KINH MN 014 – TIỂU KINH KHỔ-UẨN (CULÀDUKKHAKKHANDHASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 014 – Tiểu Kinh Khổ-Uẩn (Culādukkhakhandha sutta)

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung14.htm

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.014.than.html

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/014.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 014

1. Trích giảng Tiểu kinh Khổ Uẩn – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-014.htm

2. Toát yếu Tiểu Kinh Khổ Uẩn – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-02.htm

3. Ni kiền Tử (Nigantha Nātaputta), (Nāthaputta)

http://www.palikanon.com/english/pali_names/n/nigantha_nataputta.htm

http://en.wikipedia.org/wiki/Mahavira

http://en.wikipedia.org/wiki/Buddhism_and_Jainism

III. ĐỀ CƯƠNG

  •         Nội dung của bài Tiểu Kinh Khổ Uẩn
  •         Thử tìm hiểu quan điểm tu tập bằng sự Khổ của Đạo Jain

 

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn Và này Mahānāma,
– khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: “Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn”,
– và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn,
– như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.
(câu kinh trên được tách ra để nhìn rõ nghĩa)

Hoa Nguyen Trước hết, xin nêu một chi tiết quan trọng trong kinh. “Ni kiền tử” nói ở đây chỉ những người theo đạo Kỳ Na (Jainism), chủ trương giữ giới nghiêm nhặt và tu khổ hạnh. Như khi đi đường họ dùng chổi quét trước khi đặt chân xuống vì sợ giẫm chết kiến hay côn trùng nhỏ dưới chân. Họ có pháp tập đứng một chân, vì cho chịu đựng sự khó chịu, khổ đau hiện tại sẽ tránh trước được những nghiệp xấu đến từ quá khứ. Họ cũng có lý luận sắc bén, như so sánh Phật với vua Magadha Seniya Bimbisara (để xem ai có nghiệp cũ tốt hơn và ai hạnh phúc hơn ai). Phật thuyết phục được ho.
Ghi chú: Nigantha :The name given to the Jains, the followers of Nigantha Nātaputta.

“Này Mahànàma, một thời Ta ở tại Rajagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, rất nhiều Nigantha (Ni-kiền Tử) tại sườn núi Isigili, trên Kalasila (Hắc Nham), đứng thẳng người, không chịu ngồi và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy. Này Mahànàma, rồi Ta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến sườn núi Isigili, tại Kalasila chỗ các Nigantha ấy ở, khi đến nơi Ta nói với các Nigantha ấy: “Chư Hiền, tại sao các Ngươi lại đứng thẳng người, không chịu ngồi xuống và cảm giác những cảm thọ thống thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy như vậy?”

Này Mahànàma, được nói vậy các Nigantha ấy trả lời Ta như sau: “Này Hiền giả, Nigantha Nataputta – là bậc toàn tri, toàn kiến, tự xưng là có tri kiến toàn diện như sau: ‘Dầu ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta’. Vị ấy nói như sau: ‘Này các Nigantha, nếu xưa kia Ngươi có làm ác nghiệp, hãy làm cho nghiệp ấy tiêu mòn bằng khổ hạnh khốc liệt này. Sự không làm ác nghiệp trong tương lai chính do sự hộ trì về thân, sự hộ trì về lời nói, sự hộ trì về ý ngay trong hiện tại, ở tại nơi đây. Như vậy chính nhờ sự thiêu đốt, sự chấm dứt các nghiệp quá khứ, sự không làm các nghiệp mới, mà không có sự tiếp tục trong tương lai. Do sự không tiếp tục trong tương lai, các nghiệp được diệt trừ; do nghiệp được diệt trừ, khổ được diệt trừ; do khổ được diệt trừ, cảm thọ được diệt trừ; do cảm thọ được diệt trừ, tất cả khổ đau sẽ được tiêu mòn’. Và vì chúng tôi chấp nhận điều ấy, và chúng tôi kham nhẫn điều ấy, nên chúng tôi được hoan hỷ.”

Hoa Nguyen Cuộc sống con người đầy những khổ đau là hậu quả của tâm tham, sân, si. Trong kinh Tiểu kinh khổ uẩn này Phật chỉ rõ tham dục là nguyên nhân gây ra nhiều đau khổ cho chúng sinh, như chiến tranh tàn phá, cướp đoạt, giết hại nhau bằng đủ cách rất tàn khốc, thảm thiết. Phật kết luận ở đoạn kinh đó:” như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân”.
Nhưng các tôn giáo ở Ấn thời đó thường chỉ đổ thừa khổ đau là do nhận lãnh ác nghiệp làm từ kiếp trước, và để tiêu trừ ác nghiệp cũ họ chủ trương lối tu khổ hạnh, tự hành xác mình đến cực kỳ để chuộc lỗi. Họ cho tự làm khổ mình ở hiện tại như thế có thể chuộc lại những tội lỗi gây ra từ quá khứ, và tránh được hay làm nhẹ đi những đau khổ trong tương lai phải xảy đến do tác động của ác nghiệp từ tiền kiếp.

Trích kinh:” Này Hiền giả, Nigantha Nataputta – là bậc toàn tri, toàn kiến, tự xưng là có tri kiến toàn diện …nói như sau: ‘Này các Nigantha, nếu xưa kia Ngươi có làm ác nghiệp, hãy làm cho nghiệp ấy tiêu mòn bằng khổ hạnh khốc liệt này. Sự không làm ác nghiệp trong tương lai chính do sự hộ trì về thân, sự hộ trì về lời nói, sự hộ trì về ý ngay trong hiện tại, ở tại nơi đây. Như vậy chính nhờ sự thiêu đốt, sự chấm dứt các nghiệp quá khứ, sự không làm các nghiệp mới, mà không có sự tiếp tục trong tương lai. Do sự không tiếp tục trong tương lai, các nghiệp được diệt trừ; do nghiệp được diệt trừ, khổ được diệt trừ; do khổ được diệt trừ, cảm thọ được diệt trừ; do cảm thọ được diệt trừ, tất cả khổ đau sẽ được tiêu mòn”.

Đạo Phật tin ở nhân quả, nghiệp báo, và cho một người được hạnh phúc hay bị đau khổ bây giờ một phần là do nghiệp cũ tạo ra từ trước. Nhưng luật nghiệp quả rất phức tạp, đời sống hiện tại do nhiều tác nhân gây ra (từ cả ác lẫn thiện nghiệp), và vận hành theo quy luật nào đó chắc chắn ngoài sức nghĩ tưởng của cá nhân thọ nghiệp. Vì vậy tự hành thân xác (hay tinh thần) mình là vô ích, và có khi do đó mà gây ra nghiệp xấu trong tương lai (một người tự giết mình sẽ mang nghiệp xấu rất nặng). Có lẽ chỉ có Phật thấy được điều này, nên ngài đã bỏ lối tu khổ hạnh được nhiều người theo lúc bấy giờ. Ngày nay lối tu tự hành thân xác, giữ khắc khổ từ ăn mặc, lối sống, sinh hoạt vẫn tồn tại ở người tu dù nhẹ hơn xưa . Nhiều người vẫn cho tu mà ăn ngon, ở nhà lầu, ngồi thiền trong phòng điều hòa, đi xe hơi, có trương mục ở ngân hàng, …, tức có đời sống vật chất đủ tiện nghi, thì không phải thật sự là tu. Họ nghĩ như anh Ni-kiền tử may gặp được Phật :” –“Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ”.
Tuy nhiên, nếu sống buông thả theo những thọ hưởng đem sự vui thú cho thân tâm thì cũng không tu được. Ngay từ đầu Phật dạy các đệ tử cách tu theo Trung Đạo. Nhung ngày nay pháp Trung đạp đó nên như thế nào.

Hạnh Trương << Nhiều người vẫn cho tu mà ăn ngon, ở nhà lầu, ngồi thiền trong phòng điều hòa, đi xe hơi, có trương mục ở ngân hàng, …, tức có đời sống vật chất đủ tiện nghi, thì không phải thật sự là tu>>

Họ cho vậy có lẽ đúng đó anh HN, vì người tu mà mới xuất gia đã …

II. Thập Giới (Dasasikkhàpada)

1. Ðệ tử thực hành giới tránh sát sanh.
2. Ðệ tử thực hành giới tránh lấy của không cho.
3. Ðệ tử thực hành giới tránh tà hạnh trong các dục.
4. Ðệ tử thực hành giới tránh nói láo.
5. Ðệ tử thực hành giới tránh mọi cơ hội buông lung phóng dật do uống rượu hoặc các thứ men say.
6. Ðệ tử thực hành giới tránh ăn phi thời.
7. Ðệ tử thực hành giới tránh múa, hát, nhạc, kịch.
8. Ðệ tử thực hành giới tránh cơ hội đeo vòng hoa và trang điểm với hương liệu, dầu xoa.
9. Ðệ tử thực hành giới tránh dùng giường cao và rộng.
10. Ðệ tử thực hành giới tránh nhận vàng bạc

Có thể có các cách tu khác cho phép, em không rõ.. nhưng nếu có thì nó sẽ mâu thuẫn với giáo lý của Phật.

Ngoài ra, những cái mà người không biết nói là hành xác, với người biết nó là lạc do ly dục ly bất thiện pháp. Nhiều cái tưởng là khổ, thực ra lại không phải như vậy. Cái này thì phải làm được rồi mới biết.

Pháp được Thế Tôn khéo thuyết là thiết thực, hiện tại…

Binh Anson 10. Ðệ tử thực hành giới tránh nhận vàng bạc <— Quý vị nghĩ sao trong bối cảnh ngày nay ?

Tứ Diệu Đế Đối với cư sĩ thì không có cấm giới thứ 10 này. Theo quan điểm riêng con thì nên như vậy như ngày xưa.

Hạnh Trương Ở đây có lẽ cần làm rõ hai khái niệm:

1. tự hành xác nghĩa là chủ động làm các việc khiến mình có khổ ở thân, và hoan hỷ với cái khổ đó.

2. từ bỏ dục lạc thế gian, và có cái khổ của thân, cái khổ này có tạm thời trong khi từ bỏ, khi bỏ được hẳn thì cái khổ nó hết.

cái thứ 2 nó này như khi mình bị bệnh, bị bệnh mà chữa thì sẽ đau đớn trong khi chữa, ví như phải uống thuốc đắng, phải bị tiêm, bị mổ. Nhưng nếu việc chữa trị đó là đúng, thì sau khi chữa bệnh sẽ hết. Nghĩa là cái khổ về thân đó ( anh HN nói là hành xác) nó chỉ là tạm thời và ngay sau nó là sự an lạc của người không bị bệnh.

Theo em, đây cũng có thể là cách phân biệt giữa khái niệm ” biết mang gánh nặng của thiện pháp ” trong đạo Phật và ” hành xác” của ngoại đạo . Một cái chịu khổ tạm thời để ly khổ hoàn toàn, một cái là do tà kiến, cứ làm cho khổ mãi để “trả nợ”

Hạnh Trương “Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn đứng một chỗ không có vượt qua bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi các học pháp được Ta sửa soạn cho các đệ tử, các đệ tử của Ta, dầu cho vì nhân sinh mạng, cũng không vượt qua. Này các Tỷ-kheo, vì rằng các học pháp được Ta sửa soạn cho các đệ tử, các đệ tử của Ta, dầu cho vì nhân sinh mạng, cũng không vượt qua. Này các Tỷ kheo trong Pháp và Luật này, đây là Pháp vi diệu chưa từng có thứ hai. Do thấy vậy, thấy vậy, Tỷ-kheo thích thú, trong Pháp và Luật này.”

Tiểu Bộ I- (V) (Ud 51)

Khi đọc tạng Luật, thường thấy các vị tỳ kheo trước khi xin Phật thay đổi điều học cho phù hợp với điều kiện sinh hoạt của địa phương thì các ngài vẫn tuân thủ, sau đó các ngài sẽ xin Phật, tùy theo trường hợp mà Phật có thay đổi hay không. Có khi ngài thay đổi tạm thời, có khi ngài đổi hẳn.

Thời nay Phật không còn, ai sẽ là người giải quyết những chuyện như thế cho tăng đoàn Có lẽ đó là cái khó của những vị xuất gia ngày nay.

Hạnh Trương “- Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, năm pháp đưa đến thuần thục. Thế nào là năm?

8. Ở đây, này Meghiya, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ nhất đưa đến thuần thục.

9. Lại nữa, này Meghiya, Tỷ-kheo có giới, sống được bảo vệ sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ hai đưa đến thuần thục.

10. Lại nữa, này Meghiya, câu chuyện này có khả năng đoạn giảm (hướng thượng) đưa đến tâm được rộng mở, như luận về ít dục, luận về biết đủ, luận về viễn ly, luận về không tụ hội, luận về tinh tấn tinh cần, luận về giới, luận về định, luận về tuệ, luận về giải thoát, luận về giải thoát tri kiến. Những câu chuyện như vậy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ ba đưa đến thuần thục.

11. Lại nữa, này Meghiya, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để được đầy đủ các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì KHÔNG TỪ BỎ GÁNH NẶNG TRONG CÁC THIỆN PHÁP. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ tư đưa đến thuần thục.

12. Lại nữa, này Meghiya, có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh và diệt, với Thánh thể nhập đi đến con đường đoạn tận khổ đau. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ năm đưa đến thuần thục.”

Đoạn kinh số 11 gặp rất nhiều trong Kinh khi nói về tinh cần, tinh tấn.

Hoa Nguyen Xin góp ý ở vài vấn đề:
“7. Ðệ tử thực hành giới tránh múa, hát, nhạc, kịch”. Tôi chứng kiến một thầy hát ở chủa Bắc tông sau khi thuyết pháp (thầy Pháp Hòa), và một sư cô (Nam Tông) hát ở chánh điện trước tượng Phật tại một chùa Nam tông (và hát rất hay). Như thế là không đúng giới, nhưng nếu chỉ hát mà không múa thì ngày nay có cho phép không.
“10. Ðệ tử thực hành giới tránh nhận vàng bạc”. Để cho rõ nghĩa, xin ghi chú thêm : Vàng bạc ngày xưa có nghĩa là tiền bạc ngày nay.

Hoa Nguyen Sau đây là bài hát Chấp Tay Niệm Phật. Vị nào không bị buộc phải giữ điều 7 trên, hãy nghe thử và cho ý kiến là trong trường hợp nào, và bản nhạc như thế nào thì chấp nhận được.

Hạnh Trương Thực ra nói chấp nhận được hay không thì phải là chính các vị cùng tu với vị đó quyết định.

Giới khi mình tự giữ là cho mình, nếu mình thấy cần thì mình giữ, mình thấy không cần thì mình không giữ.
Trong kinh có đề cập tới điều này, trong một trao đổi của Phật và Siha

7. Và này Sìha, thế nào là pháp môn, do pháp môn ấy, nói một cách chơn chánh về Ta, có thể nói: “Sa-môn Gotama chủ trương không hành động, thuyết pháp về không hành động và huấn luyện các đệ tử như vậy”?

Này Sìha, ta tuyên bố về không hành động đối với thân làm ác, miệng nói ác, và ý nghĩ ác. Ta tuyên bố về không hành động đối với các pháp ác, bất thiện.

Này Sìha, thế nào là pháp môn, do pháp môn ấy, nếu nói một cách chơn chánh về Ta, có thể nói: “Sa-môn Gotama chủ trương hành động, thuyết pháp về hành động và huấn luyện các đệ tử như vậy”?

Này Sìha, Ta tuyên bố về hành động đối với thân làm lành, miệng nói lành, và ý nghĩ lành. Ta tuyên bố về hành động đối với các thiện pháp.

Thành ra, nếu vị ấy quyết định rằng nghe nhạc là việc thiện, thì vị ấy cứ làm, có điều là thiện hay là bất thiện thì không biết ngoài Phật và các vị A-La-Hán ra, ai có thể xác chứng việc đó .

Bản thân HT, thì nghe nhạc là người nó rờn rợn, không thoải mái -> tự kết luận là : bất thiện.

Vấn đề thứ hai :

Các vị cùng tu có chấp nhận hay không? Nếu một vị tu một mình, làm gì thì làm, cuối cùng tự làm tự chịu. Nhưng khi sống chung, tu chung thì là chuyện khác, có thể một vị làm thiện mà bị tẩn xuất, vì hội chúng bất thiện, và ngược lại.

Câu trả lời cho anh HN “thế nào là chấp nhận được” theo em là như vậy.

Hạnh Trương Đó là em nói về trường hợp một vị tự coi là điều học của Thế Tôn đặt ra là lạc hậu, hoặc điều học đó bị truyền sai .

Còn nếu không phải vậy thì chắc cách xử lý rất rõ ràng, được mô tả trong tạng Luật.

Quay trở lại bài kinh, có đoạn rất hay, nói về vai trò của Tứ Thiền Sắc Giới :

“Các dục vọng, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. Này Mahànàma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ, nhưng NẾU VỊ NÀY CHƯA CHỨNG ĐƯỢC hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahànàma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ: “Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn”,

… và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào cao thượng hơn, như vậy vị ấy không bị các dục chi phối.”

Hoa Nguyen “về trường hợp một vị tự coi là điều học của Thế Tôn đặt ra là lạc hậu, hoặc điều học đó bị truyền sai”.
Anh HT hãy góp ý về vấn đề khất thực của các sư, như Phật đã dạy và chính Phật làm như thế. Ngày nay khất thực còn cần thiết cho đời sống, sinh hoạt, giới hạnh, và việc tu hành không. Hay nên có cách khác thay thế.

Hạnh TrươngTrung Thiện vừa “hạ sơn”, nhờ Sư chia sẻ về đề tài khất thực này đi ạ.

Su Trung Thiện Khất thực, khất thực, có cách nào nuôi mạng tốt đẹp hơp, an lạc hơn là khất thực, đối với vị đã từ bỏ gia đình, từ bỏ bếp núc, từ bỏ tích trữ? từ bỏ việc ăn uông phi thời, ăn uống theo sở thích? “Này các Tỳ khưu, vật thực có được do khất thực là dễ kiếm, dễ đạt được trạng thái vô tội…”.Chính sư từ hồi quay về Thái, tính đến nay có tổng cộng 7 ngày là thọ nhận sự thỉnh mời, còn lại là khất thực thì sư thấy rõ lợi ích lớn, an lạc lớn, hỗ trợ lớn cho sự tu tập….” Và này các tỳ khưu , ta nói rằng, bằng lòng, biết đủ, không rơi vào tầm cầu bất chánh, với vật thực, y, sàng tọa, dược phẩm có được, ( do khất thực, hay thỉnh mời…) là sự nuôi mạng chân chánh…

Hạnh Trương Nếu đi khất thực mà không có đồ ăn, hoặc đồ ăn không phù hợp thì sao Sư nhỉ ?

Su Trung Thiện 3 Đời chư Phật là sinh sống với bình bát, các vị Độc Giác cũng vậy, Hội chúng tỳ khưu cũng vậy. Bát là 1 trong 8 vật dụng của 1 vị sa môn, thì chắc chắn là bát có giá trị nào đó với vị xuất gia rồi, đó là chiếc mỏ của loài chim( không dính mắc, hướng chúng đi khó tìm)

Hạnh Trương Các vị tu thiền quen, thì có thể ngồi thiền vẫn khỏe vài ngày, thế còn những vị mới tu thì sao ạ. Chưa kể đi khất thực còn gặp vô số điều hấp dẫn , hihi

Hạnh Trương Sư nói ý về 3 y một bát đó con mới nhớ, đi đâu cũng phải mang theo. Nhưng mang thì phải dùng chứ nhỉ, hihi

Hạnh Trương Pháp cú:
203. “Ðói ăn, bệnh tối thượng,
Các hành, khổ tối thượng,
Hiểu như thực là vậy,
Niết Bàn, lạc tối thượng.”

Bệnh tối thượng đó Sư🙂

Su Trung Thiện Sư đã khi khất thực ở Huế, sư đã khất thực ở Hà Nội, ở Vũng Tàu, Đồng Nai, tp, Hồ Chí Minh,ở vùng dân tộc trên Lâm Đồng, ở Miến, ở Thái.. sư biết rõ nơi nào sống được lâu dài bằng vật thực trong bát, nơi nào không thể ( vì toàn sữa, mì gói, bánh ngọt, trái cây, thì với 1 người có dạ dày không ” chuẩn” thì lâu dài là hơi kẹt chút) Nhưng tuy nhiên, sư cũng tập cho mình dễ tính hơn trước, lại hành thiền mỗi ngày nên cơ thể đã trở nên thích ứng hơn nhiều với các loại vật thực( kể cả không hợp lắm). không hợp thì nên nghĩ rằng: nay sự sống của ta phụ thuộc vào bên ngoài, không phải do tự tay làm ra, vậy thì có mà ăn ( đã là) quá tốt rồi, rồi thọ dụng. ( Sư tập ăn những thứ không hợp dần dần mỗi ngày) Dễ nuôi là vậy, không tầm cầu là vậy, cái này đem lại an lạc lớn, đem lại sức mạnh cho Tâm này…

Hạnh Trương Con nhớ trong sách của các Sư Forest Dhamma bên Thái, các Sư kể miễn là có cơm và nước là OK rồi.

Dễ nuôi thì tập được, không sợ bệnh tập được, không sợ bị chê gày còm tập được, nhưng cơn đói mà trong kinh Pháp Cú mô tả là ” bệnh tối thượng” đó… thì sao nhỉ. Hay là các Sư liều mình luôn, hihi.

Su Trung Thiện Sau 1 tháng có y và bát của vị xuất gia, sư đã đi bộ 19 km, với bữa trưa là 1 nắm xôi ngô, 1 lon bò húc, 1 gói mì gói ăn sống( vì thọ thực dưới 1 gốc cây, bên bờ sông), vài cái bánh quy xốp, rồi sau bữa thọ thực đó, ngồi thiền tịnh nghỉ ngơi dưới bóng cây râm mát nghỉ ngơi, rồi tiếp tục cuộc bộ hành đến ngôi chùa tiếp theo. Thấy an lạc vô kể, tự do, tự tại vô số….

Hạnh Trương Con thấy bên Thái các Sư ăn sướng lắm mà, có vị kể với con, phật tử cúng dường toàn đồ ngon nhất, các vị có đi khất thực về cũng có đồ ngon sẵn ở bếp trong chùa, phải vậy không Sư.

Khất thực là để ăn, hay là pháp để tập.

Có lần con thấy ở VN người ta cũng tổ chức khất thực, mỗi Thầy cầm một cái bình bát bé xíu, chắc là tượng trưng, rồi sau đó vào bàn mỗi vị có một khay cơm to, hoa quả đầy luôn. Chắc do Phật tử bọn con sợ các Thầy đói🙂

Su Trung Thiện Đi khất thực mà không có thu thúc lục căn, với Chánh niệm tỉnh giác thì không khác nào yếu và ra gió. Đi khất thực mà không có từ tâm, thì gặp chó, rất dễ nhăn nhó( vì chó cắn). Đi khất thực mà không có sự hổ thẹn tội lỗi, tinh tấn thường hằng thì…cũng khó mà trụ được lâu dài. Thế nên, khất thực đúng thì tốt và an vui cho chư thiên nhân loại, còn khất không đúng pháp, hay bất cứ sự thực hành không đúng pháp đều đem lại đau khổ lâu dài cả thôi.

Su Trung Thiện Khất thực là để kiếm thức ăn, còn thức ăn của mỗi vị, nhiều ít ra sao, chất lượng thế nào, lại tùy theo Phước của vị đó, và các vị cồng trú và vài yếu tố khác nữa. Nếu thấy phước đủ, có thể xin thức ăn chư thiên cũng được cơ mà…

Hạnh Trương Còn một điều có lẽ có liên quan

“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, Tỷ-kheo đặt hy vọng vào sự đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?

3.

(1.) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

(2) Tỷ-kheo ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn.

(3) Tỷ-kheo ấy không lừa đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chân đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt, hay đối với các vị đồng Phạm hạnh.

(4) Tỷ-kheo ấy sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu với các thiện pháp.

(5) Tỷ-kheo ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sanh diệt các pháp, Thành tựu sự thể nhập thuộc bậc Thánh, đưa đến chân chánh đoạn diệt khổ đau.

Ở chi phần thứ 2, có việc là SỰ TIÊU HÓA ĐƯỢC ĐIỀU HÒA.
Với một vị mà dạ dày không dễ tính lắm, thì liệu có sống bằng khất thực được không ?

Hạnh Trương Chưa kể thời nay, đường, bánh ngọt, hóa chất, chất bảo quản rất nhiều, đi khất thực thì Phật tử họ thích ăn gì thì họ cúng cái đó, các Sư mà ăn phải mấy cái đó nhiều thì e chẳng dạ dày nào chịu nổi.

Khổ các Sư quá ha, hihi.

Su Trung Thiện Khổ do những thứ như thế là khổ nhỏ( thức ăn bên Thái có khi màu sắc sặc sỡ như đồ chơi trẻ con), Khổ do muỗi đốt( muỗi rừng), dĩn, các loại côn trùng là khổ nhỏ. Khổ do Tham, do Sân, do Si cái này mới là lớn,( đau đớn như là chết, hay khổ cho đến chết) mới là Khổ Lâu Dài. Kham nhẫn những khổ nhỏ để chấm dứt Mọi Khổ, không phải là người Trí hay sao?

Su Trung Thiện Trước khi đi tu, sư bị đau dạ dày, có thời điểm chụp thấy ổ dạ dày có tụ huyết. Sau 5 năm sống ở chùa, có giới, có hành thiền, có sự dễ tính trong ăn uống hơn, (dù thưc ăn nhiều lúc thất thường) bênh đau dạ dày đã chấm dứt. Thế nên, nói thật, khi tâm khéo huấn luyện, thân cũng dễ thích ứng. Tất nhiên, nếu có dạ dày tốt thì càng tốt hơn, đương nhiên rồi.

Hoa Nguyen Xin kể một chuyện về khất thực. Tết Âm lịch vừa qua tôi đến thăm một chùa ở Mỹ, thuộc tổ đình Khất sĩ Minh Đăng Quang (tu theo giáo lý nguyên thủy, hệ Hán tạng) Sư trụ trì chỉ sống một mình trong “tịnh xá” là một gian nhà nhỏ, cũ kỹ mua lại với giá 200 ngàn đô (là không cao). Sư cho biết từ Ấn Độ tới, theo diện tỵ nạn, được Phật tử tại chỗ vay tiền ngân hàng mua căn nhà, sau đó nhiều Phật tử VN gởi tiền qua trả hết nợ nhà, và sư có toàn quyền sửa chữa lại bên trong thành ngôi chánh điện thờ Phật và thêm chỗ giảng pháp rộng bằng hai lớp học. Gọi là “diện tỵ nạn” vì theo sư kể trước năm 1975 lúc còn là chú tiểu sư có chân trong Giáo hội PGVN Thống Nhất thời đó, sau đi hành hương Ấn Độ và sư ở lại tu tại Bồ Đề Đạo tràng, rồi được các sư đồng môn hay Phật tử làm hồ sơ tỵ nạn để sư qua Mỹ. Kể dài dòng vậy cho chuyện có đầu có đuôi. Theo lời kể, mỗi ngày sư đều đi khất thực, bất kể trời nóng lạnh, hay mưa tuyết. Tôi hỏi sư có nhận được thức ăn gì của ai cho, và thấy trở ngại gì không (hình ảnh sư Phật giáo đi khất thực ở Mỹ là rất lạ, có khi gây phản cảm trong một xã hội khác tôn giáo). Tịnh xá nằm trong một xóm nhỏ, đa số người Mỹ sống quanh đó đều nghèo. Sư cho biết không gặp trở ngại gì, và cũng không ai cho gì, nhiều người Mỹ đang cắt cỏ, tưới cây trước sân nhìn sư đi qua cũng chẳng nói gì (nhờ ở Ấn lâu, sư biết tiếng Anh, nhiều hay ít không rõ). Sư thọ dụng thức ăn do một bà cư sĩ ở gần đó nấu đem tới mỗi ngày. Hôm đầu tiên đi “khất thực” trên đường phủ đầy tuyết, sư đi chân không chịu lạnh không nổi phải rút ngắn “lộ trình” quen thuộc. Hôm sau, sư mang vớ dầy và dép nên đi được xa hơn. Tôi hỏi tại sao sư phải (làm) như vậy. Sư nói là muốn giới thiệu cho mọi người ở đây thấy Phật giáo là như thế nào, và khất thực là một “hạnh” được Phật dạy và một tăng sĩ phải giữ. Sư cho biết mình đi khất thực là để nhận thức ăn, nhưng cũng là dịp giúp người thế gian làm hạnh bố thí (theo kinh, bố thí cho sư, qua cúng dường, được nhiều công đức nhất), cũng để nếu có dịp thì giảng Phật pháp cho ai muốn nghe.
Tôi không có ý kiến gì thêm.

Binh Anson @Hạnh Trương: Giới khi mình tự giữ là cho mình, nếu mình thấy cần thì mình giữ, mình thấy không cần thì mình không giữ.

– Trước đó, anh/chị đã nêu ra thập giới (Dasasikkhàpada) — trong đó có giới không thọ nhận, cất giữ tiền bạc, theo ngữ cảnh ngày nay — của người tu mới xuất gia (= sa-di, sa-di-ni). Đây là 10 giới mà một vị sa-di/sa-di-ni thọ nhận và nguyện tuân giữ trong buổi lễ xuất gia, và vị ấy tụng đọc thường xuyên. Nếu bảo rằng “Giới khi mình tự giữ là cho mình, nếu mình thấy cần thì mình giữ, mình thấy không cần thì mình không giữ” , tôi e rằng có một sự nghịch lý, mâu thuẩn ở đây!

Hoa Nguyen Tôi nghĩ giới luật ràng buộc người thọ giới với đoàn thể mình gia nhập và sinh hoạt chung. Với đạo Phật giới còn giúp cho việc tu hành, cụ thể là phòng hộ thân tâm và tu thiền định. Nếu không giữ được giới thì “coi như” ra khỏi đoàn thể đó, hay không tu đúng theo Phật giáo. Nhưng cũng có những giới thuộc tư hạnh, phẩm cách riêng, nếu giữ được thì là bậc phạm hạnh, được nhiều kính trọng, còn không giữ được vẫn không trở ngại nhiều tới tu tập riêng hay sinh hoạt chung.

Hoa Nguyen Trở lại giới không được nhận, giữ tiền bạc, tôi nghĩ ngày xưa giới này rất hợp lý. Vì giúp tránh được tâm tham (của cải), sự lo lắng giữ gìn vàng bạc mang trong mình, hay trộm cắp xảy ra khi sống chung với nhiều người. Cũng tránh được nạn cướp của (có thể giết người) ngày xưa dễ xảy ra khi sư tăng đi lẻ loi hay từng nhóm nhỏ từ vủng này qua vùng khác (khi bọn cướp biết các sư không mang theo tiền bạc gì thì không làm hại). Nhưng ngày nay, sư đi đâu cũng cần đến tiền cho chi phí di chuyển, ăn, ở. Nếu sư không mang theo tiền thì phải có thị giả hay cư sĩ đi theo. Cũng không đơn giản. Việc xây cất, trùng tu chùa , làm bia, đúc tượng phải cần đến nhiều tiền. Cho là nhờ cư sĩ giữ số tiền quyên được thì cũng không an tâm bằng sư mở trương mục ký thác tiền ở ngân hàng.

Hạnh Trương @Dr Binh Anson: Đúng là mâu thuẫn đó ạ🙂

Khoa Nguyen Con thấy Su Trung Thiện có ghi: Khất thực là để kiếm thức ăn, còn thức ăn của mỗi vị, nhiều ít ra sao, chất lượng thế nào, lại tùy theo Phước của vị đó, và các vị cồng trú và vài yếu tố khác nữa. Nếu thấy phước đủ, có thể xin thức ăn chư thiên cũng được cơ mà…
Con cũng nghe nói trường hợp này, mình có nên hay không nên xin thức ăn của chư thiên và việc xin như vậy có hay không có ảnh hưởng đến việc tu tập về sau của hành giả. Xin Sư Trung Thiên chia sẽ thêm.

Hạnh Trương Sư Mun ở Thái, một vị nổi tiếng với khả năng giao tiếp và được sự kính trọng của chư thiên, vị ấy vẫn đi khất thực cho tới ngày không thể lê chân đi được nữa.

Su Trung Thiện Sư có nghe nói có 1 vị sư ở trong rừng, vào ngày đi khất thực, không xin được gì, biết rõ ở 1 cây lớn có vị thiên, vị ấy đến đó khất thực và thọ dụng thức ăn đó. Sư cũng có đôi chút kinh nghiệm về vấn đề này, nhưng sư thấy nêu ra không đem lại nhiều lợi ích, tuy nhiên nếu có vị tỳ khưu nào ở Rừng, sống độc cư, là vị sử dụng ba y, y là vải lượm, vị ấy là vị Đa văn nghe nhiều Pháp, khéo ghi nhớ, khéo tìm hiểu ý nghĩa và quan trọng hơn là có sự hổ thẹn tội lỗi dù là nhỏ nhen, sống theo Giới Bổn Patimokkha, rồi có sự thu thúc lục căn, có sự ăn uống tiết độ, có chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, ít dục, ít tầm cầu, tinh tấn hành thiền, không ham mê ngủ nghỉ, không bỏ rơi gánh nặng với các thiện pháp, biết rõ các hạng chư thiên, phi nhân với mắt, với tai của mình, vị tỳ khưu nào như vậy, vị ấy có thể xin được thức ăn chư thiên, nếu muốn.

Hạnh Trương Vậy khất thực không phải để ăn Sư nha, hehe, khất thực, nói theo kiểu hiện đại là life style🙂

Khoa Nguyen Con rất cảm ơn Sư trả lời, nhưng theo kinh nghiệm thì việc trên có ảnh hưởng gì việc tu tập hiện nay của Sư không ?

Su Trung Thiện Nói chung là có những kinh nghiệm không thể nói ra được, và cũng không nên nói ra. Tuy nhiên sư cũng nhớ là nhiều lần trong kinh, luật Thế Tôn có nói là vật thực mà Thế Tôn dùng xong, còn dư, ngoại trừ các vị tỳ khưu thì không ai dùng nổi, hoặc có khi hoàn toàn không ai dùng được nữa. Như thế, vật thực mà Thế Tôn thọ dụng, chắc chắn có ” cái gì đó đặc biệt”.

Đào Trọng Trác Xin đảnh lễ Su Trung Thiện !
Điều Sư nói về vật thực do Thế Tôn thọ dụng :
Sư Trung Thiện : “Tuy nhiên sư cũng nhớ là nhiều lần trong kinh, luật Thế Tôn có nói là vật thực mà Thế Tôn dùng xong, còn dư, ngoại trừ các vị tỳ khưu thì không ai dùng nổi, hoặc có khi hoàn toàn không ai dùng được nữa. Như thế, vật thực mà Thế Tôn thọ dụng, chắc chắn có ” cái gì đó đặc biệt”.
Nếu hoan hỷ Sư cho xin trích dẫn ở bài kinh nào để chúng đệ tử của Thế Tôn được tham khảo và tìm hiểu ạh!
Xin cảm ơn Sư ! Chúc Sư được sức khỏe và an lạc!

Su Trung Thiện Trác à, ngay trong bài kinh Đại bát Niết Bàn, trong Trường bộ kinh có nói rồi, món vật thực cuối cùng, Thế Tôn bảo thợ rèn Cunda hãy chôn đi. còn nhiều bài khác nữa, nhưng sư thấy không quan trọng, nên chúng ta sẽ tạm dừng ở đây.

Đào Trọng Trác Dạ vâng , cám ơn Su Trung Thiện !

Binh Anson Về món ăn “Sukaramaddava” của người thợ rèn Cunda dâng cúng đến Đức Phật và những gì xảy ra sau đó, có thể đọc thêm cho biết, qua ý kiến phân tích của Bhikkhu Mettanando (là 1 vị bác sĩ y khoa trước khi xuất gia):

http://budsas.110mb.com/ebud/ebdha192.htm

Hoa Nguyen Theo phân tích của Bhikkhu Mettanando (từ link ông Binh Anson cho), Đức Thế Tôn có thể bị bệnh vì một món ăn lớn (và cứng) làm chảy máu đường ruột (có thể do vỡ bướu ruột hay bệnh gì khác không ai biết chắc), thì Phật đã không ăn phải nấm độc như tạng kinh A-hàm ghi lại. Vậy có thể Nhất Thiết Hữu bộ đã sửa lại điều này khi viết kinh (Hữu Bộ chủ trương ăn chay nên họ khó chấp nhận ý tưởng Phật bị bệnh vì ăn thịt heo).
Nhân đây, trong bài của Bhikkhu Mettanando có câu viết: “The former story was probably a legend, or the result of a political struggle within the Buddhist community during a stage of transition… “. Sự tranh chấp nội bộ trong tăng đoàn (political struggle within the Buddhist community) cũng được tác giả khác nêu lên. Để ý là ông Ananda, thị giả và là người gần gũi nhất của Phật, đã bị trách cứ hay quy tội nhiều nhất về chuyện Phật bị bệnh và mất. Trước hết, Ananda không khéo chăm sóc Phật, đã từ chối khi Thế Tôn bảo tìm nước uống (lúc đó ngài rất khát do thân mất nhiều nước), không cầu xin Phật ở lại thế gian thêm một thời gian, và có nhiều sơ suất khi làm lễ tang (cho ni vào viếng trước tăng, để tăng ni coi thân Phật). Ananda bị trách cứ và bị đuổi ra khỏi tăng đoàn khi kết tập lời Phật, với lý do ông chưa chứng quả A-la-hán. Theo một chuyện ghi lại thì Ananda rất buồn và quyết tâm trong một đêm chứng được quả A-la-hán. Nhưng theo một bản kinh khác thì khi ngài Maha Ca Diếp đuổi Ananda khỏi tăng đoàn (kết tập kinh) thì nhiều vị tỳ kheo đã năn nỉ Maha Ca Diếp cho Ananda trở lại, và Maha Ca Diếp bằng lòng .
Từ đó, ngài Ca Diếp giữ vai trò thừa kế Phật, thống lãnh tăng đoàn Phật giáo. Nói thêm là ngài Ca Diếp cùng ba người em trước tu theo đạo thờ Lửa, có hơn 1000 đệ tử, khi anh em ngài quy y Phật thì các đệ tử ngài cũng theo Phật.

Hạnh Trương <<Từ đó, ngài Ca Diếp giữ vai trò thừa kế Phật, thống lãnh tăng đoàn Phật giáo. Nói thêm là ngài Ca Diếp cùng ba người em trước tu theo đạo thờ Lửa, có hơn 1000 đệ tử, khi anh em ngài quy y Phật thì các đệ tử ngài cũng theo Phật.>>
Trong đoạn trên của anh Hoa Nguyen có hai ý, theo em thì cần trích dẫn để đảm bảo tính khả tín.
1. Ngài Ca Diếp thừa kế và thống lãnh tăng đoàn
2. Ngài là một trong ba anh em Ca Diếp thờ lửa ( chứ không phải cùng 3 người em )

Hoa Nguyen Ông Ca Diếp có hai hay ba em cùng theo đạo thờ Thần Lửa thì khi viết theo trí nhớ tôi không nhớ rõ, và đây là chi tiết không quan trong (nên tôi không tra cứu lại). Điều quan trọng là ông Ca Diếp theo đạo thờ Thần Lửa trước khi theo Phật, và tu theo khổ hạnh, đó là những nét rất riêng (hay đặc sắc) về ông . Có chuyện cũng đáng nhớ là sau khi theo Phật được 7 ngày thì trên đường trở về “trú xứ” cũ của mình ông Ca Diếp đắc quả A-la-hán . Điều này cũng rất đáng ghi nhớ, vì thời Phật đã có trường hợp chứng đắc rất nhanh (7 ngày) như vậy, mà sau này Thiền Tông gọi là Đốn Ngộ. Tuy vậy cái đốn ngộ của Thiền tông không hề thấy xảy ra trong trong 7 ngày mà trong một kiếp tu (có thể dài tới 15 năm hay hơn). Đạo thờ Lửa gốc ở Ba Tư, không liên quan với đạo Bà la môn , tuy ông Ca Diếp thuộc dòng dõi Bà La môn . Một chi tiết khác có ghi trong kinh là ông Ca Diếp gọi ông Ananda là “trẻ con”, và Ananda đáp lại: Trên đầu tôi tóc xanh đã thành trắng sao gọi tôi là trẻ con”. Một bà ni phản đối chuyện Ca Diếp gọi Ananda như thế, sau này kinh ghi chép là bà ấy không giữ phạm hạnh nữa, nên chắc bị xuất khỏi tăng (ni) đoàn.

Pāli Việt 3 vị Kassapa thờ Thần Lửa là 3 vị khác. Còn Mahākassapa (Đại Ca Diếp) là 1 vị khác nữa, có vợ là Bhaddā Kāpilānī. Về sau cả 2 đều xuất gia theo Phật. Hai vị này tuy là vợ chồng nhưng không có quan hệ thân xác. Câu chuyện rất dài và cảm động, có ở mạng internet, hình như là Chú Giải Pháp Cú hoặc Lời Vàng Bậc Thánh.

Hoa Nguyen Về chuyện Maha Ca Diếp sau khi Phật nhập diệt lãnh đạo tăng đoàn được nhiều người nhìn nhận, như một tác giả tiếng Anh viết như sau :
Mahakasyapa is called the “father of the sangha.” After the historical Buddha died, Mahakasyapa assumed a leadership position among the Buddha’s surviving monks and nuns.

Hiếu Nguyễn Bài kinh này mọi người chú trọng vào phần “ăn” quá nhỉ, con đọc comments mà thấy hầu hết là về vấn đề khất thực, hi hi.

Là một cư sỹ, lại đang trong giai đoạn trẻ trung, phải lao động để tích lũy tài sản, đoạn này gây cho con xúc động lớn:
Và này Mahànàma, thế nào là sự nguy hiểm các dục? Ở đây, này Mahànàma, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.

Này Mahànàma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả”. Này Mahànàma, như vậy, là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.

Này Mahànàma, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?” Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa”. Này Mahànàma, như vậy là sự nguy hiểm các dục… (như trên)… là nguyên nhân của dục.

Mấy tuần nay tham công tiếc việc, tham tiền, làm việc quần quật, đúng là khổ nhiều, não nhiều. Làm xong thì lại lo lạm phát. Chuyển sang các ngoại tệ hay vàng thì lại lo kết kim, kết hối.

Thật đúng là: “Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng”.

“Do dục làm nhân, do dục làm duyên” hết!!!

Hoa Nguyen Sư Indacanda có thể đúng về trường hợp các ngài Ca Diếp thời Phật. Tôi sẽ tra cứu lại chỗ này. Tôi dựa vào các sách nghiên cứu về sử Phật giáo hơn vào kinh Phật khi nói về chuyện này, và có lẽ tôi đã lẫn lộn về những ngài tên Ca Diếp (thờ Lửa). Tôi nhớ ngài Mục Kiền Liên cũng là một lãnh đạo của đạo thờ Thần Lửa trước khi theo Phật.

Hạnh Trương Được làm người chắc là chúng ta ai cũng đã tích lũy nhiều thiện nghiệp. Ở đời này, khi biết bố thí, giới giữ được một ít, khi làm thiện nghiệp thì (1) nghiệp thiện quá khứ có duyên để khởi hiện. Ai đó sẽ gặp hoàn cảnh kinh tế thuận lợi, ai đó được nhiều người ngưỡng mộ…

Khi gặp các điều kiện đầy đủ, thuận lợi cho dục như vậy, thì dục tham khởi lên, các ác pháp, bất thiện pháp khởi lên, và chúng lại làm duyên cho bất thiện nghiệp trong quá khứ. (2) Chúng ta lại gặp vô số điều kiện không thuận lợi. Người đó sẽ lại khổ.
Cái vòng luẩn quẩn là như vậy.
Các cụ nói “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí” cũng là như vậy.

Hoa Nguyen Sau đây là bài trong kinh kể về một ngài Ca Diếp thờ Thần Lửa (xin lỗi phải post bài tiếng Anh). Ba anh em họ tên là Nadi Kassapa, Gaya Kassapa, và Uruvela Kassapa
http://www.sacred-texts.com/bud/btg/btg20.htm

Pāli Việt

Anh Hoa Nguyen ơi, “nói có sách mách có chứng” chớ bộ:
1/ TTPV 41: Trưởng Lão Ni Ký Sự
27. Bhaddākāpilāni-apadānaṃ – Ký Sự về Bhaddākāpilānī: (từ trang 146)
2/ 7- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO NI BHADDAKĀPILĀNĪ
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-lvbt/lvbt3.htm
3/ Học Giả Misra, G. S. P. cũng bị lầm lẫn về vấn đề này:
BOOK REVIEW:
Misra, G. S. P. The Age of Vinaya: A Historical and Cultural Study. New Delhi: Munshiram Manoharlal, 1972.

In the footnote 51, when he says that Mahākassapa who convened the First Council was a Jaṭila, he was perhaps thinking of Uruvelakassapa, Nadīkassapa, and Gayākassapa (Vin. I, 24.). But according to Apadānapāḷi and Theragāthā-Aṭṭhakathā (Ap. II, 583, verse 56 ff.; TheA. III, 121 ff.), Mahākassapa was a Brahmin named Pippalimāṇava who married Bhaddā Kāpilānī and later both renounced the world and became famous monk and nun of the Buddha.

Hoa Nguyen Vâng, thưa Sư bây giờ tôi nghĩ sư nói rất đúng về ngài Maha Ca Diếp. Có lẽ vài tạp chí Phật giáo cũng lẫn lộn như tôi, vì tôi đọc cách nay không lâu một bài viết về một ngài Ca Diếp với rồng lửa trên một tạp chí PG như vậy và cho ông Ca Diếp đó là đại đệ tử của Phật.
Vậy xin đính chính câu chuyện Maha Ca Diếp và đạo thờ Lửa.

Khoa Nguyen Anh Hoa Nguyen có ghi ở trên:
… Ananda bị trách cứ và bị đuổi ra khỏi tăng đoàn khi kết tập lời Phật, với lý do ông chưa chứng quả A-la-hán. Theo một chuyện ghi lại thì Ananda rất buồn và quyết tâm trong một đêm chứng được quả A-la-hán. Nhưng theo một bản kinh khác thì khi ngài Maha Ca Diếp đuổi Ananda khỏi tăng đoàn (kết tập kinh) thì nhiều vị tỳ kheo đã năn nỉ Maha Ca Diếp cho Ananda trở lại, và Maha Ca Diếp bằng lòng .

Mình hỏi thêm 1 tí là trong phần kết tập kinh điển lần đầu tiên có ngài Ananda không ? và trong đoạn kinh nào có nói việc kết tập kinh điển lần đầu tiên ? Nhờ anh Hoa Nguyen cho biết bởi vì mình đang cần đoạn này.

Hiếu Nguyễn http://www.paliviet.info/VHoc/VHoc_62.htm
http://www.paliviet.info/VHoc/62-SaddhammaS/62.pdf

Cuốn này kể về các cuộc kết tập nè anh Khoa Nguyen.

Pāli Việt Tạng Luật, Tiểu Phẩm, TTPV tập 7, 2 chương cuối nói về 2 cuộc kết tập 1 và 2.

Khoa Nguyen Dạ, cám ơn Sư và Hiếu Nguyễn

Phan Minh Nguyet “Này Mahànàma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ, nhưng nếu vị này chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối”

Tôi hơi thắc mắc đoạn này: tại sao thấy với “như thật chánh trí tuệ” mà lại “chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp…”? “Chánh trí tuệ” ở đây là trí tuệ gì vậy?

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s