môn” mà Đức Phật dùng? và từ này được dùng trong thời Đức Phật tại Ấn Độ như thế nào?
Xin sadhu sadhu sự đóng góp thảo luận của Qúy Đạo Hữu.

Tiểu Lâm đây là đoạn pali theo câu hỏi của Chua Nhu Phap ạ!

“Idheva bhikkhave samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo, suññā parappavādā samaṇebhi aññehī”ti (Samaṇehi aññeti – Sī, I, Ka; ettha aññehīti sakāya paṭiññāya saccābhiññehīti attho veditabbo)

Theo sự hiểu biết ạ, <ở đây> ý nói chính trong giáo pháp của Đức Phật với những bát thánh đạo, tứ diệu đế ..v,.v.; từ <sa-môn> (samaṇo) là vị tu sĩ, vị xuất gia nhưng nếu theo ý nghĩa này thì tính ra ngoại đạo cũng có người sống không gia đình như vậy sa-môn của ở đây là bốn bậc thánh nhân mà ngoại đạo không thấy, đó là sotapatti- vị tu đà hoàn, sakadagami-vị Tư đà hàm, anagami-vị bất lai, arahanta bậc đã đắc Niết bàn. kính!!!

Ven Adhiṭṭhāna Tiểu Lâm bravo ! tiếp đi ! câu hỏi còn vế sau nữa kìa😛

Hạnh Trương Ven Adhiṭṭhāna chơi khó Sư Tiểu Lâm nha, hehe

Ven Adhiṭṭhāna Lỡ hứa là sẽ câu hỏi của cô Chua Nhu Phap nên đành viết vậy😀

‘Idheva samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo, suññā parappavādā samaṇebhi aññehī’ti”

Ở đây (ngay trong giáo pháp này), có sa-môn, có sa-môn thứ hai ở đây, có sa-môn thứ ba ở đây, có sa môn thứ tư ở đây, ngoại giáo rỗng không vì có những sa môn khác (tự dịch theo cái hiểu của cá nhân, không dùng bản dịch)
Phân tích :
– Idheva (Idha + eva) Ở đây ngay trong giáo pháp này
chữ samaṇo – sa môn trong câu trên lần lượt được chú giải ghi là
– Samaṇo – sotāpanno – bậc tu-đà huờn (người bước vào tầng Thánh đầu tiên)
– Dutiya samaṇo – sakadāgāmī – bậc tư – đà –hàm (người bước vào tầng thánh thứ hai)
– Tatiya samaṇo – anāgāmī – bậc a-na-hàm (người bước vào tầng thánh thứ ba)
– Catuttha samaṇo – arahā – bậc A-la-hán (người bước vào tầng thánh thứ tư)
– Suññā (căn śun + ya) sử dụng như một tính từ (bổ nghĩa cho chữ parappavāda) có nghĩa là rittā tucchā – trống rỗng, không có.
– Parappavāda – (para + pavāda) – có nghĩa là :“Ito bāhirānaṃ paresaṃ vādā parappavādā nāma – lời dạy bên ngoài của những người khác gọi là parappavādā – ngoại thuyết, ngoại giáo”.
– Samaṇebhi aññehi – hai chữ này được chia theo cách thứ 3 số nhiều (cũng có thể là cách thứ năm) vì là cách thứ 3 hay cách thứ năm còn có ý nghĩa chỉ nguyên nhân, 2 chữ này nên được hiểu như sau: “vì (có) những sa môn khác”.

Nhưng nếu không nhờ sự hỗ trợ của chú giải (aṭṭhakathā) làm sao giải quyết với ngữ nghĩa của những từ này đây ? (bày trò)

Trong Dhammapada câu 265, phẩm Dhammaṭṭhavagga, Đức Thế Tôn đã định nghĩa chữ Samaṇo như sau :

Yo ca sameti pāpāni, aṇuṃ thūlāni sabbaso;
Samitattā hi pāpānaṃ, ‘‘samaṇo’’ti pavuccati
Người nào đã lắng dịu các ác nghiệp, tất cả (các ác nghiệp) dù thô hay là tế, các ác pháp được lắng dịu, được gọi là samaṇo (sa-môn)

Tiếp tục với định nghĩa với câu thứ hai trong câu 388, phẩm Brāhmaṇavagga
samacariyā samaṇoti vuccati – có đức tánh thanh tịnh được gọi samaṇo (sa-môn)

* Phần ngoài lề của bài kinh:
Quay ngược thời gian trở về với Ấn Độ xưa, mãi cho đến giai đoạn Aryan và Upanishad, thì tại Ấn Độ xưa mới xuất hiện danh từ gọi “Śramaṇa (Saṅkrit) hay Samaṇa (Pāḷi). Nguyên nhân xuất hiện danh từ này là vì trước đây, ở giai đoạn Brāhmaṇa là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của giai cấp Bà-la-môn (Brāhmaṇa) về thuyết “Brahma- Phạm chủ” và “Atman – thuyết tự ngã” và thuyết nói về sự phân chia xã hội thời đó thành bốn giai cấp, v,v… Nhưng đến giai đoạn Aryan và Upanishad, tầng lớp trí thức trong xã hội bấy giờ, họ không chấp nhận các học thuyết mang tính truyền thống như vậy; và thế là họ từ bỏ cuộc sống gia đình khi còn rất trẻ, đi lang thang và xin ăn, cuộc sống của họ không chỉ đơn điệu như vậy mà là với mục đích tìm kiếm sự giải thoát tuyệt đối. Đó là vì sao mà từ Śramaṇa được định nghĩa là “person who strives (circle of rebirth) – người đấu tranh hay chống chọi lại vòng luân hồi.
Có rất là nhiều điểm khác nhau giữa Śramaṇa và Brāmaṇa, 1 số điểm điển hình là: Śramaṇa từ bỏ gia đình từ lúc còn rất trẻ, trong khi Brāhmaṇa từ bỏ gia đình ở giai đoạn -Vanaprastha aśrama: là giai đoạn khi họ đã xong công việc và trách nhiệm gia đình khoảng từ 55 đến 81 tuổi, v.v..
Ngoài Đức Thế Tôn là 1 vị Śramaṇa nổi tiếng thời đó, còn có các śramaṇa nổi tiếng khác như : Pūraṇa Kāśyapa, Maskari Gośālīputra, Ajita Keśa Kambala, Kakuda Kātyāyana, Sañjayi Vairaṭṭīputra, và Nirgrantha Jñātaliputra,v.v….

Chua Nhu Phap Sadhu sadhu Sư Ven Adhiṭṭhāna.

Hiếu Nguyễn Ven Adhiṭṭhāna quá là xịn ha ha!

Chua Nhu Phap Hỏi thêm Sư Ven Adhiṭṭhāna hoan hỷ chia sẻ mối liên hệ giữa hai từ Samaṇa (sa-môn) và saṃsāra (dòng sanh tử) theo văn nghĩa Pāḷi. Và tu sĩ Phật giáo hôm nay nói riêng và tu sĩ nói chung trong tôn giáo trên thế giới có được gọi là samaṇa không thưa sư? Xin Qúy Đạo Hữu cùng đóng góp chia sẻ. sadhu sadhu lành thay.

Hạnh Trương Evaṃvādino bhikkhave aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā “Kiṃ panāvuso ekā niṭṭhā, udāhu puthu niṭṭhā”ti. Sammā byākaramānā bhikkhave aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ “Ekāvuso niṭṭhā, na puthu niṭṭhā”ti.

Chư Tỷ-kheo, nếu được các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy, cần phải trả lời họ như sau: “Chư Hiền, cứu cánh là một hay cứu cánh là đa diện?” Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh là một, cứu cánh không phải đa diện”

Đoạn này khá khó hiểu, các Sư giúp vài tay với, hihi

Ven Adhiṭṭhāna Chua Nhu Phap bị ép vô đường cùng rồi😀, thực ra, theo sở học của bản thân, thì chưa thấy được sự liên hệ nào giữa 2 chữ Samaṇa và Saṃsāra.
Còn vế thứ hai, thì xin thưa là: “chữ Sa-môn trong bài kinh này chỉ áp dụng cho các bậc thánh. Nếu hiểu chữ Sa-môn theo cách bình thường như ở phần ngoài lề mà chúng tôi đã bàn thì các tu sĩ thời nay có được gọi là Śramaṇa hay Samaṇa thì cũng không dám kết luận vì có biết “mục đích tu” của họ là gì đâu. Nếu người Việt Nam có câu :” Chiếc áo không làm nên thầy tu”, thì trong Pāḷi cũng có câu “Na muṇḍakena samano > Sa-môn không phải vì đầu trọc (đầu trọc không làm nên Sa-môn)”

Chua Nhu Phap quá hay sư Ven Adhiṭṭhāna, sadhu sadhu.

Pāli Việt Ven Adhiṭṭhāna ơi, câu Pāḷi <suññā parappavādā samaṇebhi aññehī’ti> dịch là <các ngoại đạo với các Sa-môn khác là rỗng không> nghe có xuôi tai không vậy?

Ven Adhiṭṭhāna @Pāli Việt nghe thì rất là xuôi tai ạ. Nhưng tại vì con muốn dịch cho nó gần với ngữ pháp nên samaṇebhi aññehi con đã dịch là vì có các sa -môn khác😛

Hoa Nguyen Tôi thấy vài vị thầy Bắc tông khi viết sách xưng mình là Sa môn, cũng như các sư Nam tông xưng mình là Tỳ kheo (khưu), có nghĩa chung là xuất gia (theo đạo Phật).Thời xưa, ngoại đạo gọi Thích Ca là Sa-môn Cù (Cồ ) Đàm, với ý nghĩa kính trọng đối với bậc xuất gia phạm hạnh, trí tuệ. Có lẽ theo bài kinh này muốn xứng danh Sa-môn phải với ý nghĩa trên (có đầy đủ phạm hạnh, trí tuệ).

Huỳnh Phúc Kiến Từ “Cứu cánh” ở đây theo con hiểu có nghĩa là Mục Đích và mục đích trong đạo Phật chỉ có 1 là Niết Bàn (viễn li điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàn- Bát Nhã tâm kinh) ,chứ ngoài ra ko còn mục đích nào khác , vì thế câu “cứu cánh chỉ là một, ko fải đa diện”, “đa diện” ở đây có nghĩa là nhiều mặt… Theo con hiểu là như vậy…

Phạm Doãn Sa Môn: Pāli = samaṇa, Skt = Śramaṇa
Là truyền thống các tu sĩ phản kháng, không tin hẳn vào Vệ Đà của giai cấp Bà La Môn, trong thời cổ xưa ở Ấn Độ.
– Đức Phật cũng đi tìm sự giải thoát như một Sa Môn. Tuy nhiên giáo pháp của Ngài có những khác biệt với những triết lý của sa môn khác!
– Bài “Tiểu kinh Sư Tử Hống” là lý luận mà Đức Phật dạy các học trò để thuyết phục ngoại đạo về sự khác biệt giữa giáo pháp của Sa Môn Gautama với Bà La Môn và các sa môn thuộc trường phái khác.
Đoạn đầu của đường link dưới đây nói về sa môn như các du sĩ sống lang thang khất thực:
http://www.budsas.org/uni/u-tanggia-thoiphat/tanggia-02.htm

Tang gia thoi Duc Phat – 02

www.budsas.org

Theo kinh Sa Môn Quả (http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong02.htm)
Ngoài truyền thống tu tập của Đức Phật, còn có sáu truyền thống Sa Môn (Samana) được liệt kê trong kinh điển Pali.

1. Pūraṇa Kassapa (Thuyết từ bỏ khái niệm đạo đức -Amoralism) Từ chối mọi phần thưởng hay trừng phạt của Thiện hay Ác.
2. Makkhali Gosāla (Thuyết Tất Định tức tin vào số phận an bài – Fatalism): Con người không có một quyền lực nào cả. Khổ đau sinh ra từ số phận.
3. Ajita Kesakambalī (Thuyết Duy Vật – Materialism): Tất cả đều hư vô sau cái chết!
4. Pakhuta Kaccāyana (Tuyết Vĩnh cửu – Eternalism): Vật chất, linh hồn, khoái lạc, khổ đau…tất cả đều vĩnh hằng. Chẳng nên can thiệp vào cái gì cả!
5. Nigaṇṭha Nātaputta (Thuyết Tiết Chế – Restraint) con người được ban phúc, được thanh tẩy, được gia lực bằng cách tránh xa tất cả các tội lỗi.
6. Sañjaya Belaṭṭhaputta (Thuyết Bất Khả Tri – con người không thể biết đến sự thực tuyệt đối). Thể hiện qua quan điểm: Tôi không nghĩ như thế, tôi cũng không nghĩ theo cách này hay cách khác. Tôi không nghĩ vậy và cũng không không nghĩ vậy.

Truong Bo: 2. Kinh Sa-mon qua

www.budsas.org

Phạm Doãn Góp ý riêng:
“Chư Tỷ-kheo, nếu được các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy, cần phải trả lời họ như sau: Chư Hiền, cứu cánh là một hay cứu cánh là đa diện?” Nếu trả lời đứng đắn, các Du sĩ ngoại đạo phải trả lời: “Chư Hiền, cứu cánh là một, cứu cánh không phải đa diện”
– Đây là một lý luận (trong rất nhiều lý luận) mà Đức Phật vạch ra cho thấy :
Nếu giải thoát là tuyệt đối thì nó chỉ có thể là một.
Nếu nó “đa diện” tức mỗi trường phái có một “kiểu” giải thoát riêng, thì nó không phải là cứu cánh giải thoát tuyệt đối!
Cái tuyệt đối chỉ có một!
– Mặc dù những người của các giáo phái khác đều tuyên bố về cứu cánh giải thoát (hiểu chung như một sự hoàn thiện tâm linh), nhưng họ vẫn cho các kết quả đạt được qua tu tập, cái nào phù hợp với quan điểm của họ là cứu cánh giải thoát. Vì thế
. Các Bà La Môn tuyên bố cõi Phạm Thiên là cứu cánh giải thoát.
. Các nhà đại khổ hạnh tuyên bố Quang Minh Thiên (abhassara-tầng trời thứ 17) là cứu cánh giải thoát.
. Các Du sĩ (Samana) tuyên bố Biến Tịnh Thiên (Subhakinna – tầng trời thứ 20) là cứu cánh giải thoát.
. Những người theo giáo phái Ajivakas cho rằng trạng thái phi tưởng (?) “the non-percipient state” là niết bàn giải thoát của họ (ananta manasa)

Huỳnh Phúc Kiến Thật là bổ ích khi được nghe các cô các bác giảng giải một cách tường tận để con có dịp được hiểu thêm nhiều điều con chưa được biết….

Hạnh Trương <<5. Nigaṇṭha Nātaputta (Thuyết Tiết Chế – Restraint) con người được ban phúc, được thanh tẩy, được gia lực bằng cách tránh xa tất cả các tội lỗi.>>

Cái này chắc chắn là không đúng ạ. Học thuyết của Jainism cực kỳ rõ ràng, cụ thể chứ không đơn giản và chung chung như được dẫn trong Wiki ở trên ạ.

Thứ nhì là Jainism đã có trước thời đức Phật rất rất lâu, ít nhất là lúc đức Phật xuất gia thì Jainism đã tồn tại với tăng đoàn và học thuyết vững mạnh.

Hoa Nguyen Cám ơn anh Phạm Doãn giới thiệu link dẫn tới sách “Tăng Già thời đức Phật” của HT Thích Chơn Thiện , giải thích rất rõ về các từ quen thuộc trong Phật giáo như Sa-môn, Tỳ kheo, Tăng già…Tất cả đã mượn từ kinh Veda hay Upanishads, nhưng đã thay đổi nghĩa ít nhiều, hay thêm nghĩa khi dùng lại trong đạo Phật. Đó cũng là trường hơp của từ Niết Bàn (nirvana) mà trong nghĩa của kinh Bà la môn là nơi hưởng đầy lạc thú..

Nhân đó, tôi cũng đọc thấy một đoạn nói về tôn già A-nan-đà một trong 10 đại đệ tử của Phật và cũng là thị giả của ngài. Có lần tôi viết là ngài Ananda nhỏ tuổi hơn Phật nhiều, nhưng chỉ dựa vào trí nhớ, nên đành phải chịu nhận các lý lẽ (không phải chứng cớ) là ngài Ananda sinh cùng ngày, tháng, năm với Phật. Nhưng đoạn trích sau đây cho thấy ngài chỉ sinh cùng ngày với Phật thôi. Trong đoạn này không nói rõ nhỏ hơn bao nhiêu tuổi. Tôi không có ý lập lại việc tranh luận đã qua, nhưng muốn làm sáng tỏ một sự việc tuy nhỏ nhưng vẫn nên ghi nhận đúng với kinh sách được truyền lại.

“4. Tôn giả Ananda (A-nan)

Tôn giả sinh ở Kapilavatthu, thuộc hoàng tộc dòng Sakya, anh em họ sinh cùng ngày với đức Phật nhưng nhỏ tuổi hơn nhiều. Xuất gia lúc Thế Tôn trở về thăm hoàng cung lần đầu tiên. Về sau Tôn giả được Thế Tôn chọn làm thị giả (lúc Thế Tôn năm mươi sáu tuổi thọ). Suốt hai mươi lăm năm Tôn giả tận tụy hầu hạ đức Phật. Chính nhờ Tôn giả cầu xin phụ thêm, đức Phật mới cho phép bà Mahapajapati (Ma-ha Ba-xà-ba-đề) thành lập Ni đoàn Tỳ-kheo. Tôn giả nổi danh là vị đệ tử Ða văn đệ nhất, tế nhị, nhu hòa thuyết pháp hay, thu hút người nghe.

Khi đức Phật nhập Ðại Niết-bàn, Tôn giả chứng A-na-hàm (Tam thánh quả). Tôn giả bị Tôn giả Maha Kassapa phê phán nghiêm khắc về nhiều điều, và không được phép tham dự kỳ kiết tập vì Tôn giả chưa đắc quả A-la-hán. Tôn giả buồn bã vô cùng. Trong đêm trước ngày Kiết tập, Tôn giả nỗ lực phát triển thiền quán suốt đêm. Ðến tảng sáng, khi Tôn giả chuyển từ tư thế ngồi sang tư thế nằm, đầu chưa đặt đến gối thì Tôn giả bỗng chứng đắc A-la-hán. Ðược tham dự kỳ Kiết tập, tôn giả là vị đọc lại tất cả các Kinh đức Phật đã dạy mà Tôn giả đã nghe và ghi nhớ. Tiêu ngữ ở đầu mỗi Kinh mà ta luôn gặp: “Tôi nghe như vầy…”, chính là lời của Tôn giả vậy.”
(Sách dẫn chương 8)

Hạnh Trương Qua việc ngài Ananda “buồn bã vô cùng” thì thấy độ tin cậy của tư liệu không cao lắm.

Hoa Nguyen Không được phép tham dự kết tập là điều đáng buồn và hổ thẹn. Còn độ tin cậy của tài liệu này nếu ngờ, thì ngờ thêm nhiều điều khác, như luật nào bảo không đắc quả A-la-hán thí không được dự kết tập (lời Phật dạy). Có thuyết cho ngài Maha Ca Diếp đã làm một cuộc “đảo chánh” bằng cách muốn loại A-nan. Nên nhớ ngài Ca Diếp trước theo đạo Bà La môn (có chức phận cao), sau theo Phật lúc đã trọng tuổi (lớn tuổi hơn Phật), khi Phật nhập diệt Ca Diếp không có mặt tại chỗ và không biết tin đó ( phải nhờ một Bà la môn khác cho biết, như vậy đã có thần thông không ). Cho nên có thuyết cho ngài Ca Diếp đáng lẽ không phải người kế thừa Phật.

Phạm Doãn @Hạnh Trương & Ven Adhiṭṭhāna:

Thực tế là Đạo Jain có trước Đạo Phật. Rất nhiều cái của Đạo Jain mà Đạo Phật rất giống nhau, kể cả quan điểm giải thoát bằng cách chấm dứt vòng luân hồi (Samasara). Nhưng đưa vấn đề tế nhị này ra tại đây thì quả là không tiện😛 hi hi…

Huỳnh Phúc Kiến Con cũng được biết giáo chủ của đạo Jain cũng là một vị thái tử như đức Thích Ca Mâu Ni khi còn sống đời sống thế tục nhưng sau đó ông cũng đã từ bỏ tất cả và sống đời sống xuất gia, đạo Jain cũng cấm giết các loại súc vật để tế lễ và thậm chí vật thực hàng ngày của các đệ tử đạo Jain cũng là thức ăn chay? Họ ăn chay rất giống như bên Bắc Tông Phật giáo và tẩy chay các loại thịt thà

Hạnh Trương: Bs Phạm Doãn né nha, hihi.

Có lẽ để tiện cho các phần diễn giải về sau, đức Phật đã so mục đích của cả những DU SĨ ngoại đạo và các Tỷ Kheo, xác định chúng là như nhau, là một, không là khác.

Chính vì chúng là như nhau nên việc diễn giải về sau mới có ý nghĩa và hay cực kỳ, hihi.

Hoa Nguyen Phật đã có những bài giảng phê phán đạo Kỳ Na (Jainism), và chính người trong đạo “Lõa thể” đó đã thấy đạo Phât không giống họ.

Hạnh Trương Như vậy không có công bằng anh HN ạ, em không thấy trong Jainism họ phê phán đạo Phật🙂. Chuyện “cãi vã” là phải công bằng, nói đi thì có nói lại, đọc một chiều không ổn.

Bản thân em thì khi đọc những đoạn phê phán những đạo sỹ lõa thể hay bị gán cho Jainism em đã thấy có gì đó chưa hợp lý. Theo em thì những đoạn kinh đó chỉ dùng vào mục đích để làm rõ sự khác biệt giữa pháp cụ thể của Jainism được nói trong kinh và giáo pháp của Như Lai, chứ không hẳn đó là sự phê phán Jainism.

Thứ nhỉ, giáo chủ của Jainism thời đó là ông Mahavira, trực tiếp tên vị này không hề được nhắc tới trong chánh tạng Nikaya, cho nên không thể căn cứ vào một số đoạn kinh mà nói Phật phê phán Jainism được.

Hoa Nguyen Họ khen Đức Thích Ca là tuy không giữ giới nghiêm nhặt như người Kỳ Na nhưng có nhiều trí tuệ, v.v…Phật phê phán họ trong nhiều dịp, nhất là về lối tu cực khổ hạnh của đạo Kỳ Na. Người đọc một chiều thường chụp mũ người khác một chiều, chẳng phải là chuyện lạ.

– Đọc vài điều về đạo Kỳ Na ở đây :
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_Jaina
Bất hại của Kỳ Na cũng như Vô hại trong Phật giáo thôi. Nhưng phải thấy như vậy chưa là đủ vì còn mang tính tiêu cực (không làm hại, nhưng chưa thấy làm lợi gì). Phải thêm Tứ vô lương tâm của đạo Phật (Từ, Bi, Hỷ Xả) vào nữa mới đúng là thánh hạnh.

Phạm Doãn Bài kinh MN 11 này rất quan trọng, vì tại đây Đức Phật trực tiếp tranh luận chủ đề “gai góc” nhất từ ngàn xưa, cho tận đến ngày nay:
– Cái gì là Triết lý và Cứu cánh giải thoát của Đạo Phật?
– Cái gì không phải là Triết lý, cũng không phải là Cứu cánh giải thoát của Đạo Phật?
Tranh luận này đương nhiên không phải là “hí luận”!
Việc tranh luận để phân biệt và xác định Chánh Pháp, chính là vấn đề sinh tử của Đạo Phật!
Vì nếu không phân biệt được rạch ròi giữa cái là “Chánh Pháp của Đức Phật” và những “Các Giáo Pháp không phải của Đức Phật” thì sự nhầm lẫn hoặc sự mơ hồ này sẽ giết chết Đạo Phật!
– Với trí tuệ của mình, Đức Phật đã biết rõ đây là vấn đề tồn vong của Đạo Phật, ngay lúc Ngài còn sống, và nhất là biết rõ tình hình Đạo Phật sau khi ngài đã nhập diệt! Và Ngài đã khuyên các đệ tử phải tranh luận thật hết mình, phải tranh luận mạnh mẽ như với “tiếng rống uy lực của loài sư tử”, để giải thích và khuất phục những ngoại đạo (ngày xưa) hoặc những giáo phái mạo danh Đạo Phật (ngày nay)!
1. Các Giáo Phái thuộc loại “tự nhận là Đạo Phật” luôn né tránh sự tranh luận này. Luôn cho sự tranh luận này là quá khích! Họ cho rằng không cần phải phân biệt chi li như vậy. giáo pháp nào cũng tốt, dù giáo pháp của Đức Phật có được phát triển, có thay đổi nội dung cách nào cũng đều tốt, cũng đưa đến cứu cánh giải thoát …”y như nhau” mà thôi!
.
2. Các giáo phái “tự nhận là Đạo Phật” cũng luôn gán ép sự tranh luận này với việc làm gọi là…. “mất đoàn kết trong các tăng đoàn”!!! (Giáo Hội PG Việt Nam hiên nay bắt nguồn từ 11 đoàn thể gồm nhiều tăng đoàn khác nhau!!!). Lý luận rất “trong sáng và hợp lý” mà họ luôn đưa ra như là khẩu hiệu: Đại Thừa, Nguyên Thủy, Khất Sĩ…đều chung một cỗ xe!!!
Vì các thành viên Pali Chuyên Đề hay Phật tử và các vị xuất gia mọi nơi ở VN, chưa có ai thực sự cất tiếng “RỐNG” đầy uy lực (theo yêu cầu của Đức Phật)
Phạm Doãn, chẳng đặng đừng, phải cất tiếng “rên” yếu đuối của mình….!!!
Nếu, ngay cả tiếng “rên” này không ai nghe thấy thì …

Hoa Nguyen Cái dấu ấn lớn và in rõ nhất của đạo Phật là vô ngã. Quan điểm về vô thường nhiều người, nhất là các nhà văn, thơ, triết gia nhận thấy. Khổ thì gần như mọi người theo hay không theo tôn giáo nào cũng cảm nhận về cuộc đời này. Thí dụ đạo Thiên Chúa cho thế gian là chỗ bị lưu đày từ khi loài người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng. Thế nhưng vô ngã chỉ có Phật giáo nêu lên mà thôi, cũng quan điểm mở thêm là tính không của vạn hữu (bản tính vạn pháp là không, tức vô ngã). Ngay cái đạo Kỳ Na cho là có nhiều điểm giống Phật giáo cũng chủ trương có linh hồn, và giải thoát là khi hồn thoát ra vòng luân hồi. Phật giáo quan niệm khác hay cao hơn thế.
Trong bài kinh này, ở phần đầu Phật nói về Hữu kiến và Phi hữu kiến, tức hai quan điểm triết học được tranh cãi thời Phật giữa nhiều trường phái triết học, và Phật đã bác cả hai. Hai quan điểm này vẫn tồn tại cho tới ngày nay, và được tóm gọn là quan điểm duy tâm vả duy vật (cho linh hồn tức tiểu ngã vẫn sống sau khi chết, hay cho chết là hết, chẳng còn gì, về thế giới cũng quan niệm khác nhaunhư vậy). Phật giáo Đại thừa về sau đã đưa ra quan điểm Bất Nhị (cái nào cũng không phải, và vượt lên cả hai). Đức Thích Ca thời còn tại thế cũng có quan điểm như thế, gọi là Trung Đạo, không rơi vào hai cực đoan là Thường hằng và Đoạn diệt.
Câu hỏi đáng nêu lên tôi nghĩ là sao Phật không dạy lấy Vô ngã để bài bác các thuyết ngoại đạo. Vô ngã đối nghịch hiển nhiên với thuyết hữu ngã thường hằng (duy tâm) . Nhưng có phải nếu không hiểu rõ, và thuyết minh không khéo sẽ khiến hiểu lầm vô ngã gần với thuyết đoạn diệt (duy vật) ?

Chua Nhu Phap Bác Phạm Doãn ơi! chỉ khi nào là sư tử thật sự thì mới có thể “RỐNG” lên tiếng sư tử được thưa Bác. Cũng chưa biết có phải là sư tử con không nữa, chỉ biết là người lần mò theo dấu chân sư tử xuyên qua kho tàng giáo pháp mà Đức Tôn Sư đã để lại. Tiếng “rên” ấy đã chan chứa đầy ấp tình yêu đạo trong trái tim Bác như một nụ hoa trong vườn hoa Phật Pháp. Thật cảm kích tình yêu ấy.

Phạm Doãn Trước nay tôi vẫn chôn dấu vấn đề “nhạy cảm” này trong blog cá nhân của mình. Tôi còn nhớ bài viết đầu tiên, khi tôi vừa biết đến Đạo Phật nguyên thủy, vào lúc xuất gia gieo duyên, là bài “Có chăng tám vạn bốn ngàn pháp môn?” Bài viết này đã gây dư luận “xấu”, làm bạn bè xa lánh! Mà giải thích cách nào cũng không ai chịu hiểu!!! Họ chỉ nói người viết bài có tinh thần bộ phái, chia rẽ sự hòa hợp của các pháp môn, làm hoang mang các phật tử! v.v…và v.v…
– Nhiều người đến blog của tôi để lấy bài này hay bài kia về blog của họ. Nhưng như tôi theo dõi, thì chẳng ai dám rinh trái bom “Tám vạn bốn ngàn pháp môn” về blog của họ ! Nhất là những trang blog được coi là “lớn và uy tín”!!!. Duy chỉ có một trang web dám “rinh bom về nhà” là trang Pali Việt (thật lạ!)
– Hôm nay cùng PLCĐ học bài kinh “Sư Tử Hống”, tôi có nên tiếp tục né tránh vấn đề này không? Kinh Điển Pali sờ sờ ra kia! Tránh là tránh thế nào!
– Tôi tự nghĩ : Mình không phải là Sư, nhận thức của mình không lệ thuộc vào tăng đoàn hay giáo hội. Mình cũng chẳng cần phải duy trì cái chức vụ nào trong tăng đoàn hay giáo hội. Vậy thì sao không dám đưa vấn đề ra thảo luận, dù chỉ một lần?

Ven Adhiṭṭhāna =))

Binh Anson Có lẽ người Việt chúng ta chưa quen thuộc với cách thảo luận nghiêm túc & khách quan, và thường hay có thái độ chụp mũ, gắn nhãn hiệu, võ đoán, v.v., nhất là những vấn đề “nhạy cảm” liên quan đến lịch sử kinh điển và sự hình thành các tư tưởng & tông phái PG trong nhiều quốc độ, qua nhiều thời kỳ khác nhau. Nếu ai chịu khó tìm đọc các tài liệu Âu Mỹ (tiếng Anh, Đức, Pháp, …) sẽ thấy nhiều công trình nghiên cứu nghiêm túc trong hơn 100 năm qua về PG. Hy vọng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông và sự giao lưu, tiếp cận dễ dàng các nguồn kinh điển & tài liệu PG — nhất là từ cả 3 nguồn: Pali tạng, Hán tạng, & tạng thư Tây Tạng — lớp người Phật tử trẻ (tu sĩ lẫn cư sĩ) sẽ có cái nhìn thông thoáng & toàn diện hơn.

Hạnh Trương @BS Phạm Doãn , chẳng phải chúng ta luôn hướng tới có cái nhìn “như thật nó là” về các pháp. Vậy tại sao chúng ta lại né cái nhìn như thật nó là về chính Giáo Pháp. Bs tiếp tục đi ạ.

Đào Trọng Trác Chung ta chi Noi ve phap va luat do The Ton kheo thuyet , con ung ho chu Pham Doan ah!

Hạnh Trương Bài kinh này có một số chỗ từ Pāli được dùng khá lạ, mong các Sư ra tay hỗ trợ:

1. Chữ tham ở đây được dùng là rāga không phải lobha, trong khi sân và si được dùng hai từ là dosa và moha như thường lệ

2. Chữ trí được dùng ở đây là vidu, không phải là ñāna như thường lệ.

3. Chữ thuận ứng, nghịch ứng khá khó hiểu.

4. Đoạn “không có (gì đó)” thì dùng cấu trúc là vita~, thay vì vi~ (ví dụ vitarāga chứ không phải virāga)

Phạm Doãn

– Ngày xưa, lúc Phật còn tại thế, đã có những “Đạo Phật” mà không được chuẩn mực theo Chánh Pháp. Hậu quả là số tỳ khưu chứng đắc đã giảm đi!
– Ngày nay, Đức Phật đã mất, Chánh-Pháp lung lay, Có các bậc đạo sư tự cho quan diểm triết ý, tu tập, và giác ngộ theo ý của mình (bỏ qua các pháp ấn và bốn quả Sa Môn). Đây là một sự thực rõ ràng và phổ biến.
– Vấn nạn này được đưa lên PLCĐ khi học bài kinh Sư Tử Hống, là vì nó là sự thực, chắc chắn không phải vì quan điểm của riêng tôi hay của riêng ai!

Đức Phật nói khi “vàng giả” xuất hiện thì “vàng thật” mới có nguy cơ mất đi. Ngài muốn ám chỉ nếu có các loại Đạo Phật giả xuất hiện thì Chánh Pháp (Diệu Pháp) mới bị thoái trào và bị tiêu diệt. Vậy nguyên nhân của Đạo Phật thoái trào là do có quá nhiều các bậc Đạo Sư đã tự sáng tác quá nhiều pháp môn tu tập hay tự tạo ra quá nhiều kiểu giải thoát theo ước muốn riêng tức nghiệp riêng của họ. Ví dụ các bậc thày tuyên bố giác ngộ mà không cần lộ-tâm đi qua bốn quả sa môn như qui trình giác ngộ của Đạo Phật chân chánh. Đức Phật nói các giáo pháp này chỉ trông giống như …Đạo Phật, nhưng không phải là Đạo Phật “chính gốc”. Chữ “Tượng Pháp” là dùng để chỉ các loại Đạo Phật chỉ “tương tự” chứ không phải Đạo Phật thực sự.

Mọi người có thể kiểm chứng (đúng-sai) vấn đề này qua bài kinh Pali -Saddhammapatirupaka Sutta. Thày Thích Minh Châu dịch là “Kinh Tượng Pháp”, thuộc Tương Ưng Bộ Kinh (16.13).
– Trên blog của Phạm Doãn, tựa đề bài kinh này được giải thích trong ngoặc là “Kinh Giả mạo Diệu Pháp” cho mọi người dễ hiểu.
– Bhikkhu Thanissaro dịch là: A Counterfeit of the True Dhamma

http://bsphamdoan.wordpress.com/2012/02/27/kinh-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-phap-gi%E1%BA%A3-m%E1%BA%A1o-di%E1%BB%87u-phap/

Kinh Tượng Pháp (giả mạo Diệu Pháp)

bsphamdoan.wordpress.com

Tương Ưng Bộ Kinh (16.13) Kinh Tượng Pháp (Tạp 32.2 Pháp Giảm Diệt, Ðại 2, 226b …See More

Phạm Doãn Đào Trọng Trác: Có thể xem tại đây:
XIII. Tượng Pháp (Tạp 32.2 Pháp Giảm Diệt, Ðại 2, 226b (Biệt Tạp 6.15, Ðại 2, 419b) (S.ii,223)
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-16.htm

Tuong Ung – Tap 2 – Chuong 16

www.budsas.org

Đào Trọng Trác Cam on chu Pham Doan!

Hoa Nguyen Ông Phạm Doãn nói rõ thêm được không, có phải tu như ngài Maha Ca-Diếp dưới đây mới là tu theo đạo Phật đúng nghĩa (hay đúng hình thức Phật giáo nguyên thủy) ? Nhưng xem ra trong các đệ tử Phật không phải nhiều người theo ngài Ca-Diếp tu hạnh đầu đà như thế (đó là hình thức tu của Kỳ Na hay các du sĩ thời đó) . Phật khen và bảo Maha Ca Diếp cứ tu theo ý mình, nhưng không khuyên các đệ tử khác noi theo theo ngài Ca-Diếp.

4) — Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
Phật khen:
— Lành thay, lành thay, Kassapa! Thật vì hạnh phúc cho quần sanh, này Kassapa, Ông đã thực hành như vậy, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn với đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

10) Do vậy, này Kassapa, hãy mang vải gai thô, phấn tảo đáng được quăng bỏ. Hãy sống khất thực và trú ở trong rừng!
(Trích theo link dẫn : V. Trở Về Già (Tạp 41.23, Lực Lão, Ðại 2, 301c Tăng 41.5, Ðại 2, 746a Biệt Tạp 6.10, Ðại 2, 416b) (S.ii,202) )

Ven Adhiṭṭhāna Hạnh Trương

1. Cách dùng từ của Đức Thế Tôn khá là phong phú, tại sao ở những chỗ khác lại là Lobha mà ở chỗ này lại là rāga, thật là khó giải thích tại sao. Điểm đặc biệt ở chữ rāga này là chữ này có căn “raj” mang nghĩa là nhuộm màu; hơn nữa, trong cụm từ rāgaratta (Saṃyuttanikāya) thay vì được hiểu là nhuộm màu đỏ, nhưng cụm từ này lại được hiểu là bị tham ái chi phối.
2. Chữ trí sao không dùng từ ñāṇa ? Bản thân căn ñā trong chữ ñāṇa mang nghĩa là biết như các chữ đã gặp ở các bài kinh Trung bộ trước đây như pajānāti; chữ vidū này xuất phát từ căn “vid” (như chữ vijjā), chữ vidū này nên được hiểu là hiểu một cách rõ ràng, thấu đáo ví dụ như: 1 vị thông thạo về tạng Luật thì gọi là Vinayavidū, hay bậc thấu hiểu mọi thứ về thế gian như Lokavidū.
3. Chữ thuận ứng, nghịch ứng này tìm lại trong nguyên văn Pāḷi là chữ anuruddha và paṭiviruddha. Trong chú giải giải thích như sau _Anuruddhapaṭiviruddhassāti rāgena anuruddhassa kodhena paṭiviruddhassa – chống đối và đối chọi là chống đối vì tham và đối chọi vì sân; với 2 chữ anuruddha và paṭiviruddha có cùng căn rudh là ngăn cản, cản trở…
4. Chữ Virāga hay vītarāga, 2 chữ này thuộc dạng đồng nghĩa mà khác âm, nó được hình thành như sau:
Virāga = Vi (upasāra) + rāga
Vītarāga = vīta (nipāta) + rāga
với vi hay vīta đều cho nghĩa là vượt ngoài, rāga – luyến ái >>> virāga hay vītarāga = vượt ngoài luyến ái, không còn luyến ái.

Nếu có thể nhờ chú cho thêm 1 số ví dụ của tham, sân, si như nước, v.v…

Hoa Nguyen Ven Adhiṭṭhāna :” Chữ thuận ứng, nghịch ứng này tìm lại trong nguyên văn Pāḷi là chữ anuruddha và paṭiviruddha”.
Tôi thấy “thuận ứng và nghịch ứng” dùng rất hay và ý nghĩa mở rộng ra đến nhận định sâu sắc về tâm lý. Khi “tham (dục)” tâm chạy đuổi theo đối tương mong muốn để nắm bắt , nên gọi là thuận ứng (phản ứng cùng chiều). Còn khi sân (do khó chịu, ghét) thì tâm muốn xa lìa hay chống lại đối tương, nên gọi là nghịch ứng (phản ứng ngược chiều).

Ven Adhiṭṭhāna @ Hoa Nguyen thú thật với bác là sư không giỏi Hán ngữ, nên khi giải thích về chữ nghĩa sư chữ biết giải thích bằng từ ngữ đơn giản nhất có thể. Rất cám ơn bác vì sự góp ý thêm cho 2 từ trên🙂

Hạnh Trương Ven Adhiṭṭhāna, cái này thì phải Sư ơi🙂

Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lặc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh hay màu vàng và ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai…

(AN 5.193)- Tăng Chi Bộ

Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto saṃsaṭṭho lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā. tattha cakkhumā puriso sakaṃ mukhanimittaṃ paccavekkhamāno yathābhūtaṃ nappajāneyya na passeyya. evamevaṃ kho, brāhmaṇa, yasmiṃ samaye kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, attatthampi tasmiṃ samaye yathābhūtaṃ nappajānāti na passati, paratthampi … pe … ubhayatthampi tasmiṃ samaye yathābhūtaṃ nappajānāti na passati

Tiếp theo là các ví dụ về sân và si🙂

Hạnh Trương anh Hoa Nguyen <<Phật khen và bảo Maha Ca Diếp cứ tu theo ý mình, nhưng không khuyên các đệ tử khác noi theo theo ngài Ca-Diếp.>>

Anh HN nên cẩn thận hơn trong câu chữ, câu trên anh viết có thể bị hiểu là “không nên noi theo ngài Ca Diếp”

( HT viết điều trên với tư cách của một admin, anh thông cảm)

Hạnh Trương Bs Phạm Doãn tiếp tục đề tài đi ạ.

Hạnh Trương Có đoạn kinh này cũng có liên quan tới bài kinh đang được thảo luận ( MN 95. Kinh Cankì) :

“– Ở đây, này Bharadvaja, Tỷ-kheo sống gần một làng hay một thị trấn. Một gia chủ hay con trai một gia chủ đi đến vị ấy và tìm hiểu vị ấy trong ba pháp, tức là tham pháp, sân pháp, si pháp. Người này nghĩ rằng: “Không hiểu vị Tôn giả ấy có tham ái hay không, do những tham ái này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy,” hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài”. Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: “Vị Tôn giả ấy không có những tham pháp, do những tham pháp này tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”; hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng tham. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận; pháp ấy không thể do một người có lòng tham khéo giảng”.

Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch không có những tham pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các sân pháp: “Không hiểu vị Tôn giả ấy có sân pháp hay không, do những sân pháp này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài”. Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: “Tôn giả ấy không có những sân pháp, do những sân pháp này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có những hành động, khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng sân. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận, pháp ấy không thể do một người có lòng sân khéo giảng”.

Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch, không có những sân pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các si pháp: “Không hiểu tôn giả ấy có si pháp hay không, do những si pháp này, tâm của vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết, vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài”. Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: “Tôn giả ấy không có những si pháp, do những si pháp này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết, vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy, vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng si. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận, pháp ấy không thể do một người có lòng si khéo giảng”.”

Hạnh Trương (IV) (24) Maha Cunda
1. Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú giữa dân chúng Cetì tại Sahajàti. Tại đấy, tôn giả Mahàcunda gọi các Tỷ-kheo.

– Này các Hiền giả Tỷ-kheo.

– Thưa Hiền giả.

– Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:

2. – Thưa các Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết về trí nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não lại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: ” Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham chinh phục Tôn Giả ấy và tồn tại. Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… ác dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”

3. Thưa các Hiền giả, nếu Tỷ-kheo thuyết về tu tập nói rằng: “tôi được tu tập về thân, được tu tập về giới, được tu tập về tâm, được tu tập về tuệ”. Thưa chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục vị Tỷ-kheo ấy và tồn tại, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt, vì rằng tham chinh phục vị ấy và tồn tại. Vị Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt…các dục không có mặt. Như vậy, các ác dục chinh phục Tôn giả này và tồn tại.”

4. Và này chư hiền, Tỷ-kheo thuyết về trí và thuyết về tu tập, nói rằng: “Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này, tôi được tu tập về tâm, tôi được tu tập về giới, tôi được tu tập về thân, tôi được tu tập về tuệ”. Này chư Hiền, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ…. nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo ấy và tồn tại, Tỷ-kheo ấy cần phải được hiểu như sau: “Vị Tôn giả này không cần rõ biết như thế nào để tham không có mặt… sân không có mặt… si không có mặt… Như vậy, ác dục chinh phục Tỷ-kheo này và tồn tại”.

(IV) (24) Maha Cunda ( Tăng Chi )

Hoa Nguyen Anh Hạnh Trương bắt bẻ như thế có là chức năng ghi trong điều lệ không. Tôi chỉ coi là ý kiến một người đọc (tất nhiên ai đọc cũng có thể có ý kiến như thế, và tôi cũng tôn trọng). Từ phần trên của câu viết đó đã có ý nghĩa là Phật không khuyên các đệ tử khác tu khổ hạnh như ngài Ca Diếp, mà hiểu thành ra “không nên noi theo ngài Ca Diếp” (về những thứ khác nào nhỉ?), là do lỗi của người đọc hiểu. Nếu ai hiểu như anh Hạnh Trương thì nêu rõ (thắc mắc) của mình lên, và được giải đáp. Sự thật, Phật đã từng khuyên ngài Ca Diếp nên bỏ lối tu khổ hạnh như thế (ngài CD được tiếng là đệ nhất khổ hạnh) để giữ gìn sức khỏe, nhưng (dường như) Ca Diếp không nghe theo. Ý nghĩa của từ “Trung Đạo” Phật dùng ban đầu là dạy tránh lối tu khổ hạnh và không tìm theo lạc thú lấy đó làm cứu cánh (dù là lạc thú của thiền định). Thời Phật có hai trường phái triết học (đạo giáo) chủ trương trái ngược là sống, tu khổ hạnh (như Kỳ Na giáo) và tìm cầu khoái lạc trong cuộc sống (ngay trong tu hành).

Hạnh Trương Từ phần trên của câu viết đó đã có ý nghĩa là <<Phật không khuyên các đệ tử khác tu khổ hạnh như ngài Ca Diếp>>

Anh có thể trích dẫn chỗ nào Phật nói như vậy không ạ?

Hoa Nguyen Anh HT đọc lại đoạn tôi viết, thì hiểu đó là ý tưởng của tôi. Tôi chưa từng đọc thấy Phật khuyên đệ tử nào của ngài tu khổ hạnh như Ca Diếp. Nếu có, anh thử dẫn chứng.

Hoa Nguyen Trả lời chung cho hai anh Hanh Trương và Phạm Doãn là trong bài kinh dẫn đó sau khi khen ngài Ca Diếp, Phật không có lời khuyên các đệ tử tu theo (lối tu khổ hạnh của) Ca Diếp, và không thấy các đệ tử ngài tán thán lối tu của CD , tán thán lời Phật và “phụng hành” (lời Phật dạy). Phật chỉ nói với ngài Ca Diếp: nếu ông thích tu như thế thì cứ tiếp tục.

Chanhphatphap Nguyenthuy Vấn đề khổ hạnh, chúng ta có thể đọc đoạn kinh sau trong DN08:

“2. – Tôn giả Gotama, tôi nghe như vầy: “Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ”, có phải những vị ấy nói đúng lời của ôn giả Gotama? Có phải những vị ấy đã vu oan không xác thật cho Tôn giả Gotama? Có phải những vị ấy đã tuyên bố như pháp, thuận pháp không? Có những chủ trương nào chính và phụ gặp phải cật nạn không? Thật sự chúng tôi không muốn chỉ trích sai lạc Tôn giả Gotama.

3. – Này Kassapa, những ai nói: “Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ”, những vị ấy nói không đúng lời của Ta, đã vu oan không xác thật cho Ta. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh, sống khắc khổ… Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh, sống khắc khổ… Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện chú, thiên giới, thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh nhưng sống ít khắc khổ hơn… Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh nhưng sống ít khắc khổ hơn… Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Này Kassapa, khi đã biết đúng với sự thật sự lai, khứ, sanh, diệt của những người tu khổ hạnh như vậy, làm sao Ta lại chỉ trích mọi khổ hạnh và tuyệt đối phỉ báng mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ?”

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong08.htm

Hoa Nguyen Trích KINH TẠP A-HÀM
Trên có dịp nói tới Vô Ngã nên tôi giới thiệu đoạn kinh sau đây về quan điểm Vô Ngã thời Phật giáo Nguyên Thủy hay thời Bộ phái, trích lại từ kinh Tạp A-Hàm.
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-aham-tap/tap07.htm
Đáng chú ý ở câu kinh lặp lại : ” tất cả chúng chẳng phải là ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau”.
“Chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã” gọi là Bất Nhị, được đặt tên cho kinh số 153 ( Kinh Bất Nhị, Tạp A-Hàm). Tư tưởng này rất quan trọng trong Phật giáo Bắc tông.

KINH 139. ƯU NÃO SANH KHỞI[1]
Cho nên, này các Tỳ-kheo, những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng chẳng phải là ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Cũng vậy, cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết, cái sở cầu, cái sở đắc[3], cái được nhớ nghĩ, cái được tùy giác, cái được tùy quán; tất cả đều chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.
“Nếu có kiến chấp cho rằng có ngã, có thế gian, có đời này, có đời khác, là pháp thường hằng, không biến dịch, thì tất cả đều chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.
“Lại nữa, nếu có kiến chấp cho rằng không phải cái tôi đời này, không phải cái của tôi đời này[4], không phải là tôi trong tương lai, không phải là cái của tôi trong tương lai; thì tất cả chúng cũng đều chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

Hạnh Trương Đoạn này là lạ🙂, từ link của anh Hoa Nguyen ở trên

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Do có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, KHIẾN CHO chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Như vậy, ta và cái kia[17], tất cả không phải hai, không phải khác, bất diệt?’”

(do có cái gì, do hệ lụy cái gì, ĐẮM ĐUỐI cái gì, KHIẾN CHO chúng sanh thấy bất nhị, nói bất nhị ?)

Hoa Nguyen Để tránh kinh bị tùy tiện sửa đổi, tôi copy lại cả bài kinh dẫn trên.
KINH 139. ƯU NÃO SANH KHỞI[1]
KINH 139. ƯU NÃO SANH KHỞI[1]
Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Do có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, mà nếu ưu, bi, khổ, não chưa khởi, thì khiến cho nó khởi; ưu, bi, khổ, não đã khởi, thì khiến cho nó càng tăng trưởng rộng lớn thêm?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Thế Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Cúi xin Thế Tôn nói rộng ra; các Tỳ-kheo sau khi nghe xong sẽ vâng lời thực hành.”

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Do có sắc, sanh khởi sắc, hệ lụy, đắm đuối sắc, nơi sắc thấy ngã, cho nên, ưu, bi, khổ, não chưa khởi thì khiến cho khởi; ưu, bi, khổ, não đã khởi, thì khiến tăng trưởng rộng thêm. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
Lại hỏi:
“Vô thường có phải là khổ chăng?”
Đáp:
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Như vậy, này các Tỳ-kheo, nếu vô thường là khổ. Vì có khổ này nên sanh khởi sự ấy[2], hệ lụy, đắm đuối, thấy ngã, cho nên, ưu, bi, khổ, não chưa khởi thì khiến khởi; ưu, bi, khổ, não đã khởi thì khiến cho tăng trưởng rộng lớn thêm. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Cho nên, này các Tỳ-kheo, những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng chẳng phải là ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Cũng vậy, cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết, cái sở cầu, cái sở đắc[3], cái được nhớ nghĩ, cái được tùy giác, cái được tùy quán; tất cả đều chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

“Nếu có kiến chấp cho rằng có ngã, có thế gian, có đời này, có đời khác, là pháp thường hằng, không biến dịch, thì tất cả đều chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

“Lại nữa, nếu có kiến chấp cho rằng không phải cái tôi đời này, không phải cái của tôi đời này[4], không phải là tôi trong tương lai, không phải là cái của tôi trong tương lai; thì tất cả chúng cũng đều chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

“Nếu đa văn Thánh đệ tử ở nơi sáu kiến xứ này mà quán sát chẳng phải là ngã, chẳng phải ngã sở. Quán sát như vậy rồi, thì dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Phật, dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Pháp và đối với Tăng. Đó gọi là, Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không còn trở lại tạo nghiệp thân, miệng, ý để đưa đến ba đường ác; giả sử có buông lung, Thánh đệ tử cũng nhất định hướng đến chánh giác[5], bảy lần qua lại trời người, rồi cứu cánh biên tế khổ.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Hạnh Trương

KINH 153. BẤT NHỊ[16]

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Do có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Như vậy, ta và cái kia[17], tất cả không phải hai, không phải khác, bất diệt?’”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp (…).”

Chi tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).

Mymamut Mamut @Hạnh Trương:  Những lời đầu tiên trong Kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN ĐỨC PHẬT đả tỏ rỏ. Admln có thể tìm để rỏ.

Mymamut Mamut @ Phạm Doãn: Bài kinh MN 11 này rất quan trọng, vì tại đây Đức Phật trực tiếp tranh luận chủ đề “gai góc” nhất từ ngàn xưa, cho tận đến ngày nay:
– Cái gì là Triết lý và Cứu cánh giải thoát của Đạo Phật?
– Cái gì không phải là Triết lý, cũng không phải là Cứu cánh giải thoát của Đạo Phật?

Tranh luận này đương nhiên không phải là “hí luận”!
Việc tranh luận để phân biệt và xác định Chánh Pháp, chính là vấn đề sinh tử của Đạo Phật!
Vì nếu không phân biệt được rạch ròi giữa cái là “Chánh Pháp của Đức Phật” và những “Các Giáo Pháp không phải của Đức Phật” thì sự nhầm lẫn hoặc sự mơ hồ này sẽ giết chết Đạo Phật!
– Với trí tuệ của mình, Đức Phật đã biết rõ đây là vấn đề tồn vong của Đạo Phật, ngay lúc Ngài còn sống, và nhất là biết rõ tình hình Đạo Phật sau khi ngài đã nhập diệt! Và Ngài đã khuyên các đệ tử phải tranh luận thật hết mình, phải tranh luận mạnh mẽ như với “tiếng rống uy lực của loài sư tử”, để giải thích và khuất phục những ngoại đạo (ngày xưa) hoặc những giáo phái mạo danh Đạo Phật (ngày nay)!
1. Các Giáo Phái thuộc loại “tự nhận là Đạo Phật” luôn né tránh sự tranh luận này. Luôn cho sự tranh luận này là quá khích! Họ cho rằng không cần phải phân biệt chi li như vậy. giáo pháp nào cũng tốt, dù giáo pháp của Đức Phật có được phát triển, có thay đổi nội dung cách nào cũng đều tốt, cũng đưa đến cứu cánh giải thoát …”y như nhau” mà thôi!
2. Các giáo phái “tự nhận là Đạo Phật” cũng luôn gán ép sự tranh luận này với việc làm gọi là…. “mất đoàn kết trong các tăng đoàn”!!! (Giáo Hội PG Việt Nam hiên nay bắt nguồn từ 11 đoàn thể gồm nhiều tăng đoàn khác nhau!!!). Lý luận rất “trong sáng và hợp lý” mà họ luôn đưa ra như là khẩu hiệu: Đại Thừa, Nguyên Thủy, Khất Sĩ…đều chung một cỗ xe!!!
Vì các thành viên Pali Chuyên Đề hay Phật tử và các vị xuất gia mọi nơi ở VN, chưa có ai thực sự cất tiếng “RỐNG” đầy uy lực (theo yêu cầu của Đức Phật)
Phạm Doãn, chẳng đặng đừng, phải cất tiếng “rên” yếu đuối của mình….!!!
Nếu, ngay cả tiếng “rên” này không ai nghe thấy thì …

Trước nay tôi vẫn chôn dấu vấn đề “nhạy cảm” này trong blog cá nhân của mình. Tôi còn nhớ bài viết đầu tiên, khi tôi vừa biết đến Đạo Phật nguyên thủy, vào lúc xuất gia gieo duyên, là bài “Có chăng tám vạn bốn ngàn pháp môn?” Bài viết này đã gây dư luận “xấu”, làm bạn bè xa lánh! Mà giải thích cách nào cũng không ai chịu hiểu!!! Họ chỉ nói người viết bài có tinh thần bộ phái, chia rẽ sự hòa hợp của các pháp môn, làm hoang mang các phật tử! v.v…và v.v…
– Nhiều người đến blog của tôi để lấy bài này hay bài kia về blog của họ. Nhưng như tôi theo dõi, thì chẳng ai dám rinh trái bom “Tám vạn bốn ngàn pháp môn” về blog của họ ! Nhất là những trang blog được coi là “lớn và uy tín”!!!. Duy chỉ có một trang web dám “rinh bom về nhà” là trang Pali Việt (thật lạ!)
– Hôm nay cùng PLCĐ học bài kinh “Sư Tử Hống”, tôi có nên tiếp tục né tránh vấn đề này không? Kinh Điển Pali sờ sờ ra kia! Tránh là tránh thế nào!
– Tôi tự nghĩ : Mình không phải là Sư, nhận thức của mình không lệ thuộc vào tăng đoàn hay giáo hội. Mình cũng chẳng cần phải duy trì cái chức vụ nào trong tăng đoàn hay giáo hội. Vậy thì sao không dám đưa vấn đề ra thảo luận, dù chỉ một lần?

Ngày xưa, lúc Phật còn tại thế, đã có những “Đạo Phật” mà không được chuẩn mực theo Chánh Pháp. Hậu quả là số tỳ khưu chứng đắc đã giảm đi!
– Ngày nay, Đức Phật đã mất, Chánh-Pháp lung lay, Có các bậc đạo sư tự cho quan diểm triết ý, tu tập, và giác ngộ theo ý của mình (bỏ qua các pháp ấn và bốn quả Sa Môn). Đây là một sự thực rõ ràng và phổ biến.
– Vấn nạn này được đưa lên PLCĐ khi học bài kinh Sư Tử Hống, là vì nó là sự thực, chắc chắn không phải vì quan điểm của riêng tôi hay của riêng ai!

Đức Phật nói khi “vàng giả” xuất hiện thì “vàng thật” mới có nguy cơ mất đi. Ngài muốn ám chỉ nếu có các loại Đạo Phật giả xuất hiện thì Chánh Pháp (Diệu Pháp) mới bị thoái trào và bị tiêu diệt. Vậy nguyên nhân của Đạo Phật thoái trào là do có quá nhiều các bậc Đạo Sư đã tự sáng tác quá nhiều pháp môn tu tập hay tự tạo ra quá nhiều kiểu giải thoát theo ước muốn riêng tức nghiệp riêng của họ. Ví dụ các bậc thày tuyên bố giác ngộ mà không cần lộ-tâm đi qua bốn quả sa môn như qui trình giác ngộ của Đạo Phật chân chánh. Đức Phật nói các giáo pháp này chỉ trông giống như …Đạo Phật, nhưng không phải là Đạo Phật “chính gốc”. Chữ “Tượng Pháp” là dùng để chỉ các loại Đạo Phật chỉ “tương tự” chứ không phải Đạo Phật thực sự.

Mọi người có thể kiểm chứng (đúng-sai) vấn đề này qua bài kinh Pali -Saddhammapatirupaka Sutta. Thày Thích Minh Châu dịch là “Kinh Tượng Pháp”, thuộc Tương Ưng Bộ Kinh (16.13).
– Trên blog của Phạm Doãn, tựa đề bài kinh này được giải thích trong ngoặc là “Kinh Giả mạo Diệu Pháp” cho mọi người dễ hiểu.
– Bhikkhu Thanissaro dịch là: A Counterfeit of the True Dhamma

Với tôi đây là những chia sẻ thật đúng lẻ.
TỨ THÁNH ĐẾ LÀ ÂM THANH DUY NHẤT ĐỂ CÓ THỂ CẤT TIẾNG RỐNG CỦA CON SƯ TỬ TRÊN THẾ GIAN NẦY.
Kính

Phạm Doãn

@Mymamut Mamut à …Bốn quả sa môn, tức bốn thánh quả, tức bốn mức độ tu chứng (nhập lưu, Thất lai, Bất lai, A La Hán) mới là biểu hiện cho giác ngộ của Đạo Phật. Còn Tứ Thánh Đế (Khổ-Tập-Diệt-Đạo) thì chưa phải! Đức Phật muốn nhấn mạnh “bốn thánh quả” này như một bằng chứng rõ ràng đó là Đạo Phật! (ngoài ra còn có những lý luận để nói rằng Đạo Phật không giống các Đạo khác ở nhiều điểm).

Minh Quang (Tương Ưng Bộ – Samyutta Nikaya-Tập IV – Thiên Sáu Xứ-VII. Thuyết Pháp)

”…– Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?

— Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.

4) — Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?

— Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.

5) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?

— Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.

6) — Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.

7) Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
8) Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài…”
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-42.htm

mq nghĩ rằng phật pháp chiếu soi khắp chốn,bình đẳng… ánh nắng trải đều không phân biệt,dù đó là nơi đồng ruộng tươi tốt,phì nhiêu đẹp đẽ…hoặc nơi ẩm ướt,hoang vu,sỏi đá…hoặc ánh nắng cố vươn tới qua tán,lá bụi rậm,hang động tối tăm…

tâm con người nó có nhiều nơi chốn từ thiên đường tới địa ngục…có những con người lòng từ bi,trí tuệ là những vị thánh,nhưng có những con người có những tội ác còn thua cả loài thú… tất cả là do tâm sinh và giáo pháp chính là những vị thuốc chữa trị mọi thứ tâm trên đời,giúp con người thoát khỏi mọi phiền não đau khổ

Mymamut Mamut @Phạm Doãn : Theo Bạn thì NHÂN GÌ : Dẫn đến BỐN QUẢ THÁNH (Bốn quả sa môn, tức bốn thánh quả, tức bốn mức độ tu chứng (nhập lưu, Thất lai, Bất lai, A La Hán) ?

Hạnh Trương Chen ngang nha🙂, nhân NHÂN🙂

Mymamut Mamut Kính. Chỉ mong nhận chia sẻ. Mong Hoan Hỹ

Hoa Nguyen Nhiều người đọc kinh Phật chỉ nắm lấy nghĩa gần, như cho trong kinh này Phật dạy chỉ Phật giáo (chân chính) mới có Tứ thánh quả. Xin thử hỏi ngày nay ai trong đạo Phật được nhận (hay tự nhận mình) là Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán ? Chỉ có ý nghĩa…See More

Hoa Nguyen Kinh điển chỉ ghi lại điều Phật dạy sau 4-500 năm khẩu truyền qua nhiều ngôn ngữ, địa phương. Như vậy đó là ý nghĩa của “tượng pháp”, nghĩa là pháp không chắc là đúng như điều Phật Thích Ca đã dạy mà được hiểu, được truyền lại qua cửa miệng nhiều người, qua dịch thuật nhiều ngôn ngữ trước khi chép xuống bằng hai ngôn ngữ được biết. Kinh chép Phật đã nói với ông Ananda là Phật pháp chỉ tồn tại trong 500 năm sau khi Phật nhập diệt, có thể là do ý nghĩa trên: những điều còn ghi lại bằng Sanskrit hay Pali chỉ phản ánh phần nào ý tưởng của Đức Thích Ca.
Đòi hỏi các tông phái Phật giáo ngày nay nên tranh luận như thời Bộ phái thì chỉ có ở những người chưa thật thấm nhuấn đạo Phật và chưa hiểu rõ lịch sử đạo Phật. Dường như các sư đều tránh chuyện này.
(Post lại sau khi sửa vài lởi chính tả)

Phạm Doãn Thảo luận tiếp theo hai comments của Anh Hoa Nguyen.

Tôi (Phạm Doãn) cũng nghi ngờ về quan điểm giác ngộ trong Đạo Phật, rằng sự giác ngộ có cần thiết phải dựa vào bốn quả sa môn hay không? Nếu chỉ căn cứ vào một bài kinh “Sư Tử Hống” thì ít quá, có thể bản kinh này là tam sao thất bổn!

Tôi có đọc lại kinh Đại Bát Níết Bàn. DN 16, tụng phẩm V, đoạn 24 đến đoạn 27
– Ngay đến lúc tàn hơi, sắp lìa bỏ thế gian, mà Đức Phật còn cố giải thích với một du sĩ ngoại đạo Subhadda về giáo pháp của ngài. Không hiểu sao, Ngài lại cứ nói về bốn quả sa-môn như chuẩn mực tiêu biểu của Đạo Phật:

“ 24. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana, khu rừng Sàla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ananda và thưa với tôn giả:
– Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
Khi được nói vậy, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:
– Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
Lần thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda … Lần thứ ba, du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:
– Hiền giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
Lần thứ ba, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:
– Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
25. Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả Ananda với du sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ananda:
– Thôi Ananda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ananda, hãy để cho Subhadda được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi Ta là hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta. Và những gì Ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý nghĩa một cách mau lẹ.
Tôn giả Ananda liền nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:
– Này Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã cho phép Hiền giả.
26. Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ Thế Tôn, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:
– Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các ngài Pàrana Kassapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesakambalì, Pakadha Kaccàyana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàthaputta, tất cả những vị này có phải là giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ?
– Thôi Subhadda, hãy để vấn đề này yên một bên: “Tất cả những vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ”. Này Subhadda, Ta sẽ thuyết pháp cho Ngươi. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Du sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
27. – Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.
Này Subhadda, năm hai mươi chín,
Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.
Trải năm mươi năm với thêm một năm
Từ khi xuất gia, này Subhadda,
Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.
Ngoài lãnh vực này, không có Sa-môn đệ nhất cũng không có Sa-môn đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng không có Sa-môn đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì đời này không vắng những vị A-la-hán.

Hạnh Trương Đoạn cuối có nhiều cái thú vị ghê, phải mò Pali mới được, hihi

Phạm Doãn Sao Đức Phật cứ nói hoài, nói mãi… cùng một vấn đề trùng lặp vậy Hạnh Trương:

– Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn.

Hoa Nguyen Kinh Trung Bộ (Nam truyền) có Tiểu kinh Sư tử hống và Đại kinh Sư tử hống. Kinh Trung A-hàm (Bắc tạng) chỉ có kinh Sư tử hống sau đây.
Kinh Trung A- Hàm
103. KINH SƯ TỬ HỐNG
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham103.htm

Hoa Nguyen Tiểu kinh Sư tử hống (Trung Bộ) :

“– Này các Tỷ-kheo, chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn. Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy chân chánh rống tiếng rống sư tử như vậy”.
Kinh Sư tử hống (Trung A-hàm): ” “Ở đây[03] có Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư. Ngoài đây ra[04] không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn toàn không có[05] Sa-môn, Phạm chí. Trong bất cứ chúng hội, các ngươi hãy chân chánh rống tiếng rống như sư tử vậy.

Phật dạy hãy nói như “sư tử rống” (tôi hiểu hãy xác minh mạnh mẻ) là chỉ đạo Phật mới có “Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư”, là vì thời Phật đã thật sự có những bậc sa-môn như vậy tu tập quanh Phât. Còn bây giờ nếu chúng ta muốn nói như lời Phật thì trước thử nhìn quanh coi ai là “Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư”. Thật không có ý thất kính với ai đắc đạo, chỉ do ý nghĩ thiển cận, chân chất. Nếu có, thì không phải là nhiều.

Hoa Nguyen Thật ra, bản thân tôi tin hiện nay nhiều người khi theo con đường tu học do Đức Thích Ca chỉ dạy đã chứng đắc tới mức nào đó theo như kinh điển ghi chép, nhưng khó đánh giá cho đúng mức chứng đạo vì họ không bày tỏ cho nhiều người biết. Nếu không tin như vậy thì nhiều người và riêng tôi chắc sẽ không tiếp tục đi trên con đường đó, vì không phải dễ đi, dễ theo, và không phải luôn gặp được niềm vui trên đường. Thật sự, ngày nay vẫn còn nhiều bậc đạo cao đức trọng trong Phật giáo thuộc nhiều tông phái, là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo, học hỏi. Trong hơn hai ngàn năm họ tiếp nối giữ gìn được Phật pháp như ngọn đuốc luôn soi sáng cho loài người trong bóng tối vô minh. Nhưng thuyết phục được người ngoại đạo thấy biết điều đó như ta thấy thì thường khó lắm.

Minh Quang (Tăng Chi Bộ – Anguttara Nikaya-Chương VIII – Tám Pháp)

”…Tám thế gian pháp này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?

2. Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và đau khổ.

Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.

3. Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ. Với vị Thánh đệ tử nghe pháp, cũng sanh ra lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có đặc thù gì, thù thắng gì, có sai khác gì giữa vị Thánh có nghe pháp và kẻ phàm phu không có nghe pháp?

– Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn giảng cho ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

– Vậy này các Tỷ-kheo, hãy lắng nghe và suy niệm kỹ, Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

4. – Với kẻ phàm phu không nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy không có suy tư: “Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, khổ, biến hoại”. Vị ấy không như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên tán thán … khởi lên chỉ trích … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy không có suy tư: “Khổ này khởi lên nơi ta, khổ ấy là vô thường khổ, biến hoại”. Vị ấy không như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, không lợi dưỡng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, danh vọng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, không danh vọng xâm nhập tâm của người ấy và an trú, tán thán xâm nhập tâm của người ấy và an trú, chỉ trích xâm nhập tâm của người ấy và an trú, an lạc xâm nhập tâm của người ấy và an trú, đau khổ xâm nhập tâm của người ấy và an trú”. Người ấy thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên và nghịch ứng với không lợi dưỡng; thuận ứng với danh vọng được khởi lên và nghịch ứng với không danh vọng; thuận ứng với tán thán được khởi lên và nghịch ứng với chỉ trích; thuận ứng với an lạc được khởi lên và nghịch ứng với đau khổ; Người ấy đầy đủ thuận ứng, nghịch ứng như vậy, không có giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, người ấy không thoát khỏi khổ.

5. Với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, này các Tỷ-kheo, khởi lên lợi dưỡng. Vị ấy có suy tư: “Lợi dưỡng này khởi lên nơi ta, lợi dưỡng ấy vô thường, đau khổ, biến hoại”. Vị ấy như thật rõ biết … khởi lên không lợi dưỡng … khởi lên danh vọng … khởi lên không danh vọng … khởi lên tán thán … khởi lên chỉ trích … khởi lên an lạc … khởi lên khổ đau. Vị ấy có suy tư: “Ðau khổ này khởi lên nơi ta, đau khổ ấy là vô thường, khổ đau, biến hoại”. Vị ấy như thật rõ biết, rằng lợi dưỡng này không xâm nhập tâm của vị ấy và an trú, không lợi dưỡng …., danh vọng….., không danh vọng …. tán thán… chỉ trích… an lạc… đau khổ không xâm nhập tâm của vị ấy và an trú. Vị ấy không thuận ứng với lợi dưỡng được khởi lên, không nghịch ứng với không lợi dưỡng; không thuận ứng với danh vọng được khởi lên, không nghịch ứng với không danh vọng; không thuận ứng với tán thán được khởi lên, không nghịch ứng với chỉ trích; không thuận ứng với an lạc được khởi lên, không nghịch ứng với đau khổ; Vị ấy do đoạn tận thuận ứng, nghịch ứng như vậy, nên giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, vị ấy thoát khỏi khổ…”
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi08-0103.htm

tám pháp thế gian(được- mất,khen -chê,vinh -nhục,khồ-lạc)là 8 ngọn gió”Tùy Chuyển Thế Giới” với những người nào vẫn còn tham(thuận ứng)với hoàn cảnh thuận lợi,còn sân(nghịch ứng) với những hoàn cảnh không thuận lợi thì không thể thoát khỏi phiền não đau khổ

với những người nào không còn tham(thuận ứng)với hoàn cảnh thuận lợi,không còn sân(nghịch ứng) với những hoàn cảnh không thuận lợi thì có thể thoát khỏi phiền não đau khổ(và có lẽ đó có thể là một cách xem các vị ấy đã đắc đạo hay chưa)

Hoa Nguyen Điều khiến Sa-môn (thông thường), Bà la-môn khác với Sa-môn của đạo Phật, là dù cho họ liễu tri, đoạn trừ hết các chấp thủ, nhưng không liễu tri, đoạn trừ được “ngã thủ” hay “ngã luận thủ” như sa môn PG.
Thủ là sự nắm giữ, chấp chặt. Có 4 chấp thủ là dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã luận thủ (ngã thủ). Dục thủ là chủ trương hưởng lạc; giới cấm thủ là theo giữ những giới luật tà vạy, như những người tu khổ hạnh cực đoan; kiến thủ là khư khư giữ quan điểm riêng; ngã luận thủ đồng nghĩa với “ngã kiến” (thấy có ngã, ngã sở).

Tiểu kinh Sư tử hống (Trung Bộ) viết : “Chư Tỷ-kheo, có bốn chấp thủ. Thế nào là bốn? Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ.
Chư Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn tuy tự xưng liễu tri tất cả thủ, nhưng không chơn chánh hiển thị sự liễu tri tất cả thủ. Họ hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến thủ, sự liễu tri về giới cấm thủ, nhưng không hiển thị sự liễu tri về ngã luận thủ.
Như Lai hiển thị sự liễu tri về dục thủ, sự liễu tri về kiến thủ, sự liễu tri về giới cấm thủ, sự liễu tri về ngã luận thủ”.

Kinh Sư tử hống (Trung A-hàm) viết:“Lại có Sa-môn, Phạm chí chủ trương đoạn trừ thủ nhưng không chủ trương đoạn trừ tất cả thủ; chỉ chủ trương đoạn trừ dục thủ, giới thủ, kiến thủ mà không chủ trương đoạn trừ ngã thủ.
“Nếu có Đức Như Lai ra đời, là Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, gọi là Phật, là Đấng Chúng Hựu, Ngài cũng chủ trương đoạn trừ thủ. Ngay trong đời này, Ngài chủ trương đoạn trừ tất cả thủ, thi hành đoạn trừ dục thủ, giới thủ, kiến thủ, ngã thủ.”.

Chúng ta nhớ muốn vào được hàng Dự Lưu của Phật giáo phải đoạn trừ được ba kiết sử là thân kiến, nghi, Giới cấm thủ. Thân kiến là chủ trương thân là ta, của ta.
Vậy sau cùng chỗ khác nhau giữ Sa-môn ngoại đạo và Sa môn Phật giáo là ở chỗ có còn chấp ngã (chủ trương hữu ngã) hay phá được ngã chấp (vô ngã). Các sa-môn ngoại đạo còn ngã thủ không thể vào Dự Lưu (sa môn thứ nhất) của Phật giáo.

Minh Quang (Luận giải Kinh Chánh Tri Kiến-Tỳ khưu Chánh Minh- Tiêu đề 7- Trí hiểu rõ về Thủ (upādāna).

”…“Chư Hiền, thế nào là thủ, thế nào là tập khởi của thủ, thế nào là sự đoạn diệt của thủ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ?.

Chư Hiền, có bốn thủ (cattāro’ me āvuso upādāna): Dục thủ (kāmupādānaṃ), Kiến thủ (diṭṭhūpādānaṃ), Giới cấm thủ (sīlabbatupādānaṃ), Ngã luận thủ (attavādupādāna).

Từ tập khởi của ái có tập khởi của thủ, từ đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thủ, và Thánh đạo tám ngành là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ”.

Giải.

1- Ý nghĩa từ upādāna (thủ).

Upādāna = upa (vững chắc, rất mạnh) + ādāna.

Ādāna = ā + căn dā (cho): ādāna là bám níu lấy, nắm giữ vững chắc. Nắm giữ chắc chắn, gọi là thủ.

Thủ là hình ảnh của ái (taṅhā) rất cường mạnh.

Luận sư Anuruddha có ví dụ như sau: “Ái như tên trộm rình mò trong bóng tối để trộm vật, còn Thủ là hành động lấy vật ấy” [1].

Thủ là sự chấp cứng không chịu buông bỏ, ví như con trăn xiết chặt con mồi hay ví như dây leo māluvā bám chặt vào thân cây [2].

Các Ngài có giải thích upādāna (thủ) như sau:

“Bhusaṃ ādiyanti amuñcagātaṃ gayhaṃtīti upādānāni:

Bám chắc không buông bỏ, gọi là thủ”.

Hay: “Upādiyantīti = upadānāni: bám cứng gọi là thủ”.

Đức Phật có dạy:

“Tattha chandarāgo taṃ tattha upādānan’ti.

“Chỗ nào có tham và dục (chanda), chỗ ấy có chấp thủ.”[3]….”
http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/ctk04.htm

Hạnh Trương Thủ nguy hiểm quá , khổ cái là tập niệm sai là thủ gớm lắm, mà thủ nặng là sân gớm lắm….

Minh Quang chúng ta thấy, luận giảng kinh điển miêu tả: thủ upādāna(bám chặt vào đối tượng), tham lobha (bám chặt vào đối tượng), tứ Vicāra (buộc tâm vào một chỗ,tập trung trên đối tượng),Ðịnh Samādhi(là dán chặt tâm vào đối-tượng)….

nghe sao giống nhau quá…?

Hoa Nguyen Không thể để lẫn lộn. Phật giáo nói có Chánh Định và cũng có Tà Định tùy đối tượng, mục đích của định. Tham là ác pháp (dục lại khác tham), nhưng Tứ là tâm sở Vô ký , không thiện, không bất thiện, mà tùy đối tượng, dụng tâm.

Minh Quang mq cũng nghĩ chúng có động cơ khác nhau nhưng cùng có mục đích(bám chặt,neo chắc tâm trên đối tượng đã chọn)

Hoa Nguyen Có thể cùng “động thái” (cách hành động), không phải cùng mục đích theo đuổi (đằng sau hay động cơ hành động).

Minh Quang theo kinh điển thì:tham lobha (hoặc cùng gốc tham như:dục kàma hoặc ái ràga) thì không bao giờ có định Samādhi (chúng như nước và lửa),chẳng hạn theo kinh điển thì các chi thuộc sơ thiền (tầm,tứ,hỉ,lạc,nhất tâm) chỉ có được khi tạm thời dẹp các chướng ngại(tham,sân,hôn trầm,phóng tâm,hoài nghi)

Hoa Nguyen Tôi chỉ muốn nói trong context đó: Tham là bất thiện pháp, nhưng Dục có thể thiện hay bất thiện. Những điều khác nói như trên là không sai. Nhưng thử nghĩ, khi ngồi thiền có thể bắt đầu với mong muốn (Dục) buổi hành thiền được kết quả tốt không.

Hạnh Trương bạn mq trước khi đưa mấy vấn đề lên đây có lẽ nên tự mình đọc kỹ, không nên xem thoáng qua rồi đưa lên như vậy. (admin)

Minh Quang trong ngôn ngữ pali thì hình như dục kàma (hàm ý dục bất thiện,tức là ngũ dục….) còn dục chanda(thì bao hàm cả thiện lẫn bất thiện, nhưng hay dùng với hàm ý thiện hơn)

Hoa Nguyen Chúng ta nên hiểu kinh không được viết cẩn thận như một bài Essay ở đại học ngày nay với sự chọn lựa thật kỹ từng chữ sử dụng. Tất nhiên Phật là bậc trí tuệ, nhưng nhìn lại bản đồ mô tả vùng rộng lớn ngài đi truyền pháp thì ngài đã phải dùng rất nhiều ngôn ngữ khác nhau ở Ấn Độ thời đó. Các đệ tử đi theo, như ông Ananda, sau phải dịch lời Phật từ tiếng nói địa phương nào đó ra ngôn ngữ cổ Magadhi (khi kết tập kinh điển), và từ đó chuyển ngữ qua Sanskrit hay Pali. Ngày nay, nếu đọc bản kinh Việt dịch thấy chữ dùng nào khó hiểu thì tra tìm từ nguồn tiếng Pali. Nhưng cũng không bảo đảm tiếng Pali đã diễn tả đúng ý Phật khi ngài nói bằng ngôn ngữ khác. Vậy phải cần nhiều dụng công tìm hiểu, so sánh lời Phật từ nhiều nguồn khác nhau nếu có thể, và có khi cũng không chắc là giải thích đúng ý Phật. Chúng ta chỉ có thể làm hết sức mình trong việc tìm hiểu, và không nên tự mãn.

Hoa Nguyen Chữ sử dụng trong Vi Diệu pháp chính xác, với câu ngắn gọn, rõ nghĩa, lý luận khúc triết, chặt chẽ. Tôi nghĩ đó là văn viết. Cho nên có thể đào sâu, phân tích từng từ ngữ mà không sợ đi quá xa.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s