KINH MN 012 – ĐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG (MAHĀSĪHANĀDASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 12 – Đại Kinh Sư Tử Hống (Mahāsīhanādasutta)

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung12.htm

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Ñanamoli Thera & Bhikkhu Bodhi

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.012.ntbb.html

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/012.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 12

1. Trích giảng Đại kinh Sư Tử Hống – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-012.htm

2. Toát yếu Đại Kinh Sư Tử Hống – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-02.htm

3. Mười Lực của Như Lai

http://www.budsas.org/uni/u-vdp2/vdp22-05.htm

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-vdp2/cgbpt05.htm

 

III. ĐỀ CƯƠNG

  •         Nội dung của bài Đại Kinh Sư Tử Hống
  •         Mười Lực của Như Lai
  •         Mối quan hệ giữa hai bài Tiểu kinh và Đại Kinh Sư Tử Hống

 

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn Giải Thích về chữ TÙY PHÁP (DHAMMANVAYO)…..
Một đoạn kinh mà thày Minh Châu dịch có chữ “Tùy Pháp”:
– Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
Chữ Hán –Việt “TÙY PHÁP” hơi khó hiểu

Bhikkhu Nanamoli&Thanissaro dịch:
– “Sariputta, this misguided man Sunakkhatta will never infer of me according to Dhamma: ‘That Blessed One is accomplished, fully enlightened, perfect in true knowledge and conduct, sublime, knower of worlds, incomparable leader of persons to be tamed, teacher of gods and humans, enlightened, blessed.’
Chữ “Tùy pháp” (dhammanvayo) được dịch sang tiếng Anh là “INFER…according to Dhamma”

Infer
v. inferred, inferring, infers
v.tr.
1. To conclude from evidence or premises.
2. To reason from circumstance; surmise: We can infer that his motive in publishing the diary was less than honorable.
3. To lead to as a consequence or conclusion: “Socrates argued that a statue inferred the existence of a sculptor” (Academy).
4. To hint; imply.
v.intr.
To draw inferences.

n. Inference
1. the act or process of inferring
2. an inferred conclusion, deduction, etc.
3. (Philosophy / Logic) any process of reasoning from premises to a conclusion
4. (Philosophy / Logic) Logic the specific mode of reasoning used See also deduction [4] induction [4]
(Collins English Dictionary)

Vậy chữ “Tùy” có thể hiểu là “suy diễn, căn cứ vào”; “Tùy pháp” có thể hiểu là “suy diễn hay căn cứ vào Pháp để kết luận…”

Có thể hiểu đại khái đoạn kinh trên có ý là:
– “Này Sariputta, đối với Sunakkhata ngu si kia, sẽ không biết căn cứ vào Pháp để nhận ra Ta là: Như lai, A La Hán……..”

Hoa Nguyen Bổ túc thêm lời chú giải của HT Thích Chơn Thiện :
“Tùy pháp (của bản kinh này): Dhammanvayo (inference from dhamma): sự suy diễn từ pháp, theo pháp (giáo pháp)”.
Vậy có thể hiểu Tùy pháp ở đây là suy diễn theo pháp, hay suy dẫn từ pháp (để biết).

Hai Long Chữ tùy pháp ở đây con thấy khó hiểu đc. Trong bài kinh này Ngài Xá lợi Phất cũng nói đến chữ tùy pháp: 1-2) …

3) — Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?

— Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này….See More

Hoa Nguyen “thực hành đúng pháp và tùy pháp”, nếu dựa vào giải thích của thầy Chơn Thiện, thì câu trên có nghĩa là “thực hành đúng pháp và theo những gì diễn dịch (suy ra) từ pháp”.

Hai Long Đọc đoạn (Năm sanh thú và Niết bàn) con cảm giác giống như mọi cái mà xảy ra trong cuộc đời chúng ta là Định Mệnh, ko có thay đổi được nghiệp quả?

Hoa Nguyen Anh Hai Long thử dẫn chứng một đoạn kinh anh đọc.

Hai Long Dạ, đoạn kinh này đây bác ạh, con cảm giác như tất cả các lậu hoặc, cảm thọ đã được “lập trình” trước: (1) Này Sariputta, ở đây, với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người. Do hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như …See More

Hạnh Trương Đây là một đề tài rất hay🙂

Phạm Doãn Con người có đi theo số phận hay không? Con người có ý chí tự do hay không (free will)? Tất Định Luận (Determinism) đúng hay sai? Những câu hỏi triết lý này luôn được đặt ra, nhưng vô cùng khó trả lời. Đề tài rất bí ẩn so với tâm trí con người bình thường. Có lẽ chỉ những ai thực chứng và giác ngộ mới mong có thể xác quyết được!

Hạnh Trương Trong Chánh Tạng, HT nhớ không nhầm thì chỉ có duy nhất 1 trường hợp đức Phật la lớn về một vị Đạo Sư cùng thời, vị này có giai đoạn là người gần gũi ngài Mahavira, vị Tirthankara 24 của Jaina , sau tách riêng, đó là Gosala Makkhali

4. Ta không thấy một người nào khác, này các Tỷ-kheo, được tuân theo đưa lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, thất lợi cho đa số, đem đến bất hạnh, bất lạc cho chư Thiên và loài Người, này các Tỷ-kheo, như kẻ ngu si.

Ví như, này các Tỷ-kheo, tại cửa sông có đặt một cái nơm bẫy cá, đem lại bất hạnh đau khổ, tổn thương, tổn hại cho nhiều cá. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si Makkhali xuất hiện ở đời, Ta nghĩ rằng như là một cái nơm bẫy cá cho loài Người, đưa đến bất hạnh, bất lạc, bất lợi, đau khổ, tổn thương, tổn hại cho nhiều loại hữu tình.

(Tăng Chi Bộ, XVIII. Phẩm Makkhal)

Nếu HT nhớ không nhầm thì Makkhali Gosala chủ thuyết Định Mệnh

Hạnh Trương Thắc mắc của Hai Long cũng cho thấy một điểm đáng lưu ý khi đọc kinh. Từ nội dung là đức Phật thấy gì đó tới kết luận là tồn tại cái gì đó như định mệnh.

Chúng ta đọc DN1, kinh Phạm Võng, có thể thấy là nếu chỉ dựa trên cái thấy, cái kinh nghiệm (ở đây là một đoạn trong bài kinh ) để có kết luận tổng quát về đề tài gì đó có thể dẫn tới tà kiến và nguy hiểm.

Hiếu Nguyễn Bài kinh này có nhiều điểm hay quá.

1. Tiếng rống của chúa sơn lâm:

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì một Sa-môn Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Pháp do quý vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

2. Hậu quả của tà kiến là không nhỏ:

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy mà còn nói: “Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”. Này Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy; không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, như Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu Thiền định, thành tựu trí tuệ có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

3. Các hình ảnh ẩn dụ về 5 cõi và Niết Bàn:

Với hình ảnh ví dụ là “một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước”

a. Địa ngục = “hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có lửa ngọn, không có khói”

Cõi này “phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt”

b. Bàng sanh (sinh làm thú vật) = “hố phân, sâu hơn thân người, đầy những phẩn uế”

Cõi này “phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt”

c. Ngạ quỷ = “một cây sống trên miếng đất không bằng phẳng, với lá thưa thớt, với bóng che từng đám lưa thưa”

Cõi này phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt.

d. Người = “một cây sống trên miếng đất bằng phẳng với lá sum sê, với bóng cây rậm rạp”

Cõi này “cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ”

e. Chư thiên = “một ngôi lầu, có gác nhọn, có tô vôi cả trong lẫn ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. Tại đây có một sàng tọa, trải nệm lông dài, trải nệm màu trắng, trải nệm bông có thêu hoa, trải nệm bằng da sơn dương gọi là kadali, có nệm với khuôn màu treo phía trên, có gối dài màu đỏ cả hai đầu”

Cõi này “cảm thọ được nhiều cảm thọ cực lạc”

f. Niết bàn = “một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, và không xa hồ ấy có khu rừng rậm rạp”

Cái thấy của Đức Phật: “Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc.”

Hiếu Nguyễn Có một đoạn kinh ở gần cuối về trí tuệ biện tài của Như Lai, bản tiếng Việt hơi khó hiểu:

“Này Sariputta, ở đây Ta có bốn vị đệ tử, tuổi thọ đến một trăm, đã sống một trăm tuổi, thành tựu chánh niệm đệ nhất, thành tựu chuyên tâm đệ nhất, thành tựu tinh cần đệ nhất và đầy đủ trí tuệ biện tài tối thượng. Này Sariputta, ví như một người bắn cung thiện xảo, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ, có thể dễ dàng bắn ngang qua bóng một cây ta-la. Cũng vậy, những vị này với chánh niệm đệ nhất như vậy, được thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy, nếu những vị này hỏi Ta nhiều lần một câu hỏi về Bốn Niệm xứ, và nếu Ta, được hỏi nhiều lần như vậy, phải giải thích cho họ hiểu và nếu họ được Ta giải thích như vậy, có thể hiểu như đã giải thích, và nếu họ không hỏi Ta về những vấn đề phụ thuộc và các vấn đề khác, trừ khi ăn, uống, nhai, nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức. Này Sariputta, dầu vậy, sự thuyết pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự giải thích cú pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự trả lời các câu hỏi của Như Lai cũng chưa hoàn tất, khi mà bốn đệ tử của Ta, tuổi thọ đến một trăm tuổi, đã sống một trăm tuổi, đã từ trần sau một trăm tuổi. Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi.”

Đọc bản tiếng Anh thì sẽ dễ hiểu hơn ý tứ của đoạn này:

“Now suppose that I had four disciples with a hundred years’ lifespan, perfect in mindfulness, retentiveness, memory and lucidity of wisdom.[21] Just as a skilled archer, trained, practiced and tested, could easily shoot a light arrow across the shadow of a palm tree, suppose that they were even to that extent perfect in mindfulness, retentiveness, [83] memory and lucidity of wisdom. Suppose that they continuously asked me about the four foundations of mindfulness and that I answered them when asked and that they remembered each answer of mine and never asked a subsidiary question or paused except to eat, drink, consume food, taste, urinate, defecate and rest in order to remove sleepiness and tiredness. Still the Tathagata’s exposition of the Dhamma, his explanations of factors of the Dhamma, and his replies to questions would not yet come to an end, but meanwhile those four disciples of mine with their hundred years’ lifespan would have died at the end of those hundred years. Sariputta, even if you have to carry me about on a bed, still there will be no change in the lucidity of the Tathagata’s wisdom.”

Ý nghĩa đoạn này là: Đức Phật giả sử có 4 vị đệ tử, sống tới trăm tuổi, có đủ năng lực niệm, trí tuệ… là tối thượng. Giả sử là họ liên tục hỏi về Tứ Niệm Xứ và khi nào được hỏi là Thế Tôn trả lời, giả sử là họ thuộc hết các câu trả lời và không hỏi những câu hỏi phụ (ít quan trọng) và không hề ngưng để nghỉ ngơi ăn uống… Thì sự bộc lộ Giáo Pháp, giải thích về Giáo Pháp, và câu trả lời của Như Lai cũng KHÔNG BAO GIỜ cạn kiệt, cho tới khi 4 vị này chết (lúc trăm tuổi). Và cho dù ngài Sariputta phải khiêng Thế Tôn ở trên giường thì không có gì là thay đổi về sự sáng suốt của trí tuệ của Đức Thế Tôn.

Phạm Doãn Đoạn dịch Hiếu Nguyễn vừa nêu trên, nếu đọc tiếng Việt đúng là “rối mù”. Vẫn biết dịch giả khi dịch “rối mù” như vậy là do cẩn thận, do trách nhiệm và do nghiêm túc, không dám bỏ qua cấu trúc của câu kinh Pali. Sư Pāli Việt ơi! có phải dịch giả khu vực tiếng Anh “chịu chơi” hơn dịch giả Việt Nam! (chỉ đùa với Sư chút xíu! hi hi…)!

Pāli Việt Trong lúc tham khảo bản dịch của các dịch giả khác, có nhiều vấn đề lý thú nảy sanh: Có bản dịch English đọc khó hiểu, nhưng lại giúp cho hiểu rõ văn bản gốc Pali; hiểu được bản Pali xong xem lại bản dịch đó thì mới thấy là English của mình chưa đủ. Có bản dịch English đọc thấy hay nhưng không giúp ích nhiều cho việc tìm hiểu câu văn Pali, cũng khó nói đó là bản dịch có đáng tin hay không. Có chuyện vui như thế này: Có 1 người ngoại quốc muốn học tiếng Việt, nhờ Sư dịch câu “How are you?” ra tiếng Việt. Sư dịch là “Anh/ Chị/ Ông/ Bà khỏe không?” thì đã bị phán cho 1 câu: “Là con người xấu, không có thiện chí, dạy tầm bậy” vì trong tập Notes cùa người đó có ghi là: “Anh/ Chị/ Ông/ Bà thế nào?” Hêt ý kiến, đành phải cười trừ.

Hiếu Nguyễn Ban đầu con tưởng là học Pali có thể giúp đọc kinh Pali dễ dàng (hi hi), tới khi học 1 tẹo rồi, dòm vào mới biết là, biết được dăm ba chữ quèn thì đừng hòng mà hiểu được. Việc phải tham khảo các bản dịch là cần thiết, và cuối cùng thì cũng vẫn phải rút ra một kết luận hết sức cá nhân thôi! (lúc này rất rất thông cảm và tôn trọng các dịch giả).

Hy vọng là việc thực hành đều đặn sẽ giúp các vấn đề trở nên rõ ràng hơn, chứ học không thì chắc sẽ có giới hạn trong việc hiểu kinh.

Pāli Việt Lấy tiểu thuyết làm ví dụ: Đọc bản gốc dầu sao cũng thú hơn bản dịch. Hay là gần đây, nếu hiểu được trực tiếp bài diễn văn của Bà Michelle Obama thì thấy thấm thía hơn là đọc bản dịch tiếng Việt. Kinh Phật cũng vậy, những đoạn Kinh quan trọng thì đọc bản Pali hiểu nhiều hơn bản dịch. Giờ hỏi Hiếu Nguyễn câu hỏi này: Để nắm được căn bản tiếng Anh, Hiếu mất bao nhiêu thời gian rèn luyện vậy?

Hiếu Nguyễn Để được như ngày hôm nay là 23 năm, còn để đọc hiểu tốt thì là 15 năm Sư ạ.

Hồi bé học chưa chuyên tâm nên thời gian học bị kéo dài…

Hiếu Nguyễn Con đồng ý là dù tiếng Anh giờ hiểu như vậy, nếu dịch sang tiếng Việt, thế nào ý tứ nó cũng không bao giờ giống được hết. Chuyển ngữ đồng nghĩa với việc thêm + bớt chi tiết (nội dung, sắc thái) của nguyên bản

Pāli Việt Nhưng mà Kinh Phật thì khác, chỉ có thể gọi là Translator chứ không thể là Interpreter.

Hiếu Nguyễn Quá trình “translation” này nó luôn bị lossy Sư nhỉ, dù có làm gì thì làm. Vì bản chất 2 ngôn ngữ là khác biệt.

Hạnh Trương Hehe, đừng có dại làm như Sư, Sư mắc dịch, còn mình chỉ cần hiểu thôi🙂

Pāli Việt Hiếu Nguyễn thử tham khảo đoạn Pali này: Làm sao quyết định nếu không có chút vốn liếng về Pali? Đó là chưa nói đến các bản dịch tiếng Anh nữa.

“Satto guhāyaṃ bahunābhichanno
tiṭṭhaṃ naro mohanasmiṃ pagāḷho,
dūre vivekā hi tathāvidho so
kāmā hi loke na hi suppahāyā.

772. Chúng sanh vào trong hang,
Chấp chặt bị bao trùm,
Người có thái độ vậy,
Chìm sâu trong si mê.
Hạnh viễn ly với nó,
Như vậy thật xa vời,
Các dục ở trong đời,
Không dễ gì đoạn tận.

“Bị dính mắc ở hang (thân xác), bị che đậy bởi nhiều (ô nhiễm), trong khi tồn tại, con người bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục). Quả vậy, người thuộc hạng như thế ấy thì cách xa sự viễn ly, bởi vì các dục ở thế gian thật không dễ gì dứt bỏ.”

Hạnh Trương Kinh nghiệm học ngoại ngữ của HT là kiếm 1 cuốn sách khó nuốt, đọc từ đầu tới cuối vài lần mà không tra từ điển🙂 ( tất nhiên trước đó thì cần có một vốn từ và ngữ pháp tối thiểu )

Với Pali thì hiện tại bó tay, hihi, chỉ có cách làm xem bản song ngữ trên paliviet.info

Pāli Việt Chỉ đoc trang bên trái là PHE TẢ, chỉ đọc trang bên phải là PHE HỮU, còn đọc cả 2 bên phải và bên trái là PHE TA. Hi hi.

Hạnh Trương Hehe, giờ chỉ đọc bản tiếng Việt là không yên tâm, cứ phải có cái bên trái để thỉnh thoảng ngó qua. Đặc biệt là khi gặp các từ mà biết là pali có nhiều từ chi tiết, cụ thể hơn🙂

Thế là Sư thành công rồi đó, hehe

Hai Long Cm của Sư giúp con liên hệ đến bài kinh Gò mối, rất tuyệt! Con thì chỉ đọc đc 1 bên thôi, nhưng mà như vậy đã tuyệt rồi🙂 http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung23.htm

Phạm Doãn Theo “Toát Yếu Kinh Trung Bộ” – Thích Nữ Trí hải

MƯỜI DANH HIỆU PHẬT
Như lai, A la hán, Chính đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế tôn.

MƯỜI LỰC CỦA NHƯ LAI:
1. Trí biết thị xứ phi xứ [do thấy rõ tương quan nhân quả, nên biết được cái gì có thể xảy đến, không thể xảy đến.]
2. Trí biết nghiệp báo trong cả ba thời quá, hiện, vị lai.
3. Biết con đường đưa đến các cảnh giới.
4. Biết tất cả yếu tố tạo thành thế gian [nói rõ trong kinh Trung bộ 115.]
5. Biết chí hướng sai biệt của các loại hữu tình; biết các hạng chúng sinh thượng, trung, hạ, chúng thu hút lẫn nhau do luật đồng thanh đồng khí.
6. Biết căn mạnh hay yếu nơi chúng sinh – tức 5 căn tín tấn niệm định tuệ.
7. Tuệ tri sự tạp nhiễm, thanh tịnh, sự xuất khởi các thiền chứng về thiền, giải thoát, định.
8. Trí biết tất cả kiếp trước của bản thân gọi là túc mạng trí.
9. Trí biết sự sống chết của chúng sinh tùy theo nghiệp hay sinh tử trí.
10. Lậu tận trí, sạch hết tất cả nhiễm ô.

Binh Anson Thông thường, trong kinh điển Pali, “Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu” gom thành một, nên chỉ có 9 danh hiệu Phật thôi.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s