KINH MN 013 – ĐẠI KINH KHỔ-UẨN (MAHÀDUKKHAKKHANDHASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 013 – Đại Kinh Khổ-Uẩn (Mahādukkhakhandha sutta)

 

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung13.htm 

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.013.than.html 

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/013.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 013

 

1. Trích giảng Đại kinh Khổ Uẩn – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-013.htm 

2. Toát yếu Đại Kinh Khổ Uẩn – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-02.htm

3. Dukkha -Wikipediahttp://en.wikipedia.org/wiki/Dukkha

4. Thánh Đế thứ nhất: Dukkha (by Piyadassi Thera – Tỳ Khưu Pháp Thông dịch)

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-cdcoxua/cdcoxua02.htm

5. Diệu Đế thứ nhất: Dukkha (by W. Rahula -T.N.Trí Hải dịch)

http://www.lieuquanhue.vn/index.php/6/4535.html

6. Ba đặc tướng của đời sống (Phạm Kim Khánh)

http://www.budsas.org/uni/u-3dactuong/3dt01.htm#top

 

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn
DUKKHA (Wikipedia)

Dukkha (Pāli; Sanskrit: duḥkha; Tibetan phonetic: dukngal) is a Buddhist term commonly translated as “suffering”, “stress”, “anxiety”, or “dissatisfaction”. Dukkha is identified as the first of the Four Noble Truths.
http://en.wikipedia.org/wiki/Dukkha

Dukkha – Wikipedia, the free encyclopedia

en.wikipedia.org

Dukkha (Pāli; Sanskrit: duḥkha; Tibetan phonetic: dukngal) is a Buddhist term co…See More

Vài links tham khảo về ý nghĩa của phạm trù: KHỔ (DUKKHA)

1. http://buddhanet.net/budsas/uni/u-cdcoxua/cdcoxua02.htm
2. http://www.lieuquanhue.vn/index.php/6/4535.html
3. http://www.budsas.org/uni/u-3dactuong/3dt01.htm

Con duong co xua – 02

buddhanet.net

Tứ Thánh Ðế được chứng ngộ trong khi Ðức Phật ngồi thiền quán dưới cội Bồ Ðề tại…See More

Chua Nhu Phap: sadhu Bác Phạm Doãn. Quả thật nhìn đâu đâu cũng dễ dàng rơi vào dính mắc ……khổ uẩn hiện bày….chấp nhận khổ uẩn…chấp nhận chúng sanh vui trong khổ uẩn…..chúng ta nhổm dậy ra đi… từng bước.

Phạm Doãn Nhân bài kinh này mọi người hãy công khai ý kiến & quan điểm của mình ra đi! Ai nói đời là khổ, ai nói đời là vui, ai nói đời vừa vui vừa khổ…hi hi…

Hiếu Nguyễn

[P] Ayampi bhikkhave kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.

[V] Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.

Từ “thiết thực hiện tại” nghe có vẻ “có ích”, đọc lướt qua ta dễ cảm thấy kỳ kỳ. Bản tiếng Anh dịch là “visible here & now” – nghĩa là sự nguy hiểm của các dục “có thể thấy rõ ở đây, bây giờ”.

Hiếu Nguyễn Ví dụ về vị ngọt của dục thì là sự hấp dẫn 5 giác quan
Ví dụ về vị ngọt sắc pháp thì là người nữ ở tuổi xuân thì (mỹ diệu tối thượng)
Ví dụ về vị ngọt cảm thọ thì Đức Phật đề cập tới cảm thọ “tối thượng vô hại” là cảm thọ trong các Thiền.
Mấy cái “tối thượng” này thật không tầm thường!!!

Phạm Doãn

VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ là ba đặc tính của mọi “hiện-sinh” (existence) tức của bất cứ mọi cái gọi là đời sống.
– Có nhiều nguyên nhân tạo ra “Khổ”. Một trong nguyên nhân của Khổ là bản chất hữu hạn của thân mệnh, cái ngắn ngủi của đời người! Bài kinh nhấn mạnh về thời gian, về tuổi già về sự tàn tạ của thân thể của nhan sắc v.v…Nói cách khác, cái Vô Thường của mọi hiện hữu là một nguyên nhân (rất chính yếu) dẫn đến KHỔ. Nhưng điều này vẫn cứ còn tranh luận hoài. Vì không phải ai cũng đồng ý rằng Vô Thường là Khổ!
– Có người vẫn không tin rằng Vô Thường luôn dẫn đến khổ (!!!)

Hoa Nguyen: Ông Phạm Doãn:”VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ là ba đặc tính của mọi “hiện-sinh”. Tôi rất dồng ý với từ “đặc tính” trên, và vẫn nghĩ như vậy. Đó là ba đặc tính của các hiện tượng, nằm bên trong hay thấy bên ngoài những hiện tượng đó, chứ không phải là những nguyên lý, định luật chi phối mọi hiện tượng, hiện sinh. Vạn hữu tự thân mang tính vô thường, khổ và vô ngã, trừ khi thoát ra ngoài vòng hữu vi, như Niết bàn (là vô vi).
Cái nguyên lý sinh ra vô thường, vô ngã là Duyên Khởi (Duyên Sinh).

Hoa Nguyen : Ông Phạm Doãn:”Có người vẫn không tin rằng Vô Thường luôn dẫn đến khổ (!!!)”. Tôi thấy có thầy Nhất Hạnh cho Vô thường không hẳn dẫn tới Khổ, và nếu thấy được điều đó thì con người sẽ bớt đạu khổ, do chỉ cần thay đổi nhận thức.
Chúng ta đau khổ vì mong muốn mọi thứ (liên quan tới mình) vẫn như thế mãi, thường hằng, và khi nhận ra bất cứ cái gì cũng vô thường, nay thay mai đổi thì sinh ra lo sợ, thất vọng, bất ưng ý, và đau khổ. Ngày xưa người ta mơ đến cảnh tiên, hay thiên giới, nơi tuổi thọ của người và mọi vật rất dài lâu, hay theo lời một bài hát là “nơi hoa không bao giờ tàn, bướm không bao giờ nhạt, tình xuân không úa màu bao giờ”. Ít ra nơi đó trăng không bao giờ khuyết, và nếu thế thì nước cũng không bao giờ chảy. Con người sinh ra mãi mãi vẫn là trẻ con, không bao giờ già, nên không còn sợ chết, nhưng như thế có phải là thật sung sướng? Thầy Nhất Hạnh dẫn nhiều thí dụ (tôi không nhớ hết) cho rằng nếu hoa héo tàn thì mới có trái ngon ngọt thay vào chỗ (hay để hoa khác sinh ra thêm), và tất nhiên trẻ sơ sinh có lớn lên thì mới thành thiếu nữ xinh đẹp hay người có trí tuệ, khả năng. Nếu không có vô thường chúng ta không thể tu được, vì không thể làm thay đổi được mình, không thể biến ác thành thiện, sân thành vô sân, không đoạn trừ được các lậu hoặc vốn sẳn có. Nhưng vấn đề không phải là chấp nhận Vô thường, mà đừng oán trách vô thường để phải khổ thêm, và nên tùy thuận với vô thường để biến đổi cảnh sống thành thuận lợi, con người thành bớt khổ, hay hết khổ. Đó gọi là chuyển hóa tâm, hay thay đổi nhận thức.

Hạnh Trương Không khó để thấy khổ, nhưng cái khổ mà chúng ta gặp trong đời sống hàng ngày đó, có phải là Khổ được đề cập tới trong kinh không. Nếu chính là nó, thì Lạc ở vị trí nào so với Khổ.

Điểm thứ nhì, có phải mọi thứ đều là khổ không và liên tục là khổ không, vì nếu như vậy thì các bậc A-la-hán vẫn đang khổ.

Điểm thứ ba, pháp được Thế Tôn khéo thuyết là thiết thực hiện tại, không có thời gian…

Nếu mọi lúc, mọi nơi đều là khổ, thì câu trên không hợp lý..

Hạnh Trương Bài kinh này hay tuyệt, đặc biệt khi đọc cả hai bên, hihi

Hạnh Trương Sau khi thảo luận chung về phạm trù khổ ( theo tên bài kinh), có lẽ chúng ta nên bám sát nội dung và nghiên cứu kỹ từng đoạn, thực sự là rất nhiều điểm hay chỉ được lộ ra khi nghiên cứu kỹ từng chữ, có so sánh với bản pali
“Chư Hiền, thế nào là vị ngọt các dục? Thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các sắc pháp, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các cảm thọ, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly?”

A. Về Dục ( Lưu ý từ Pali chữ Dục được dùng là kāma)
– Vị Ngọt
– Sự nguy hiểm
– Sự xuất ly

B. Về Sắc Pháp
– Vị Ngọt
– Sự nguy hiểm
– Sự xuất ly

C. Về Cảm Thọ
– Vị Ngọt
– Sự nguy hiểm
– Sự xuất ly

Tại sao ngoài Dục, đức Phật còn nói thêm về Sắc Pháp, mối quan hệ của chúng như thế nào để ngài tách riêng ra như vậy?
Trong từng mục cụ thể, các ví dụ cũng không phải dễ hiểu, đặc biệt cần sự trợ giúp của các Sư về Pali🙂

Hạnh Trương “Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới này với chư Thiên, Mara, Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, mà câu trả lời các câu hỏi được chấp nhận, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này.”

Để thấy vấn đề không đơn giản chút nào, hihi

Hạnh Trương …tiếp về khổ, dễ thấy là nói về khổ cho chư thiên chắc là khó, vì đó là cõi của Lạc. Nói về khổ cho dân mấy nước phát triển như Mỹ, Canada, mấy nước Bắc Âu cũng khó, vì cuộc sống của họ đa số là lạc.

Các ví dụ trong bài kinh về suy nguy hiểm của dục cũng khó thuyết phục con người hiện đại, vì chúng ta sẽ nghĩ ” người khác thế, mình không thế, nên mình không bị nguy hiểm”. Thậm chí có thể nghĩ, có chuyện gì thì mình cũng đã có bảo hiểm lo cả rồi.

Ví dụ mổ rất đau, nhưng nếu có tiền, chọn bác sỹ giỏi, thuốc gây mê, hoặc thuốc tê tốt thì cũng chẳng đau mấy.

Mà không thấy được đang khổ thì khó mà có quyết tâm từ bỏ🙂

Hoặc nói về khổ trong lúc người ta đang có thọ lạc thì cũng khó …

Thực sự nếu chúng ta chứng khổ, thì chắc sẽ từ bỏ mọi thứ dễ dàng. Chưa có quyết tâm từ bỏ, chứng tỏ chúng ta mới hơi hơi thấy khổ, hehe

Minh Quang thông thường,có lẽ chúng ta dễ nhầm lẫn:

1.cho rằng khổ hay các cảm giác(thọ)sinh ra do tự mình hoặc do ngoại cảnh?

2.cho rằng khổ hay các cảm giác(thọ)sinh ra có loại từ thân có loại từ tâm?

theo giáo lí đạo phật thì:

1.khổ hay các cảm giác(thọ)sinh ra khi có đủ nhân duyên,như khi có các căn tiếp xúc với các trần

2.khổ hay các cảm giác(thọ)sinh ra hoàn toàn do thức(tâm)theo(abhidhamma)thì các căn thuộc thân thể(sắc)thì không nhận biết,mọi nhận biết cảnh là do tâm.khi 5 căn tiếp xúc với 5 trần cảnh thì sinh ngũ song thức(thuộc tâm quả vô nhân)

Hạnh Trương do thức là sao hả MQ, nghĩa là thức là tội đồ của khổ ?

và vẫn phải hỏi lại MQ, khi bạn viết “theo giáo lí đạo phật thì:” , đạo phật mà bạn ngụ ý ở đây là đạo Phật nào? đạo Phật của bạn?

Hoa Nguyen Nếu phân tích cảm thọ Khổ theo Vi Diệu pháp thì không còn cảm thọ khổ nữa. Như vậy đã thoát khổ chưa.

Minh Quang chúng ta cùng hiểu rằng thọ là một tâm sở

Hạnh Trương tâm sở thì liên quan gì tới khổ ?

Thuận Pháp Dhammiko Tâm sở vì bị Vô thường chi phối nên khổ. Tất cả các sắc pháp là Khổ; tất cả các tâm sở trừ Lobhacetasika là Khổ; tất cả các trạng thái tâm trừ các tâm đạo quả cũng đều là Khổ. Biết được điều này nên bậc trí lánh xa chúng🙂

Hạnh Trương Ủa, sắc pháp sao lại là khổ ?

Chua Nhu Phap Đề tài “Mahādukkha” có lẽ là topic thú vị gần gũi với chúng ta nhất. Sống với nó, vật lộn với nó và vui trong nó. Tùy theo mức độ cảm nhận và sự hiểu biết mà mỗi chúng sanh có nhận định về “dukkha”: “Sabbe saṅkhārā aniccā; sabbe saṅkhārā dukkhā; sabbe dhammā anattā”.

Hạnh Trương Chẳng phải ngay trong bài kinh, đức Phật nói vị ngọt của dục, vị ngọt của sắc pháp, vị ngọt của cảm thọ đó sao? Rõ ràng nó không những lạc, mà còn cực lạc, tạo sao lại khẳng định “tất cả các sắc pháp là khổ”🙂

Thuận Pháp Dhammiko Đức Phật nói trên thế gian chỉ có 4 sự thật, nếu sắc pháp không thuộc về khổ thì nó thuộc về diệt khổ => Vô lý. Vậy sắc pháp là khổ!

Hạnh Trương: Sư cô Chua Nhu Phap cảm nhận nó thế nào ạ, Khổ là toàn diện, liên tục, hay là có khổ có lạc ạ

Hạnh Trương “Đức Phật nói trên thế gian chỉ có 4 sự thật”, đức Phật nói về 4 sự thật, hay nói là CHỈ CÓ BỐN, hai cái này khác nhau đó nha🙂

Sắc pháp là sắc pháp, chỉ khi người ta chấp thủ sắc pháp thì …. đừng đổ oan cho Sắc Pháp vậy chứ.
Một cô gái đẹp thì tội tình gì🙂

Rõ ràng trong kinh có dậy bố thí, trì giới, tu thiền, .. tái sinh trong nhàn cảnh, có dung sắc … chẳng lẽ như vậy là đức Phật dạy cho người ta KHỔ ?

Thuận Pháp Dhammiko Ngay cả đức Phật và các bậc Thánh cũng khổ…khổ về thân!!! Chỉ khi nào vào cảnh giới Niết-bàn hoàn toàn rồi mới thật sự thoát khổ.
Cô gái đẹp là khổ thật sự đấy chứ, vì da thịt của cô ngày càng lão hóa biến hại, sinh bệnh tật nên khổ; cái đẹp sẽ làm cô khổ cũng vì nó ngày càng phai nhạt🙂

Hạnh Trương Ôi trời ơi, da thịt thì của ai mà chẳng lão hóa biến hại.. chẳng nhẽ tôi làm phước, tu thiền , do vậy mà tôi sinh ra đẹp, giờ tôi lại khổ hơn cái đứa làm bậy nhiều, sinh ra xấu ? Thấy mà vô lý , hihi

Hạnh Trương Còn cái vụ nói là Phật và các bậc Thánh ( A – La – Hán) cũng khổ thì cần xem lại nha, xin Thuận Pháp Dhammiko dẫn chứng trong kinh, chỗ nào Phật nói “tôi đang khổ”

Thuận Pháp Dhammiko Vì ở đây có đề cập về sắc pháp là da thịt, sắc đẹp, là các sản phẩm của tham ái. Tóm lại sắc pháp là khổ đế.

 

Chua Nhu Phap Đạo hữu Hạnh Trương ui. Là phàm phu 100% đang tìm hiểu nhiều hơn là gậm nhấm dhamma nên dukkha dukkhata và viparimāma dukkhata thường dễ bắt gặp đối với bản thân CNP .

 

Hạnh Trương Tại BS Phạm Doãn nói là bà con chia sẻ xem khổ hay là lạc, thì HT mới hỏi vậy, hihi. HT thì thấy có khổ, có lạc. Thực hành Pháp, tùy Pháp thì ít khổ, nhiều lạc.
Còn ý kiến cho rằng mọi sắc pháp, tâm .. đều là khổ thì HT thấy không thuyết phục.

Đức Phật nói về KHỔ và ai trong chúng ta cũng đã từng kinh nghiệm về khổ, chắc chắn sẽ kinh nghiệm về khổ nếu còn tái sanh trong tương lai. Vì luật vô thường, nên khổ chắc chắn là sẽ tới khi nào đó, cho dù có lạc nhiều bao nhiêu đi nữa. Trừ khi dòng luân hồi bị cắt đứt.
Đã kinh nghiệm về khổ, sợ khổ, muốn lạc, thì chúng ta mới tìm cách để ly khổ, diệt khổ hoàn toàn.

Theo HT thì đức Phật không khẳng định rằng mọi pháp đều là khổ. và khổ là cái có thể diệt được, chứ không phải là không diệt được.
Ví dụ một người đang khổ vì sân, sân được nhận biết và được đoạn trừ, thì ngay lúc đó khổ đã diệt rồi ( cho dù chưa hoàn toàn)

Kết luận “mọi thứ là khổ” là một cực đoan, không biết quan điểm này từ đâu ra, các đạo hữu nào có nguồn tin cậy thì xin dẫn ra giùm.

Đào Trọng Trác Lạc thì cũng vô thường biến hoại đổi khác vì thế cũng phải thoát khỏi lạc thọ chỉ có Niết Bàn là tối thượng.

Đơn Sa Một sách của ngài WALPOLA RAHULA, có chương này bàn về “Khổ”: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-dpdng/dpdng02.htm

“mọi thứ là khổ” nghe sao giống giống “thiện tai thiện tai, đời là bể khổ” của mấy cao thủ Thiếu Lâm hay Nga Mi trong truyện chưởng Kim Dung, nói xong vung chưởng quét lia lịa!

Phạm Doãn Nhiều người cho rằng từ “Khổ” dịch từ chữ Pali “Dukkha” chưa chắc hoàn chỉnh. Nghĩa là từ “Khổ” chưa diển đạt đúng ý nghĩa chính xác của chữ “Dukkha”. Có người nói “Dukkha” còn hàm nghĩa là “không thỏa mãn”, “không hài lòng”, “bất như ý” v.v…

Không phải tất cả đều Khổ!
Đời vẫn có vị ngọt!
Nhưng kinh điển vẫn cho “vị ngọt” của cõi Dục này là thuốc độc mà!
Trong ý nghĩa chân xác nhất, mà giáo pháp Đức Phật muốn diễn tả, thì:
– diễn tiến của đời sống chung cục là dẫn đến Khổ (nếu hiểu chữ Khổ gồm có khổ đau và các nghĩa rộng hơn như bất như ý, không hoàn mỹ).

Khi hướng đến Nibbana như một cứu cánh giải thoát, có nghĩa Đức Phật đã hàm ý cho các cõi thiên là không hoàn mỹ (nghĩa là vẫn còn có dukkha).
Các cõi thiên đều có điều kiện (conditioned), hữu hạn (limited), đều bị chi phối bởi vô thường (impermanent). Ta có thể gọi chung các khái niệm “bị điều kiện hóa”, “hữu hạn”, “vô thường” v.v…là Dukkha
Ý kiến:
– Nhìn hiện tượng bên ngoài thì Đời có khổ, có lạc!
– Nhưng trầm tư, “ngâm cứu” sâu hơn… đến tận cùng bản chất của đời sống, thì : Đời vẫn là …DUKKHA
– Nhìn thấy đời có “Dukkha” nhiều hay ít, hay thấy đời “rốt cục cũng là “dukkha”…tuy theo “nghiệp” của từng người!

Hạnh Trương Rốt cục cũng là Dukkha, hay rốt cục thì sẽ gặp Dukkha thì dễ hiểu ạ. Còn trầm tư rồi để thấy mọi thứ đều là Dukkha thì em chưa thông , hihi.
Còn luân hồi thì còn gặp phải khổ, cái đó đảm bảo đúng, hihi.

Theo em thì do chán, ngán, sợ gặp phải khổ nữa ( cho dù hiện tại không khổ), nên mới có động lực làm thiện để diệt khổ hoàn toàn.
Vị ngọt của dục, của thọ, của sắc pháp nó chỉ NGUY HIỂM, nghĩa là nếu chấp vào nó, bị nói lôi kéo thì dẫn tới khổ. Chứ bản thân chúng không phải là khổ.
Ví dụ, nếu coi đó là khổ cả, tại sao các vị lại mời Phật và chư tăng tới nhà, đãi các món ăn thượng vị, loại cứng, loại mềm, hóa ra các vị đang đầu độc Phật và chư thánh tăng?

Hiếu Nguyễn Bàn về khổ phải bàn về lạc. Nếu chối bỏ các lạc cao thượng do tu tập đem lại thì cũng là không phù hợp với kinh điển.

Pháp cú 203, 204
[P] Jighacchāparamā rogā saṅkhārā paramā dukhā,
etaṃ ñatvā yathābhūtaṃ nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ
Ārogyaparamā lābhā santuṭṭhiparamaṃ dhanaṃ,
vissāsaparamā ñātī nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ.

[V1] Đói là bệnh tối thượng, các hành là khổ tối thượng. Sau khi biết được điều này đúng theo thực thể, Niết Bàn là an lạc tối thượng.

Không bệnh là sự thành tựu tối thượng, sự hài lòng là tài sản tối thượng, sự tự tin là thân quyến tối thượng, Niết Bàn là an lạc tối thượng.

[V2] Ðói ăn, bệnh tối thượng,
Các hành, khổ tối thượng,
Hiểu như thực là vậy,
Niết Bàn, lạc tối thượng

Không bệnh, lợi tối thượng,
Biết đủ, tiền tối thượng,
Thành tín đối với nhau,
Là bà con tối thượng,
Niết Bàn, lạc tối thượng.
(HT. TMC)

Rất nhiều lần Đức PHật khẳng định: Niết Bàn LẠC TỐI THƯỢNG

Tăng Chi, Kinh Tapussa
[V] Như vậy là phải, này Ananda! Như vậy là phải, này Ananda! Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly”. Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy “Ðây là an tịnh”. Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, tâm Ta không hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy: “Ðây là an tịnh?” Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: “Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát”. Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy”, thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: “Ðây là an tịnh”.

Ở bài kinh này Đức Phật dạy rõ phải làm 2 việc:
(1) làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy
(2) thưởng thức lợi ích của sự xuất ly (an tịnh ~ lạc?)
Vấn đề ở chỗ chúng ta phải phân biệt: dục lạc với lạc của giải thoát, lạc an tịnh, lạc của sự vắng mặt khổ.

Hạnh Trương Lôi định nghĩa trong kinh ra vậy, hihi. Hơi dài, nhưng có cái để nghiên cứu kỹ. ( MN 141. Kinh Phân biệt về Sự thật). Xem bản Pali thấy có thể hiểu hơi khác bản Việt 1 xíu.

373. “katamañcāvuso, dukkhaṃ ariyasaccaṃ? jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ; saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.

Và này chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, (bệnh là khổ), chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

Này chư Hiền, thế nào là sanh? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh của chúng, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn. Này chư Hiền, như vậy gọi là sanh.

Này chư Hiền, thế nào là già? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự niên lão, sự hủ hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại. Này chư Hiền, như vậy gọi là già.

Này chư Hiền, thế nào là chết? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi. Này chư Hiền, như vậy gọi là chết.

Này chư Hiền, thế nào là sầu? Này chư Hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là sầu.

Này chư Hiền, thế nào là bi? Này chư Hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là bi.

Này chư Hiền, thế nào là khổ? Này chư Hiền, sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ. Này chư Hiền, như vậy gọi là khổ.

Này chư Hiền, thế nào là ưu? Này chư Hiền, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này chư Hiền, như vậy gọi là ưu.

Này chư Hiền, thế nào là não? Này chư Hiền, với những ai gặp tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự áo não, sự bi não, sự thật vọng, sự tuyệt vọng của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là não.

Này chư Hiền, thế nào là cầu bất đắc khổ? Này chư Hiền, chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối! Mong rằng ta khỏi phải đi thác sanh”. Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ. Này chư Hiền, chúng sanh bị già chi phối… chúng sanh bị bệnh chi phối… chúng sanh bị chết chi phối… chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối!” Mong rằng ta khỏi đương chịu sầu, bi, khổ, ưu não!” Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ.

Này chư Hiền, như thế nào là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ? Như sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư Hiền, như vậy gọi là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

373. “katamañcāvuso, dukkhaṃ ariyasaccaṃ? jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ; saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.

♦ “katamā cāvuso, jāti? yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṃ pātubhāvo āyatanānaṃ paṭilābho, ayaṃ vuccatāvuso — ‘jāti’”.

♦ “katamā cāvuso, jarā? yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ valittacatā āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko, ayaṃ vuccatāvuso — ‘jarā’”.

♦ “katamañcāvuso, maraṇaṃ? yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā V.3.299 bhedo antaradhānaṃ maccu maraṇaṃ kālaṃkiriyā khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo, idaṃ vuccatāvuso — ‘maraṇaṃ’”.

♦ “katamo cāvuso, soko? yo kho, āvuso, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṃ antosoko antoparisoko, ayaṃ vuccatāvuso T.3.452 — ‘soko’”.

♦ “katamo M.3.293 cāvuso, paridevo? yo kho, āvuso, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā P.3.250 paridevanā ādevitattaṃ paridevitattaṃ, ayaṃ vuccatāvuso — ‘paridevo’”.

♦ “katamañcāvuso, dukkhaṃ? yaṃ kho, āvuso, kāyikaṃ dukkhaṃ kāyikaṃ asātaṃ kāyasamphassajaṃ dukkhaṃ asātaṃ vedayitaṃ, idaṃ vuccatāvuso — ‘dukkhaṃ’”.

♦ “katamañcāvuso, domanassaṃ? yaṃ kho, āvuso, cetasikaṃ dukkhaṃ cetasikaṃ asātaṃ manosamphassajaṃ dukkhaṃ asātaṃ vedayitaṃ, idaṃ vuccatāvuso — ‘domanassaṃ’”.

♦ “katamo cāvuso, upāyāso? yo kho, āvuso, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṃ upāyāsitattaṃ, ayaṃ vuccatāvuso — ‘upāyāso’”.

♦ “katamañcāvuso, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ? jātidhammānaṃ, āvuso, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati — ‘aho vata, mayaṃ na jātidhammā assāma; na ca, vata, no jāti āgaccheyyā’ti. na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ. idampi — ‘yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ’. jarādhammānaṃ, āvuso, sattānaṃ … pe … byādhidhammānaṃ, āvuso, sattānaṃ… maraṇadhammānaṃ, āvuso, sattānaṃ… sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammānaṃ, āvuso, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati — ‘aho vata, mayaṃ na sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā assāma V.3.300; na ca, vata, no sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā āgaccheyyun’ti T.3.453 . na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ. idampi — ‘yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ’”.

♦ “katame cāvuso, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā? seyyathidaṃ — rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. ime vuccantāvuso — ‘saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā’. idaṃ vuccatāvuso — ‘dukkhaṃ ariyasaccaṃ’”.

Hoa Nguyen Nếu Vô thường khiến con người thấy khổ, thì vô thường cũng không phải là nguyên nhân duy nhất tạo ra khổ. Còn có: (1) sự thiếu điều kiện để duy trì, phát triển sự sống (của thân, tâm), (2) sự cảm thấy cái ngã bị thua kém, xúc phạm, không bằng hay không hơn mọi người khác, v.v…, cũng là nguồn đau khổ căn bản. Trí tuệ bình thường giúp giải quyết nguyên nhân (1) (bằng kiến thức về khoa học, kỹ thuật). Giáo lý của đạo Phật có thể giúp giải quyết nguyên nhân (2). Dường như chỉ riêng đạo Phật không giải quyết được tất cả nguyên nhân gây đau khổ cho con người, nhưng nghĩ như thế bị coi như không ổn, vậy có lý lẽ gì thêm ở chỗ này không.

Hạnh Trương Về nguyên nhân của khổ thì có định nghĩa rõ và có nguyên một lý thuyết duyên khởi rồi ạ. Phật chỉ ra cơ chế khiến khổ sanh và chỉ ra phương pháp, biện pháp, kỹ thuật để tùy người mà dùng nhằm phá khổ tận gốc, theo em thì như vậy.
Làm vụ khổ trước đã anh ạ, hihi. Sau đó thì còn phải quay lại nội dung chính của bài kinh, không thì chúng ta lại bàn tứ đế trong một bài này có lẽ không đủ chỗ🙂

Hạnh Trương Hiểu các pháp đều vô thường sẽ dẫn chúng ta tới một kết luận là ” cho dù bây giờ có lạc thế nào đi nữa, thì cũng sẽ có lúc khổ”.
Nếu phản biện kiểu, vậy thì khổ cũng vô thường và sẽ có lạc. Đúng, nhưng sau lạc thì sẽ có khổ.
Vậy với người sợ khổ, né khổ, không muốn khổ, dù chỉ 1 lần , thì do biết vô thường nên tìm mọi cách để thoát khỏi các pháp hữu vi.

Hoa Nguyen “thiện tai thiện tai, đời là bể khổ” (Đơn Sa), tôi lại đọc thấy “Thiện tai, thiện tai, ngã Phật từ bi”.

Vo Trong Phi Theo cá nhân hiểu, khổ ở đây không chỉ là thọ khổ thông thường mà còn do đặc tính vô thường cố hữu của pháp hữu vi. Các pháp hữu vi luôn biến đổi nên gọi là khổ. Nếu nó không biến đổi thì mọi người chắc sướng rồi. Ví dụ: Ai tóc đen thì cứ đen mãi, không sợ bạc, không lo người ta nói già (!); xe máy chạy mãi cũng không lo chùng xích, phải nghe tiếng lộc cộc như tiếng mõ của anh hàng phở (!) -)

Hạnh Trương: Vo Trong Phi, tóc bạc thì sao, có người sinh ra tóc đã bạc, các cô gái tóc bạch kim lại đẹp🙂
tiếng lộc cộc là tiếng lộc cộc, đâu có sao?
có lẽ chữ SỢ, trong câu KHÔNG SỢ BẠC của Võ Trọng Phi mới là vấn đề. Nếu không sợ bạc, không sợ già, mà hiểu đó là quy luật tất yếu, thì đâu có khổ vì nó bạc, nó già ?
Vì nếu bạc và già mà khổ, thì các vị thánh tăng, nhất là các vị chứng quả sớm từ khi còn trẻ, khổ dài dài🙂
Trong định nghĩa về khổ, có chữ THỦ, “(bằng một cách) tổng quát, năm THỦ uẩn là khổ”.

Theo HT, điểm này có thể là điểm quan trọng, chữ THỦ này…

Hoa Nguyen Thí dụ về khổ anh VTP nêu trên là hai trường hợp điển hỉnh Khổ là do chấp ngã (sợ tóc ta bạc, xe ta cũ). Không phải ( hiện tượng) vô thường làm ta đau khổ, mà chỉ khi những vật của ta. liên hệ tới ta vô thường mới làm ta khổ. Vậy Vô thường và chấp Ngã đưa tới Khổ.

Hạnh Trương: Vo Trong Phi <<Theo cá nhân hiểu, khổ ở đây không chỉ là thọ khổ thông thường >>

Mình cũng thấy như vậy, trong định nghĩa về Khổ ở đoạn kinh trên, cũng có cái khổ ( thông thường ). Khổ là một khái niệm khá rộng, bao hàm cái Khổ ( thông thường , thọ khổ) và các pháp trực tiếp dẫn tới khổ . Tất cả chúng được bao gồm trong Khổ Uẩn và được nói tới trong Khổ Đế.

anh Hoa Nguyen. Vô thường là vô thường chứ ạ, vô thường mà đưa tới khổ thì “tội lỗi” ở vô thường?
Vô thường chỉ làm hiển bày các điều kiện, nếu CHẤP vào cái hiện tại, thì sẽ khổ. Ví dụ như một người Gù, coi con mình cũng phải Gù, đứa con sanh ra nó không gù, thế là khổ.
Cái sự THỦ này làm nên khổ….chứ không phải lỗi ở vô thường.
( thủ thôi ạ, không phải là ngã thủ , ngã thủ mặc dù cũng mang lại khổ, nhưng nó chỉ là một trường hợp riêng của thủ, theo em là như vậy)

 

Hoa Nguyen Khi con người mong cầu sự thường hằng, vĩnh cửu thì vô thường là điều không ai muốn có, và là bất ưng ý nếu xảy đến, do đó gây đau khổ. Còn nếu ai mong cầu sự thay đổi, biến dịch, tức vô thường, thì khi vô thường đến sẽ đem lại niềm vui. Như bỗng dưng mà trúng số, đổi đời.

 

Phạm Doãn VÔ THƯỜNG-VÔ NGÃ- KHỔ là những “tiền đề” cho Triết Lý & Chánh Pháp của Đạo Phật nguyên thủy. Không thấu hiểu trọn vẹn và rõ ràng ý nghĩa của “Vô Thường, Vô Ngã, Khổ” là rất khó tiếp thu Chánh Pháp. Nhất là rất lúng túng, không hiểu tại sao Đức Phật lại chọn Giải Thoát là Nibbana! mà không phải là các cõi Thiên như các đạo sư khác!

Hạnh Trương

1. Về Dục

Từ được dùng ở đây là kāma ( không phải chanda hay rāga )
Từ này được dùng trong dục giới ( sắc giới, vô sắc giới), được gặp trong chi thánh đạo thứ nhì, Chánh Tư Duy ( Dục tư duy , Sân tư duy, hại tư duy – 3 pháp thuộc Tà Tư Duy), gặp trong năm triền cái khi ghép với chanda (kāmachanda)

Vậy Kāma là gì, kāmaguṇā là gì? Đề tài này đã có lần Sư Pāli Việt đề cập tới… nhờ đạo hữu nào tìm hộ lại

Hạnh Trương http://www.facebook.com/groups/paliviet/doc/135311489889304/

 

Hạnh Trương pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā — cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. api ca kho, bhikkhave, nete kāmā kāmaguṇā nāmete ariyassa vinaye vuccanti —

Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này: Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ý, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức… khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, dầu chúng không phải dục, chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc Thánh

Nhờ các Sư xem giùm đoạn kinh trên ạ ((AN 6.63)), chỗ DẦU CHÚNG KHÔNG PHẢI DỤC.

 

Phạm Doãn

“…………..Trong đạo Bụt Nam truyền, Tam pháp ấn được trình bày là vô thường, khổ và vô ngã. Theo tôi đây là do tình trạng thất truyền. Sự thất truyền này là bắt đầu từ sự chắp nối nhầm lẫn trong một đoạn kinh, sau đó qua sự truyền thừa, tất cả những đoạn kinh khác về cùng một đề tài đều lặp lại điều sai lầm đó. Đoạn kinh thuật lời Bụt như sau:
Này các vị khất sĩ, sự vật là thường hay là vô thường?
– Bạch đức Thế Tôn, sự vật là vô thường.
– Này các vị khất sĩ, sự vật vô thường thì là khổ hay là vui?
– Bạch đức Thế Tôn, sự vật vô thường cho nên là khổ.
– Này các vị khất sĩ, nếu sự vật là khổ thì có nên nói cái này là ta, cái này là của ta hay không?
– Bạch đức Thế Tôn, vì sự vật là khổ cho nên ta không thể nói được cái này là ta hay là của ta……….”
(Trích Trái Tim của Bụt – Thích Nhất Hạnh)
—————-
Thày Thích Nhất Hạnh có dẫn chứng một câu kinh Niklaya (trích bên trên) và nói rằng câu kinh này được nhắc đi hàng trăm hàng ngàn lần!
Trong câu kinh có đoạn lập luận rằng:
“- Bạch đức Thế Tôn, vì sự vật là khổ cho nên ta không thể nói được cái này là ta hay là của ta…”
Tôi chưa tìm được câu kinh này, không biết nó nằm ở những bài kinh nào? Kính nhờ các đạo hữu tìm giúp.

– Vì nếu đúng có câu kinh Pali như vậy,
“- Bạch đức Thế Tôn, vì sự vật là khổ cho nên ta không thể nói được cái này là ta hay là của ta…” . Thì cũng có nghĩa là: Vì có Khổ nên vô Ngã ! Mà theo thày Thích Nhất Hạnh là…không suông!

Theo tôi, “vì Vô thường nên Vô Ngã” thì hợp lý.
Chứ không thể lý luận “Vì có Khổ nên Vô Ngã”.

Hoặc là câu kinh thực sự có ý nghĩa khác?
– Ví dụ câu kinh muốn nói là: Vì sự vật là “vô thường, là khổ, nên ta “đừng nên nhận cái này là thân ta hay vật sở hữu của ta”
– Chứ câu kinh không hàm nghĩa: Vì Khổ nên Vô Ngã (như cách giải thích của thày Thích Nhất Hạnh)

Trong trường hợp tìm được câu kinh này, chúng ta sẽ so sánh nó với bản Pali, để xem câu tiếng Việt có được dịch đúng hay chưa?

Vấn đề này thực quan trọng.
– Đây là một phê bình về giá trị của kinh Pali, hoặc về giá trị bản dịch, cũng như về tính chặt chẽ trong giáo pháp của Đức Phật. Kính mong mọi người cùng quan tâm, cùng chung sức tìm hiểu.

Pali Chuyên Đề nên làm rõ vấn đề này, để mọi người cùng nắm được ý nghĩa của Vô Thường-Vô Ngã -Khổ!

 

Hạnh Trương Câu này đúng là nhiều lắm Bs ạ

 

Hạnh Trương — Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

— Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

 

Hạnh Trương Taṃ kiṃ maññatha bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vāti?
Aniccaṃ bhante.
Yaṃ panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vāti?
Dukkhaṃ bhante.
Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ “Etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā”ti?

 

Hạnh Trương Câu Pāli hay tuyệt🙂 Câu việt dịch ở đoạn BS trích dẫn dở òm, hehe

Thien Nguyen Ba Em vừa tính post lên đoạn kinh trên, Anh Hạnh đã post rồi🙂
Đoạn kinh trên nằm trong MN 147:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung147.htm

 

Hạnh Trương Đoạn đó phổ biến, có thể gặp ở tất cả các bộ Nikaya😉

 

Hạnh Trương Xem câu Pāli, đọc bản dịch của Thầy Minh Châu rồi đọc bản phóng tác của Thầy Nhất Hạnh thấy sợ thật. Không biết bao nhiêu người không có cơ hội được có thông tin gần với nguyên bản và cũng không biết có bao nhiêu người có ý thức kiểm tra lại lời tuyên bố của các vị tự coi mình là đạo sư.
Dứt khoát phải học tiếng Pāli, hihi
Phần tam pháp ấn này chắc phải để sau chút BS Phạm Doãn ạ, vì có nhiều tài liệu tham khảo hay về đề tài này, đặc biệt là của các vị chuyên về vipassana ạ.

 

Hạnh Trương Nhân nói đến vô thường tôi muốn chỉ cho quý vị một lỗi lầm trong sự truyền thừa kinh điển. Có một đoạn văn được lặp đi lặp lại trong rất nhiều kinh. Đó là cuộc đối thoại giữa Bụt và các đệ tử của ngài.

Hôm đó Bụt hỏi: “Này quý vị, thế giới là thường hay vô thường?”

Cố nhiên vì ai cũng thuộc bài cho nên mọi người đồng trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, thế giới là vô thường”.

Đoạn đối thoại đó đã trở nên một “cliché”, một bản kẽm của nhà in, và chúng ta thấy đoạn này được ghi chép lại trong hàng trăm kinh!

Từ hồi còn là chú tiểu cho đến bây giờ, mỗi khi đọc đến đoạn kinh đó là tôi thấy băn khoăn. Sau này tôi tìm ra đó là một sự lỗi lầm trong việc ghi chép truyền thừa kinh điển.

Vậy thì vô thường đâu có khổ? Vô thường là một niềm hy vọng. Cho nên ta phải lý luận như thế này: Sự vật là vô thường mà vì không biết, mình cho là thường, chính đó là nguyên do của khổ.

Kế đến, nói rằng vì khổ cho nên vô ngã cũng là vô lý! Tại sao vì khổ mà nó vô ngã? Bộ não của chúng ta giống như một máy tính điện toán, vì vậy mà khi nhớ lầm, khi hiểu lầm thì cái nhầm lẫn đó nó có thể xảy ra trong tất cả các văn bản chứa trong máy điện toán. Vì vậy mà sai lầm ở một chỗ thì sai lầm hết tất cả các chỗ khác. Cho nên chúng ta phải xét lại đoạn kinh này.

Các Sư lưu ý nha, nhớ xem xét lại đoạn kinh này đấy , hehe.

http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/component/content/article/560-tts-quyn-01-chng-02-2-3-cach-thc-tp-kinh-quan-nim-hi-th?start=5

 

Hạnh Trương Điều quan trọng là nhìn vào nguyên bản mình thấy có câu trái chống với giáo lý căn bản của Bụt. Vấn đề là như vậy. Cho nên xin ghi vào trong lịch sử, hôm nay ngày 18 tháng 12 năm 1994, Làng Mai chúng con đã có một đề nghị giáo chính như vậy. Nếu Bụt thấy điều này đúng ý Bụt, thì xin Bụt mỉm cười.

Bụt không biết có cười không, chứ HT thì suýt nữa cười thành tiếng🙂

 

Phạm Doãn Cám ơn Hạnh Trương và Thien Nguyen Ba đã tìm ra câu kinh mà thày Thích Nhất Hạnh đã nêu lên.
– Vậy câu kinh tiếng Việt do thày Thích Minh Châu Việt dịch là dễ hiểu hợp lý. Không có vấn đề gì, không làm sai lạc ý nghĩa của Chánh Pháp. Câu kinh Pali và bản tiếng Việt không hàm ý “Vì Khổ mà Vô Ngã”
– Vấn đề ở đây là Thày T.N.H đã diễn dịch và hiểu theo cách suy nghĩ của riêng mình.
Vin vào đây, các Đạo sư đương thời chỉ trích ý nghĩa về Dukkha trong Nikaya là “không xuôi” là “không hợp lý”, khi liên tục nhắc lại lý luận “Vì Khổ mà Vô Ngã” !!!

– Đức Phật không hề nói vậy!
Ngài chỉ nói vì thân thể ta, các vật sở hữu của ta luôn “vô thường”, luôn “Khổ”. Vậy đừng nên xem nó là của ta, là thuộc về ta.
Ngài không nói vì Khổ mà Vô Ngã . Đây là hiểu sai hay xuyên tạc!

Xem lời phê bình mạnh mẽ trong “Trái Tim Của Bụt”:
“…Thật ra lý luận vì vô thường cho nên khổ, <vì khổ cho nên vô ngã> không đủ vững chắc, và có thể gây hiểu lầm về vô thường và vô ngã. Vô thường và vô ngã nằm ở bình diện khác với khổ. Ví dụ như cái bàn này. Cái bàn này là thực tại. Cái bàn này là vô thường, nói vậy chúng ta hiểu được. Cái bàn này là vô ngã, đúng. Nhưng cái bàn này là khổ thì ta khó quan niệm được. Nói rằng vì vô thường cho nên khổ, vì khổ cho nên vô ngã, lý luận đó nghe không thuận. Có thể nói rằng vì sự vật vô thường và vô ngã mà chúng ta không biết, cứ cho là thường, là có ngã nên ta khổ, nói như vậy xuôi hơn…”

 

Hạnh Trương Có thể tham khảo thêm đoạn dịch của Sư Indachanda ở đây :
Pañcavaggiyakathā – Phần giảng về nhóm năm vị – trang 14 ( trang 29 trong file pdf)
http://paliviet.info/VHoc/04/04_1a.pdf

 

Phạm Doãn:  Hạnh Trương và các đạo hữu, ở đây ta khoan chưa nói về tam pháp ấn. Nhưng khái niệm về “dukkha- khổ”, tương quan giữa “khổ” và “vô thường” nằm ở chỗ này nên bắt buộc phải đề cập tới. Đáng lẽ học kinh Pali thì cứ chuyên tâm học nội dung của kinh. Không nên quay sang phê bình các đạo sư khác. Tôi xin lỗi vì đã lối kéo các đạo hữu ở đây vào “Trái Tim của Bụt”! Tôi có những comments đã viết, nhưng luôn phải lưỡng lự khi muốn post lên. Lưỡng lự vì nó sẽ gây mất tập trung của mọi người, nhưng nó cũng sẽ có lợi cho mọi người, khi so sánh ý nghĩa chân thực của Nikaya và các lời phê bình xuyên tạc với Chánh Pháp!

 

 

Phạm Doãn Nhờ đạo Hữu Hạnh Trương cắt hẳn và post một đoạn Pali tương ưng với câu kinh (Thày T.N.H đã nêu) mà ta vừa thảo luận. Mục đích để mọi người nhân dịp này học Pali luôn. Thank!

Hai Long Đoạn trích trong trang 29 anh Hạnh nói rất rõ nghĩa.

Hạnh Trương MN 109

“taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ — ‘etaṃ mama, esohamasmi, e…See More

Hạnh Trương Khi xem bài kinh này, lại thấy đoạn hay liên quan tới Khổ🙂

— Bạch Thế Tôn, có phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, hay là ngoài năm thủ uẩn, có một chấp thủ (khác)?

— Này Tỷ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ. Này Tỷ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ.

“taṃyeva nu kho, bhante, upādānaṃ te pañcupādānakkhandhā, udāhu aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānan”ti? “na kho, bhikkhu, taṃyeva upādānaṃ te pañcupādānakkhandhā, nāpi aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānaṃ. yo kho, bhikkhu, pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgo taṃ tattha upādānan”ti.

Hai Long Con thấy Ngài Mahashi giải thích về kinh Vô ngã tướng rất hay: http://www.budsas.org/uni/u-kinhvnt/kvnt00.htm

Hoa Nguyen Trong đoạn kinh trích từ bản dịch của HT Minh Châu vẫn thấy lặp lại hai lần :
” — Những gì vô thường là khổ hay lạc?

— Là khổ, bạch Thế Tôn.

— Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: “Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?” ”

Đoạn kinh hàm ý : Vô thường sinh ra Khổ, và khi Vô thường cùng đi với Khổ thì không thể có Ngã.
Tôi từng loay hoay tìm cách chứng minh : Vô ngã -> Vô thường -> Khổ, theo lối diễn dịch từ Vô ngã. Hay là : Vô thường nên Vô ngã , và do đó Khổ .
Vì Vạn hữu thực chất là Vô ngã do Duyên sinh (vì nhiều nhân tố kết hợp tạo thành) nên có thể bị biến hoại và biểu hiện ra bên ngoài là sự Vô thường. Hoặc lý luận vạn vật luôn thay đổi, biến dịch là do mang sẵn tính Vô thường, từ đó đi sâu hơn để tìm hiểu tại sao Vô thường thì phải thấy do bản chất Vô ngã (có vô ngã mới có thay đổi).
Nhưng Vô thường hay Vô ngã có phải đương nhiên dẫn tới Khổ ? Cắt nghĩa là chỉ có thể là do con người luôn mong cầu Thường và Ngã. Điều này cũng chưa chắc đúng với thực trạng. Không nông dân nào mong cầu cây lúa mãi là đòng đòng mà không trổ bông để mang những nhánh lúa chín. Nghĩa là họ chờ mong sự thay đổi ở thực tại. Họ chỉ thất vọng khi cây lúa không biến đối theo quy trình thông thường, như ý mong đợi.
Chúng ta dễ chấp nhận những giải thích về Vô thường, Vô ngã, Khổ từ bài giảng của một pháp sư (vì sẵn niềm tin và lòng tôn kính), nhưng khi phải trình bày lại lý luận đó trước một người hay thính giả ngoài Phật giáo có óc lý luận (hay thông minh) không kém ta, thì có thể bị bắt bẻ làm gẫy đổ cả một lập luận đã có trước.

Tôi thấy ở thiền Minh Sát luôn liên kết ba tính chất Vô thường, Khổ, Vô ngã khi Niệm (sati) một sự kiện hay pháp. Không biết bên trong (liên kết) thế nào.

Hoa Nguyen Thầy Nhất Hạnh viết :” Trong Hán tạng, kinh A Hàm có một kinh do thầy A-Nan lặp lại lời Bụt dạy. Trong đó câu Chư hạnh vô thường, Chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh được lặp lại đến năm lần!”.
Như vậy sự khác nhau về Tam Ấn đã có từ thời Bộ phái , ít …See More

Minh Quang Chương I : Tương Ưng Uẩn-A. Năm Mươi Kinh Căn Bản- e. Ananda (S.iii,37)

”… Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

– Này Ananda, nếu có người hỏi Ông: “Này Hiền giả Ananda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được th…See More

Hoa Nguyen Nhưng nếu nhìn thấy kẻ mà ta không ưa mất tài sản, tiền của, thậm chì chết tiệt đi thì có khi ta không thấy buồn. Buồn khổ là khi sự mất mát dính dáng tới thân, tâm của mình. Nên không phải khổ vì cảnh vô thường chung chung. Nhiều người thích cảnh mùa thu với lá vàng rơi rụng vì nó thể hiện rõ nhất ý nghĩa của vô thường.

Phạm Doãn Dukkha là danh từ Pãli mà Ðức-Phật đã dùng để chỉ cái thường được phiên dịch là đau khổ. Vậy, để được rõ ràng hơn ta hãy tìm hiểu ý nghĩa bao hàm trong chữ Dukkha. Trong quyển “The Buddha and His Teachings”, Ðại-Ðức Nãrada giải thích:

“Ðứng về phương diện cảm giác Dukkha là cái gì làm cho ta khó chịu đựng (“Du” là khó, “Kha” là chịu đựng). Nếu xem như một chân-lý trừu tượng, Dukkha hàm xúc ý nghĩa khinh miệt “Du”, và trống rỗng “Kha”. Thế-gian nằm trong sự đau khổ và như vậy là đáng khinh miệt, không đáng cho ta bám níu vào. Thế-gian là một ảo ảnh, không có thực chất. Do đó, thế-gian là rỗng không, hư vô. Vậy, Dukkha có nghĩa là một hư vô đáng khinh miệt, không đáng cho ta luyến ái và bám níu vào”.

Phạm Doãn Trong bài thuyết trình vế Tứ-Diệu-Ðế (The Significance of The Four Noble Truths; Wheel Publication No. 123), đạo hữu cư sĩ Gunaratna giải thích danh từ Dukkha như sau:

“Danh từ Dukkha gồm hai thành phần: “DU ” và “KHA”.
– “DU” là một tiếp đầu ngữ hàm xúc ý nghĩa xấu, thấp kém, đê tiện, hèn hạ hay tầm thường.
– “KHA” là trống rỗng, hay nông cạn.
Hai thành phần này hợp chung lại ám chỉ một cái gì xấu, không đáng được ưa thích, bởi vì nó trống rỗng, không có thực chất, huyền ảo, không làm thỏa mãn và thường được phiên dịch là “Ðau Khổ” hay “Khổ-Não”. Tuy nhiên, hai chữ đau khổ và khổ-não chỉ bao hàm những ý niệm về một trạng thái khó chịu, tinh thần hay vật chất, mà không diễn đạt trạng thái rỗng không, huyền ảo và không thực của phạn ngữ Dukkha.

Dukkha không những phải khêu gợi trong tâm ta những ý niệm không làm thỏa mãn của sự vật trên thế-gian, trạng thái không thực và dĩ nhiên, đưa đến tuyệt vọng, phiền muộn và bất ổn của tất cả những gì tạo nên khung cảnh sống của chúng ta. Dukkha bao gồm trạng thái chênh lệch, chao động và xáo trộn triền miên nối tiếp mà tất cả chúng sanh phải chịu vì không tìm được trong thế gian này sự bền vững, ổn định và thường còn. Tất cả sự vật bên trong và bên ngoài ta đều ở trong trạng thái luôn luôn sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, vô cùng tận, tạo nên cảnh “bất toại nguyện” và “bất ổn định” của toàn thể vũ trụ”.

Phạm Doãn Trong bài Pháp đầu tiên, gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân, Ðức-Phật mô tả cái khổ như sau:
“Hởi này các Tỳ-Khưu, bây giờ, đây là chân-lý cao thượng về sự khổ.
. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ,
. sống chung với người mình không ưa thích là khổ,
. xa lìa người thân yêu là khổ,
. mong muốn mà không được là khổ.
Tóm lại, bám níu vào thân ngũ-uẩn là khổ”.

Phạm Doãn Quan niệm về dukkha có thể nhìn từ ba phương diện:
1. Dukkha trong nghĩa khổ thông thường, gọi là khổ khổ (dukkha – dukkha);
2. Dukkha phát sinh do vô thường, chuyển biến, hoại khổ (viparinàma – dukkha).
3. Dukkha vì những hoàn cảnh giới hạn của sinh tử, hành khổ (samkhàra – dukkha).

Vism (PTS), p.499, Abhisamuc, p.38

Hạnh Trương Bài kinh này nói về dục, về sắc pháp và cảm thọ… còn một số điểm cần đặc biệt lưu ý.

Chúng ta mới lướt cái tên bài kinh🙂
Ví dụ như vai trò của dục trưởng dưỡng, ví dụ như giải thích thế nào về sự tương đồng giữa các ví dụ về người nữ với các đề mục quán bất tịnh, ví dụ như khi nói về vị ngọt của cảm thọ tại sao lại không đề cập tới lạc thọ do dục mang tới.
Đây là những vấn đề căn bản và vô cùng quan trọng cho những đạo hữu nào mới tìm hiểu về phật giáo nguyên thủy, các đạo hữu nên tự đặt các câu hỏi và thảo luận cùng mọi người.

Hạnh Trương Đoạn kinh này rất hay, từ MN26, Kinh Thánh Cầu, về dục trưởng dưỡng :
Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā ime pañca kāmaguṇe gathitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti, te evamassu veditabbā, “Anayamāpannā byas…See More

Hạnh Trương Chúng ta có rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa , đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn? Giờ làm sao để vượt ra đây?

Seyyathāpi bhikkhave āraññako mago araññe pavane caramāno vissattho gacchati, vissattho tiṭṭhati, vissattho nisīdati, vissattho seyyaṃ kappeti. Taṃ kissa hetu, anāpāthagato bhikkhave luddassa. Evameva kho bhikkhave bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave bhikkhu andhamakāsi māraṃ apadaṃ, vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato.

Chư Tỷ-kheo, ví như con nai sống trong rừng, đi qua đi lại trong rừng, an tâm nó đi, an tâm nó đứng, an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nó vượt khỏi tầm tay của người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma

Chứng các tầng thiền và vượt khỏi tầm mắt Ác ma ( để mà tu tiếp🙂
Đoạn kinh này cũng giải thích thêm cho chúng ta tại sao đức Phật khi nói về vị ngọt của các cảm thọ lại chỉ đề cập tới các lạc do ly dục ly pháp bất thiện, bởi vị lạc do dục thì như đã nêu trong kinh, chúng là sự nguy hiểm của Dục và Sắc Pháp. Không chỉ có thế, còn một ví dụ này, thể hiện cực kỳ rõ ràng sự nguy hiểm của lạc do dục ….

Hạnh Trương Ví như, này Magandiya, một người bị bệnh cùi, với thân (đầy) những lở lói, với thân hư thối, nứt chảy, bị các loại trùng đục khoét, đang cào rách miệng các vết thương với móng tay, hơ đốt thân mình trên hố than hừng. Các bạn bè thân hữu, bà con huyết t…See More

Hạnh Trương Đoạn kinh trên nên được đọc rất kỹ, HT tóm tắt lại một số nét chính:

Thỏa mãn dục ( ví như mắt NHÌN các thứ ưa thích, miệng ĂN, UỐNG các thứ ngon lành , tai NGHE nhạc du dương …) như việc gãi, làm loét, làm lở, như việc cầm lửa đưa vào vết ghẻ…
( lưu ý ở đây là CHỦ ĐỘNG, là ĐỘNG TỪ), không phải Sự thỏa mãn mà là Việc làm cho nó được thỏa mãn. Có sự CỐ Ý ở đây .

Người đang chủ động làm cho dục được đạt tới như vậy, thì có lạc, cái lạc này được gọi là dục lạc, kāmasukhā. Đức Phật nói, cái lạc này là do phản tưởng mà ra, chứ thực tế nó là đau khổ. Vì sao, vì khi mình hết ghẻ, mình gãi, mình cào cấu, nó còn lạc nữa không?
Đây là điểm hết sức quan trọng.
Có cái lạc nào mà không phải do phản tưởng không? Có, đó là các lạc do thiền chứng, do ly dục ly bất thiện pháp.
Còn các loại dục lạc, kể các các loại lạc do tu tập không đúng chánh pháp, ( nghĩa là lạc có được nhờ kỹ thuật, không phải nhờ ly dục) đều tương tự như ví dụ trong đoạn kinh.

Các đạo hữu đang tu các pháp môn có lạc mà không phải do ly dục thì hãy cẩn thận, các pháp môn mà lạc có được trong khi bản thân mình vẫn đầy dục thì hãy cẩn thận. Không khéo chúng ta đang tu pháp môn gãi ghẻ, tu pháp môn dùng lửa áp vào vết ghẻ và toàn bộ tâm trí , khả năng, năng lực của chúng ta đang nghĩ về cách làm sao cho việc gãi ghẻ này được thiện xảo hơn, điêu luyện hơn…

September 13 at 6:22am · Unlike · 8

Tuma Nguyễn cảm ơn anh Hạnh Trương nhiều

September 13 at 8:01am · Like

Minh Quang chúng ta phải cố nhận diện khổ Dukkha ,vì có nhìn đúng thực trạng khổ chúng ta mới tha thiết thực hành diệt khổ.về khổ khổ (dukkha – dukkha)và hoại khổ (viparinàma – dukkha),chúng ta tương đối tạm hiểu nhưng loại thứ ba hành khổ (samkhàra – dukkha)thì thật khó hiểu vì nó có nghĩa” ngũ-uẩn là khổ”tức là ngay trong các điều kiện(sắc,thọ,tưởng,hành,thức)tạo nên cơ thể chúng ta đã mang hàm nghĩa khổ Dukkha

về sắc mang hàm nghĩa khổ có lẽ tạm hiểu ,vì bất cứ thứ gì được sinh ra dù trải qua thời gian tồn tại khác nhau nhưng chắc chắn đều dẫn đến hoại diệt.

chúng ta thử phân tích về thọ,thọ Vedanā thường có 5 sắc thái(khổ, lạc,hỉ,ưu,xả)bất cứ khi nào chúng ta cảm thọ(hỉ,lạc)thì thường dẫn đến dễ chịu,khoan khoái,thích thú nhưng vấn đề ở chỗ chính trạng thái đó dẫn đến dính mắc,luyến ái,tham…tóm lại là dục lậu
bất cứ khi nào chúng ta cảm thọ(khổ,ưu)thì thường dẫn đến khó chịu,không thích thú,bực tức và thường trạng thái đó dẫn đến sân(giận giữ),theo nguyên lí thì bất cứ khi nào có(tham hoặc sân)thì lập tức si có măt(si luôn có mặt trong tất cả tâm bất thiện)
về cảm thọ(xả) có lẽ đó là trạng thái quân bình hơn nhưng nếu mong muốn dính mắc thì cũng vẫn đưa đến dục(tham)hoặc vì nó nhàm chán(không có cảm giác rõ rệt)nên dễ đưa đến không thích(sân)hoặc nó vẫn gây ra khổ vì cảm giác đó không thường còn(luôn sinh,diệt)
như vậy,có lẽ chúng ta đãtạm thời nhận diện lí do thọ Vedanā dẫn đến khổ,nghĩa là khi chúng ta cảm thọ(khổ, lạc,hỉ,ưu,xả)thì thường dẫn đến(tham,sân,si)tức là các tâm bất thiện nên dẫn đến khổ Dukkha.

Hạnh Trương MQ <<nghĩa là khi chúng ta cảm thọ(khổ, lạc,hỉ,ưu,xả)thì thường dẫn đến(tham,sân,si)tức là các tâm bất thiện nên dẫn đến khổ Dukkha>>

Có lẽ đạo hữu MQ chưa đọc kỹ bài kinh. Đạo hữu lưu ý đức Phật nói về Lạc do ly dục, ly bất thiện pháp không phải là cái cần tránh!!!

Về quan hệ của thọ và căn bản bất thiện, đạo hữu có thể tham khảo thêm Tiểu Kinh Phương Quảng :

(Thọ)

— Thưa Ni sư, có bao nhiêu thọ?

— Hiền giả Visakha, có ba thọ này, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

— Thưa Ni sư, thế nào là lạc thọ, thế nào là khổ thọ, thế nào là bất khổ bất lạc thọ?

— Hiền giả Visakha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách khoái lạc, khoái cảm, như vậy là lạc thọ. Hiền giả Visakha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm, một cách đau khổ, không khoái cảm, như vậy là khổ thọ. Hiền giả Visakha, cái gì được cảm thọ bởi thân hay tâm không khoái cảm, không khoái cảm như vậy là bất khổ bất lạc thọ.

— Thưa Ni sư, đối với lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Ðối với khổ thọ, cái gì khổ, cái gì lạc? Ðối với bất khổ bất lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ?

— Hiền giả Visakha, đối với lạc thọ, cái gì trú là lạc, cái gì biến hoại là khổ. Ðối với khổ thọ, cái gì trú là khổ, cái gì biến hoại là lạc. Ðối với bất khổ bất lạc thọ, có trí là lạc, vô trí là khổ.

(Tùy miên)

— Thưa Ni sư, trong lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong khổ thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong bất khổ bất lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại?

— Hiền giả Visakha, trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.

— Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại?

— Hiền giả Visakha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; không phải trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.

— Thưa Ni sư, trong lạc thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong khổ thọ, cái gì phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, cái gì phải từ bỏ?

— Hiền giả Visakha, trong lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ.

— Thưa Ni sư, có phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ?

— Hiền giả Visakha, không phải trong tất cả lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ. Ở đây, Hiền giả Visakha, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm và tứ. Do vậy tham đã được từ bỏ, không còn tham tùy miên tồn tại ở đây.

Ở đây, Hiền giả Visakha, vị Tỷ-kheo suy tư như sau: “Chắc chắn ta sẽ chứng và an trú trong trú xứ mà nay các vị Thánh đang an trú”. Vì muốn phát nguyện hướng đến các cảnh giải thoát vô thượng, do ước nguyện ấy, khởi lên ưu tư. Do vậy, sân được từ bỏ, không còn sân tùy miên tồn tại ở đây.

Ở đây, Hiền giả Visakha, vị Tỷ-kheo xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Do vậy vô minh đã được từ bỏ, không còn vô minh tùy miên tồn tại ở đây.

Minh Quang những bài kinh về thọ liên quan đến (tham,sân,si)rất hay,nếu còn tìm thấy những bài kinh tương tự bạn đưa lên nhé

Minh Quang 148. Kinh Sáu sáu (Ðoạn tận ba độc)

”Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỷ, tá…See More

Hoa Nguyen “Vị ấy cảm xúc khổ thọ mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh…”.
Đoạn kinh trên nói về trạng thái tâm khi vượt qua được khổ thọ ở người (hoàn toàn) chứng đắc, còn bài đang nghiên cứu nói về khổ uẩn, những nỗi khổ trong cuộ…See More

Minh Quang trong đạo phật thông thường hay nói về 3 loại cảm thọ chính,thuộc về cảm nhận cả thân thức và tâm thức:

1.Cảm giác sảng khoái hay là lạc (Sukha)

2.Cảm giác khó chịu hay là khổ (Dukkha)

3.Cảm giác phi khổ phi lạc (Adukkhamasukha)

hoặc theo(abhidhamma) chia rạch ròi cảm nhận giữa thân thức và tâm thức thì có 5 loại:

1.Cảm giác sảng khoái,thích thú thuộc về thể chất(lạc: Sukha)

2.Cảm giác khó chịu,đau đớn thuộc thể chất(khổ: Dukkha)

3.Cảm giác sung sướng,hoan hỷ, thỏa thích thuộc tinh thần( hỷ :Somanassa)

4.Cảm giác bất hạnh,ưu phiền, thuộc tinh thần ( thọ ưu:Domanassa)

5.Cảm giác trung hoà,thản nhiên, quân bình ( xả:Upekkha)

cách chia rạch ròi cảm nhận giữa thân thức và tâm thức là rất quan trọng vì chúng ta nhận thấy phật và các bậc hữu học vẫn luôn cảm nhận(khổ,lạc)về thân thức nhưng về tâm thức thì luôn luôn biểu hiện là(hỉ, xả)vì qua tu tập các ngài đã tận diệt ưu(sân)

trong cuộc sống chúng ta cũng thấy sự khác nhau rõ rệt cảm nhận giữa thân thức và tâm thức.chẳng hạn trong bữa ăn ngon(lạc:Sukha)nhưng có sự cãi cọ,la mắng,thì sẽ có buồn phiền(ưu:Domanassa) hoặc người sắp bị xử bắn,dù ăn ngon(lạc:Sukha)thì vẫn luôn có buồn phiền(ưu:Domanassa)

ngược lại,khi ta đau đớn,như nhổ răng sâu(khổ:Dukkha)nhưng tinh thần ta vẫn vui vì hết bệnh ( hỷ :Somanassa)hoặc thân thể là đáng quí nhưng phải đau đớn cắt bỏ 1 phần (khổ:Dukkha)nhưng tinh thần ta vẫn vui vì,nếu như vậy mà chữa khỏi ung thư ( hỷ :Somanassa)

Hạnh Trương <<hoặc theo(abhidhamma) chia rạch ròi cảm nhận giữa thân thức và tâm thức thì có 5 loại>>

MQ tìm thử trong tạng kinh xem có từ hỷ và ưu không? nếu có thì làm sao lại có thể nói là rạch ròi theo VDP được?

Cách viết của bạn nói chung là rất nguy hiểm, vô tình hãy cố tình, bạn có thể làm người đọc hiểu kinh là kém rạch ròi, còn VDP là rạch ròi.

Thông tin về 5 loại cảm thọ bạn đưa lên là đúng, nhưng những từ ngữ đi kèm hiểu như “hoặc theo (abhidhamma) chia rạch ròi” là không nên có!

Hai Long @Anh Minh Quang: <<trong đạo phật thông thường hay nói về 3 loại cảm thọ chính,thuộc về cảm nhận cả thân thức và tâm thức:>> Ở đây thân thức HL hiểu là thân thức trong 6 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Còn tâm thức là cái gì vậy ạh? Anh hay đạo hữu nào có biết đoạn kinh nào nói về cái này ko ạ?

Hai Long @Anh Minh Quang: Cái điểm này thì HL ko có đồng tình với anh: “trong đạo phật thông thường hay nói về 3 loại cảm thọ chính”. Trong kinh Phật dạy chỉ có 3 cảm thọ chứ ko có chính hay phụ. 5. V. Cần Phải Quán Kiến (S.iv,207)

1-2) …

3) — Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-36.htm

Hạnh Trương Cảm thọ thì có nhiều loại đó Hai Long ạ, có bài kinh 2 vị tranh luận, người thì nói chỉ có 2, người thì nói chỉ có 3, đem nhau đến Phật, Phật la cho một trận, và nói có thể có tới 108 loại thọ , tùy trường hợp mà Phật nói có bao nhiêu loại…

(Kinh Nhiều cảm thọ, Trung Bộ 59)

— Này Ananda, dầu cho pháp môn của Udayi là đúng, nhưng thợ mộc Pancakanga không chấp nhận. Dầu cho pháp môn của người thợ mộc Pancakanga là đúng, nhưng Udayi không chấp nhận. Này Ananda, hai thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; ba thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; năm thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; sáu thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; mười tám thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; ba mươi sáu thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn; một trăm lẻ tám thọ được Ta nói đến tùy theo một pháp môn. Như vậy, này Ananda, pháp được Ta thuyết giảng tùy theo pháp môn.

Còn đúng là nói chính hay phụ là không đúng, Phật nói cái nào rõ cái đó, không có cái này chính, cái kia phụ, đó là kiểu nói của thế gian.

Đơn Sa Sau nhiều cảm thọ (59) là đến không gì chuyển hướng (60) ^-^

Minh Quang mq nhiều khi cũng thấy có nhiều điều còn chưa hiểu hết trong kinh điển ,chẳng hạn:hỉ (Mudità),hỉ ( Pīti) hay hỉ(Somanassa)

Thuận Pháp Dhammiko Somanassa là 1 thọ hỷ của tâm, thuộc về tâm sở cảm thọ Vedanā. Pīti là một trạng thái hoan hỷ của tâm, cũng là 1 tâm sở phổ thông, tức thiện và bất thiện đều có. Còn Muditā cũng là sự hoan hỷ nhưng có đối tượng rất rộng, nên còn gọi là Hỷ Vô Lượng trong tứ vô lượng tâm, cũng là 1 tâm sở đặc biệt, thường khi tu tập thiền hoặc làm phước thiện mới có Muditā.

Su Trung Thiện Lành thay đàm luận Pháp/ Người Đa văn Hiền Trí/ Bậc Thông minh Biện Tài/ Biết điều không nên làm/ Nhiếp phục mọi nghi hoặc/Nên gần gũi bạn ấy/ Gần gũi bậc như vậy/ Chỉ tốt hơn không xấu!

Kan Trần anh Vo Trong Phi: “Theo cá nhân hiểu, khổ ở đây không chỉ là thọ khổ thông thường mà còn do đặc tính vô thường cố hữu của pháp hữu vi. Các pháp hữu vi luôn biến đổi nên gọi là khổ…”

dạ thưa anh và quý vị trong nhà,

đã có nhiều ý kiến nói về “Khổ” như:

– đời là bể khổ!

– kết cục rồi cũng khổ!

– sắc pháp là khổ! v.v.

tất cả các ý kiến trên đều nằm trong mệnh đề tổng quát mà anh VTP nêu ra, đó là: CÁC PHÁP HỮU VILÀ KHỔ.

Kan Trần chúng ta đang thảo luận trong khuôn khổ Pali Chuyên Đề chủ yếu dựa trên truyền thống Theravada. vậy các vị luận sư Theravada quan niệm thế nào về chuyện này?

ta hãy xem 1 tranh luận trực tiếp liên quan đến vấn đề đang bàn từ bộ Kathavatthu (Ngữ Tông) (một ghi chú nhỏ cho những quý vị nào cần thêm thông tin: Kathavatthu là 1 trong 7 bộ Abhidhamma – Vi Diệu Pháp của phái Theravada, chứa đựng những quan điểm cốt lõi của bộ phái này trong quá trình tranh luận giáo nghĩa với các bộ phái khác.)

http://www.budsas.org/uni/u-vdp5/vdp5-08.htm

Chương XVII

5. VẤN ÐỀ KHỔ ÐẾ VÀ THÁNH ÐẠO
(Thapetvāriyamaggantikathā)

Ðiểm tranh luận: Trừ ra thánh đạo, các pháp hữu vi khác đều có thể gọi là “Khổ” .

Theo chú giải: Quan niệm này của phái Hetuvadins, vì Thánh đạo được Ðức Thế tôn tuyên bố trong Tứ đế như: “Con đường đưa đến sự diệt khổ”.

(1) Th. – Thế thì, Ngài gọi Tập đế là Khổ đế sao? Nếu Ngài từ khước, Ngài không thể nào duy trì luận điểm mà Ngài đưa ra. Nếu Ngài đồng ý, có phải Ngài cho rằng chỉ có 3 đế? Nếu Ngài từ khước, lập luận của Ngài không đứng vững. Nếu Ngài đồng ý, có phải Ngài không đi ngược lại với lời dạy của Ðức Thế tôn về Tứ Ðế: Khổ – Tập – Diệt – Ðạo?

(2) Thế thì, nếu Ngài chấp nhận rằng khổ tập cũng là khổ đế trong ý nghĩa nào mà Ngài khẳng định như thế về thế này?

H.: – Theo ý nghĩa vô thường.

Th. – Nhưng Thánh đạo, có phải vô thường không?

H.: – Vâng.

Th. – Thế thì Thánh đạo cũng là Khổ sao?

Ngài cho rằng đạo là vô thường nhưng không là Khổ đế, trong khi đótập là cả hai vô thường là khổ (điều này Ngài không thể nào duy trì được…)

(3) H.: – Nhưng nếu “Ðạo là con đường đưa đến sự diệt khổ” thì tôi vẫn duy trì rằng: tất cả pháp hữu vi khác đều là khổ, thánh đạo thì ngoại lệ.

(hết trích)

Nghĩa là, các luận sư Theravada KHÔNG ĐỒNG Ý rằng các pháp hữu vi luôn là khổ!!

Quý vị trong nhà có ý kiến gì về chỗ này không ạ?

Hoa Nguyen Mọi người dễ dàng chứng minh Vô thường là Khổ (vì thấy thay đổi đem lại khổ), nhưng đã có nhận định cho Vô thường không phải luôn luôn đưa tới Khổ, như khi sự thay đổi (vô thường) làm thoát khỏi cái khổ trong hiện tại. Xét cho cùng Vô thường là Tục đế nên không phải mang ý nghĩa của chân lý tuyệt đối. Cái gì chi phối được Vô thường mới có thể là chân lý tuyệt đối. Niết bàn là chân đế.
Nhưng cũng nên thấy Khổ thường là chủ quan, hay cái khổ là khổ đối với ai. Một nhà sư tu theo khổ hạnh người ngoài nhìn thấy là khổ (thân xác), nhưng bản thân sư đó lại không thấy như vậy. Khi đặt câu hỏi “Thánh đạo cũng là Khổ sao?”, thì nên nói rõ thánh đạo nếu cho là khổ thì là khổ đối với ai. Là cái Khổ đến với chính “Thánh đạo” (nếu 37 phẩm trợ đạo biết khổ) hay là cái khổ đến với người thực hành thánh đạo.
Papañca nếu gặp thấy ở đây nên dịch là hý luận.

Ba Nguyen “Vô thường là Khổ”: Vô thường là vô thường. Khổ là khổ. Làm sao có vô thường “là” khổ? Phải nói đầy đủ: vô thường “có thể đưa đến” khổ. Nhưng với đk gì? đk gì để “hiện tượng vô thường” (sẽ) đưa đến “cảm giác khổ”? Bên cạnh cái khổ này, còn có nhiều cái khổ khác. Tóm lại tôi thấy “Vô thường là khổ” cách nói này không ổn.

Thuận Pháp Dhammiko Thầy Nhất Hạnh:
Trong đạo Bụt Nam truyền, Tam pháp ấn được trình bày là vô thường, khổ và vô ngã. Theo tôi đây là do tình trạng thất truyền. Sự thất truyền này là bắt đầu từ sự chắp nối nhầm lẫn trong một đoạn kinh, sau đó qua sự truyền thừa, tất cả những đoạn kinh khác về cùng một đề tài đều lặp lại điều sai lầm đó. Đoạn kinh thuật lời Bụt như sau:
Này các vị khất sĩ, sự vật là thường hay là vô thường?
– Bạch đức Thế Tôn, sự vật là vô thường.
– Này các vị khất sĩ, sự vật vô thường thì là khổ hay là vui?
– Bạch đức Thế Tôn, sự vật vô thường cho nên là khổ.
– Này các vị khất sĩ, nếu sự vật là khổ thì có nên nói cái này là ta, cái này là của ta hay không?
– Bạch đức Thế Tôn, vì sự vật là khổ cho nên ta không thể nói được cái này là ta hay là của ta……….”
(Trích Trái Tim của Bụt – Thích Nhất Hạnh)

Ba Nguyen: Tóm lại tôi thấy “Vô thường là khổ” cách nói này không ổn.
=> Cùng đạo Phật với nhau nhưng không biết đường nào mà lần🙂

Ba Nguyen @Thuận Pháp Dhammiko: “Sự thất truyền này là bắt đầu từ sự chắp nối nhầm lẫn trong một đoạn kinh, sau đó qua sự truyền thừa, tất cả những đoạn kinh khác về cùng một đề tài đều lặp lại điều sai lầm đó.” — Xin cảm ơn,😀

Hai Long Cái này nhiều cm quá, đọc lại đuối luôn😀 HL thường không đọc các bài giảng của các Sư khác hay các bản dịch khác, VD như của HT Nhất Hạnh ở trên, HL chỉ đọc bản dịch HT Minh Châu và Sư Indacanda thôi, cho nó khỏe đầu chứ đọc nhiều rối🙂 Có những cái Phật nói mình phải quán thật sâu thật mạnh mới thấy, nên đọc chỉ đơn gản là ghi nhận thôi, rồi dần dần nó ngấm😀

Thuận Pháp Dhammiko Tam Tướng (The Three Signs, The Three Characteristics) hay còn gọi là Tam Pháp Ấn, đó là Vô Thường, Khổ, Vô ngã (Pāli là Tilakkhaṇa: Aniccatā, Dukkhatā, Anattatā) là những đặc tính của hiện hữu, là định luật của vạn pháp. Aniccatā, Dukkhatā, Anattatā là phần căn bản, cốt tủy của Tam Tạng Pāli, nhưng theo đoạn trích trong sách Trái Tim Của Bụt ở trên, Thầy NH đã cho rằng đó là sai lầm, là thất truyền! Thầy NH đã khai tử Thiền Tuệ – Vipassanā Bhāvanā đối với pháp môn của Thầy rồi:) Vì Tuệ về Aniccatā, Dukkhatā, Anattatā mà không sinh khởi thì không bao giờ đưa đến Thánh Đạo Tuệ và Thánh Quả Tuệ được.

Definitions of the three characteristics are as follows:
1. Aniccatā: Impermanence, instability, and inconstancy; the condition of arising, deteriorating, and disintegrating.
2. Dukkhatā: State of dukkha: the condition of oppression by birth and decay; the tension, stress and conflict within an object due to alteration of its determinant factors, preventing it from remaining as it is; the internal imperfection of things, which prevents true satisfaction for someone whose desires are influenced by craving (taṅhā), and causes suffering for a person who clings (upādāna).
3. Anattatā: The condition of anattā – nonself; the condition of things being void of a real abiding self.
The Pāḷi adjectival terms for three characteristics are anicca, dukkha, and anattā, respectively. The abstract noun forms are aniccatā, dukkhatā, and anattatā. As characteristics they are known as aniccalakkhaṇa, dukkhalakkhaṇa, and anattālakkhaṇa. The commentaries occasionally refer to the three characteristics as universal characteristics (sāmaññalakkhaṇa). (Ven. Phra Brahmagunabhorn – P.A. Payutto)

Ba Nguyen

@Thuận Pháp Dhammiko: “nhưng theo đoạn trích trong sách Trái Tim Của Bụt ở trên, Thầy NH đã cho rằng đó là sai lầm, là thất truyền” — Tôi không thấy đoạn ấy thầy NH cho rằng tam pháp ấn là sai lầm. Tam pháp ấn vẫn đúng nhưng giữa các pháp ấn cần mối liên kết rõ ràng hơn, cũng là ý ban đầu của tôi. Tùy điều kiện vô thường đem đến lạc cho người đang khổ, đem đến khổ cho người đang lạc. Chỗ thất truyền là mối liên kết giữa các pháp ấn. (trong bài kinh)

Hạnh Trương :   Ba Nguyen <<Tùy điều kiện vô thường đem đến lạc cho người đang khổ, đem đến khổ cho người đang lạc>>

1. Lạc rồi sao nữa. Có sống mãi với nụ cười trên môi được không?

2. Ví dụ về người đang sướng khi gãi ghẻ

3.”Vô thường là vô thường, khổ là khổ” – Đúng hay sai. Đúng! Có ích hay vô ích? Vô ích!

4. “Yaṃ panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vāti?
Dukkhaṃ bhante” – Đúng hay sai. Đúng! Có ích hay vô ích? Có ích với người thấy khổ và muốn thoát khổ, vô ích với người tìm dục lạc.

5. “thất truyền” là ở chỗ “căn bản phạm hạnh”, hay là “mục tiêu tu học” và trong cách hiểu cổ ngữ Pali, chứ PHÁP thì không có thất truyền.

BN đọc kỹ lại đoạn Pali xem có thể dịch nó và hiểu một cách đơn giản trên con chữ là “vô thường là khổ” được không?

Với người không nặn chữ, thì viết “vô thường là khổ” là đủ, cũng như nói là “lửa thì nóng”. Với ai thích chữ nghĩa thì sẽ nói rất đúng là “lửa là lửa, nóng là nóng”. Đúng nhưng không cần thiết.

theo HT suy nghĩ, khi mình đọc kinh, thấy nhiều chỗ đúng là nhìn kỹ vào từ ngữ nó sẽ rối, thì tại sao mình không tìm về nguyên bản của nó , ví dụ như cổ ngữ Pali, rồi trao đổi, tìm hiểu, học hỏi để hiểu hơn ý nghĩa thực của nó, thay vì mình vội kết luận là :
– ai đó sửa rồi
– sai lạc trong quá trình truyền đạt
– bị thất truyền

Trong đoạn “Yaṃ panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vāti?
Dukkhaṃ bhante” lưu ý chữ vāti.

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Bạn hãy đọc hiểu đúng ý người viết trước khi comment. Bạn hiểu sai rồi comment trên cái hiểu sai của bạn thì rất vô ích với người ta.

Hạnh Trương Ba Nguyen , hiểu mà khổ lắm hiểu mà🙂

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Tôi rất cảm ơn comment hồi âm của bạn. Tôi chỉ tiếc nó không phải là điều tôi viết ra. Dù sao cũng cảm ơn bạn đã quan tâm và cho comment.

Hạnh Trương Xin lỗi Ba Nguyen vì có thể đã làm bạn hiểu lầm, chữ nghĩa đó. Mình comment cho cả loạt comment từ cái ý “thất truyền” ban đầu thôi.

Hạnh Trương Đã nói là hiểu đúng mà, hihi.

Pāli Việt Có thể dừng lại tại đây được không?

Theo ý Sư thì của ai, người ấy delete.

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s