KINH MN 018 – KINH MẬT HOÀN (MADHUPIṆḌIKASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 018 – Kinh Mật Hoàn (Madhupiṇḍika sutta)

 1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung18.htm

 2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.018.than.html

3. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Ñāṇamoli and Bhikkhu Bodhi

http://www.yellowrobe.com/component/content/article/120-majjhima-nikaya/350-mn-18-madhupiika-sutta-the-honeyball.html

 4. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/018.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 018

1. Trích giảng Kinh Mật Hoàn – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-018.htm

 2. Toát yếu Kinh Mật Hoàn – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-02.htm

 3. Hữu và Phi Hữu (Bhava & Abhava)

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/an/an03/an03.076.than.html

4. Tham khảo thêm về Tùy Miên (Anusaya)

– Bảy Tùy Miên (Bộ Song Đối, Đại Trưởng Lão Tịnh Sự dịch)

http://bsphamdoan.wordpress.com/cac-pham-tru-categories/bay-tuy-mien-anusayas/

– Underlying tendencies (Sister Ayya Khema), http://www.vipassana.com/meditation/khema/allofus/underlying_tendencies.php

– Obsessions (bhik. Thanissaro)

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/an/an07/an07.011.than.html

5. Phân biệt Tùy-Miên trong Câu xá Luận của PG Phát Triển

http://buddhahome.net/kinhsach/cauxaluan/5phbiettuymien.htm

 

III. ĐỀ CƯƠNG

  • Tìm hiểu những khái niệm Phật học có liên quan đến bài kinh. Ví dụ: Tùy Miên, Hữu, Phi Hữu v.v..
  • Nội dung bài Kinh Mật Hoàn

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn Kinh Mật Hoàn là một trong mười bài kinh thuộc phẩm Sư Tử Hống. Nội dung bài kinh có liên hệ đến các khái niệm và lý luận triết học khá phức tạp. Kính mong mọi người khảo sát kỹ bài kinh này và giúp đưa thêm các tài liệu tham khảo phù hợp!

Đào Trọng Trác Bài kinh quan trọng để diệt trừ những hạ phần kiết sử và khó hiểu mong các đạo hữu chỉ dạy và giảng nghĩa thêm !

Phạm Doãn Đức Phật trả lời ngoại đạo “Gậy cầm tay”:

“Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người,
– không có tranh luận một ai ở đời;
– các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược,
– không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt,
– không có tham ái đối với hữu và phi hữu.
Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy”.

Khi bài kinh này được xếp vào phẩm “Tiếng gầm sư tử”, có lẽ các đại trưởng lão thời xưa muốn nhấn mạnh, đây là quan điểm rất đặc thù của Đạo Phật, so với các giáo phái đương thời. Tuy nhiên, hậu sinh chúng ta không thể biết tường tận các hệ tư tưởng của ngoại đạo lúc bấy giờ, nên thực sự cũng khó mà so sánh để nhận ra, thế nào là khía cạnh đặc thù mà lời kinh muốn ám chỉ (trong câu trả lời của Đức Phật).

Ngay các vị tỳ khưu lúc bấy giờ cũng chưa rõ ý khi Đức Phật phát biểu, nên đã hỏi lại. Và Đức Phật đã có giải thích thêm ý của Ngài:
“Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn…”
– Vậy, ở đây chúng ta sẽ phải “làm rõ” một số khái niệm như: Hý luận, vọng tưởng, chấp thủ, tùy miên v.v…để hiểu thông lời giảng của Đức Phật trong bài kinh.

Phạm Doãn Bảy TÙY MIÊN là:
1. Dục ái tùy miên (kāmarāgānusaya)
2. Phẫn nộ tùy miên (Patighānusaya)
3. Ngã mạn tùy miên (Mānānusaya)
4. Tà kiến tùy miên (Ditthā-nusaya)
5. Hoài nghi tùy miên (Vicikichānusaya)
6. Hữu ái tùy miên (Bhavarāgā-nusaya)
7. Vô minh tùy miên (Avijjānusaya).
(Xin tham khảo thêm sự mô tả các tùy miên ở Vi Diệu Pháp)

– Vì Vô minh nên có Tà kiến, chấp Ngã và Hữu ái. Vì chấp Ngã nên có Ngã mạn, Phẫn nộ . Vì Hữu ái nên đưa tới Dục ái v.v… Nhìn chung các tâm ngủ ngầm đều liên hệ chặt chẽ với nhau (duyên hợp).

Nếu gọi “tùy miên” (ānusaya) là các tâm “ngủ ngầm” thì có lẽ sẽ dễ hiểu hơn!
– Bhikkhu Thanissaro dịch anusaya là “obsessions”. Nhưng “Obsession” làm người đọc dễ liên tưởng tới một danh từ thường dùng trong Tâm Lý Học và Tâm thần Học hiện đại, để chỉ một bất thường có tính bệnh lý về tâm.
– Bhikkhu Nanamoli dịch ānusaya là “underlying tendencies” (những khuynh hướng tiềm ẩn) có vẻ đơn giản và hợp lý hơn so với “obsessions”. Vì bình thường ai cũng đều có những tâm ngủ ngầm như vậy.

Có lẽ Đạo Phật không phổ biến đến các nước Phương Tây sớm, nên mãi cách đây 100 năm, Phương Tây mới phát hiện ra cái thức gọi là “ngủ ngầm” này. Tâm Lý Học gọi đó là Vô-Thức.

Vô Thức (cái mà ta không thể nhận biết) nằm sâu bên dưới Ý Thức (cái mà ta có thể nhận biết), nó luôn bí mật tác động vào tư duy và hành động của mọi con người (mà ta không hề biết!)
Ta có thể so sánh khái niệm “Vô Thức – Unconsciousness) trong Tâm Lý học phổ thông ngày nay với các “tùy miên” của Đạo Phật 2500 năm trước, mặc dù Tâm Lý Học hiện đại chưa phân biệt được cụ thể các thành phần của Tâm như Đạo Phật đã biết.

Pāli Việt Daṇdapāṇi Sakko: là 1 thanh niên dòng dõi Sakya (Thích Ca). Anh ta còn trẻ, không bệnh hoạn gì, nhưng thường hay cầm cây gậy (daṇḍa) vàng ở bàn tay (pāṇi), nên được gọi là Daṇdapāṇi. Có lẽ nên lấy từ Daṇdapāṇi là tên gọi của người thanh niên dòng Thích Ca này, hơn là dịch nghĩa.

Pāli Việt Thái độ phản ứng của thanh niên Daṇdapāṇi dòng Sakka đối với lời phát biểu của đức Phật:
– sīsaṃ okampetvā jivhaṃ nillāḷetvā tivisākhaṃ nalāṭikaṃ nalāṭe vuṭṭhāpetvā daṇdamolubbha pakkāmi
– lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi (HT. Thích Minh Châu)
– shook his head, wagged his tongue, and raised his eyebrows until his forehead was puckered in three lines (Bhikkhu Bodhi).
– shaking his head, wagging his tongue, raising his eyebrows so that his forehead was wrinkled in three furrows (Ven. Thanissaro)
Thắc mắc:
– wagged his tongue và thè lưỡi trêu chọc (nillāḷetvāti nīharitvā kīḷāpetvā) là tương tư hay là khác nhau?
– raising his eyebrows = không có ở bản Pali (?) mà ở 2 bản Einglish đều có.

Phạm Doãn Bình thường con nít hay lè lưỡi, ngoáy lưỡi để trêu nhau, cho nên: wagged his tongue có nghĩa là, và có thể dịch là: “thè lưỡi trêu chọc”!

Phan Minh Nguyet xin Sư Indacanda và các đạo hữu chia sẻ thêm về những phiền nào tùy miên hay “ngủ ngầm”. Có phải sự thảo luận về khái niệm “ngủ ngầm” này dẫn đến sự phát triển thêm 2 thức nữa trong Duy thức tông ngoài 6 thức trong kinh Nguyên Thủy ko?

Hạnh Trương Sự bổ sung hai thức (Mạt Na và A-Lại-Da) là nhu cầu cần thiết, và là một bước phát triển KHOA HỌC trong nỗ lực mô tả cấu trúc tâm lý . (cái mà theo HT, VDP của theravada còn thiếu)
Nhưng nó có liên hệ gì tới khổ và thoát khổ không thì chưa rõ🙂
HT cũng không nghĩ nó là kết quả của sự thảo luận về ngủ ngầm hay chủng tử.

Bây giờ có thể thảo luận về ngủ ngầm, nhưng nó sẽ đi về đâu? Duy Thức tông khi nói tới chủng tử thì cũng chỉ biết lắc đầu, vì nó ào ào như thác chảy, dừng chỗ nào?
HT nghĩ chúng ta có nhiều việc phải làm, nên nghiên cứu những lời dạy của bậc Đạo Sư, phát triển thêm cho vui cũng được, nhưng …

Các đạo hữu nếu thấy đề tài này có ích thì có thể thảo luận, đúng là hay đó.

Pāli Việt Nghĩa tiếng Việt của từ Pali: Papañca ??? Có vị nào gợi ý giùm.
– hý luận (HT. Thích Minh Châu).
– proliferation (Bhikkhu Bodhi)
– objectification (Ven. Thanissaro)

Phan Minh Nguyet Hạnh Trương: em nghĩ vẫn là tìm hiểu lời dạy của Phật đấy chứ ạ, phiền nào ngủ ngầm thì cần biết “ngủ ngầm” thế nào, ở đâu thì mới đoạn trừ được chứ ạ? Chỉ có điều có khi mình chưa đủ trình để bàn:-) đợi diệt được phiền não thô và tế xong rồi tính sau:-)

Hạnh Trương Diệt xong rồi bàn làm chi nữa phải không, kết luận là khỏi phải bàn, lo diệt phiền não thô và tế đã, hihi

Hạnh Trương (khi đó nó xuất hiện 1 cái là lậu tận trí, nó biết như thật những thứ liên quan, khi đó khỏi cần bàn )

Phan Minh Nguyet phiền não tế ko phải là phiền não ngủ ngầm? BS Phạm Doãn có thể giúp từ Pali cho 3 loại phiền não ko ạ (thô, tế ,ngủ ngầm)?

Hạnh Trương ngủ ngầm thì có đủ thứ ngủ ngầm, trong đó có cả phiền não, phiền não thô và tế là những phiền não đã thức dậy🙂

Phạm Doãn: Phan Minh Nguyet hỏi nhầm người rồi ạ! Về ngôn ngữ Pali thì tôi mới học vỡ lòng. Hẹn năm năm nữa may ra sẽ có câu trả lời hì hì…:)

Hạnh Trương Câu trên của HT viết là tự hỏi, tự trả lời, không có trong sách đâu nhé🙂 , Phan Minh Nguyet có thể bỏ qua, HT xin không tiếp tục đề tài này, giành chỗ cho nội dung bài kinh

Phạm Doãn Pali:
Yatonidānaṃ bhikkhu purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti

Có phải HT T. Minh Châu dịch cụm từ “papañcasaññāsaṅkhā” là “một số hý luận vọng tưởng”

Từ Pali: Papañca mà dịch là “Hý luận”??? Nói theo ngôn ngữ hiện đại là: Ai hiểu…chết liền!
– Phần tiếng Anh từ Papañca đã có nhiều người dịch (hơi khác nhau)
– Phần tiếng Việt, kính nhờ Sư Pāli Việt thử đề nghị một từ tiếng Việt có thể dịch sát nghĩa Papañca. Mọi người tham gia sẽ thảo luận!

Hoa Nguyen Kinh tương đương trong Trung A-Hàm:
10. PHẨM LÂM
115. KINH MẬT HOÀN DỤ
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham115.htm

Hoa Nguyen Chú thích của thầy Tuệ Sỹ :
Chấp Trượng Thích 執 杖 釋. Pāli: Daṇḍapānī Sakka, con trai của Anjana và Yosadharā, em của Hoàng hậu Mayā và Pajāpati, tức cậu ruột của Phật. Truyền thuyết Bắc phương nói ông là cha vợ của Thái tử Tất-đạt-đa.

Phạm Doãn Kinh Mật Hoàn Dụ, Trung A Hàm (T.Tuệ Sỹ dịch):
Đức Thế Tôn nói:
“Tỳ-kheo, nếu người đối với tư niệm nhân đó mà xuất gia học đạo[10], tu tập tư tưởng, và đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai, mà không ái, không lạc, không đắm trước, không trụ, đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, nghi sử[11], đấu tranh, tắng tat, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác[12], đó gọi là tận cùng sự khổ”.

Nhận xét:
– Bản dịch từ chữ Hán nên tiếng Hán-Việt tất nhiên phải nhiều hơn. Ví dụ: Dục sử, nhuế sử, mạn sử.v.v…người đọc nếu không “thâm Nho” lại càng đau đầu hơn nữa!
– Bản của Trung A Hàm không nhắc đến khái niệm Tùy-Miên (ngủ ngầm) cái mà Trung Bộ Kinh có nhấn mạnh bằng cách lặp lại nhiều lần.
– Toàn bộ nội dung kinh bài kinh từ Trung A Hàm có khác biệt với nội dung bài kinh của Trung Bộ.

Phạm Doãn Ngài tôn giả Mahakaccana đã giải thích nguyên nhân của “hý luận vọng tưởng” là do “duyên hợp” giữa các căn, các pháp, các thức. Duyên này nhờ ở yếu tố “Xúc”
“ Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.”
Và Đức Phật đã đồng ý với cách giải thích này.

Thuận Pháp Dhammiko papañcasaññāsaṅkhā = Những tạo tác (saṅkhā) lầm lạc (papañca) vọng tưởng (saññā): Những tạo tác đưa đến sự lầm lạc, vọng tưởng. Nghĩa này thấy dễ hiểu!

पपञ्च (papañca) <bmv>
————————
m. sự chướng ngại, sự trễ nải, sự lầm lạc, trở ngại cho sự tiến hóa tinh thần, sự ngăn trở.

Hoa Nguyen Nhuế trong Hán Việt có nghĩa tương đương với Sân (giận). Sử là chỉ “kiết sử” (kiết là trói buộc thân tâm, sử là sai khiến chúng sinh).

Hoa Nguyen So sánh một đoạn kinh Mật Hoàn trong Trung A-Hàm
“Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo các Tỳ-kheo:

“Vậy, này chư Hiền, xin hãy nghe tôi nói”.

“Này chư Hiền, duyên nhãn và sắc mà sanh nhãn thức. Ba sự này cùng tụ hội liền có xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Có cảm thọ thì có tưởng. Có tưởng thì có tư duy. Có tư duy thì có niệm. Có niệm thì có phân biệt[13].

“Tỳ-kheo do suy niệm như vậy nên xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, trong đó đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai không ái, không lạc, không đắm trước, không trụ; đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, đấu tranh, tắng tật, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác. Đó gọi là tận cùng sự khổ.

“Với tai, mũi, lưỡi, thân cũng vậy. Duyên ý và pháp mà phát sanh ý thức. Ba sự cùng tụ hội liền có xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Có cảm thọ thì có tưởng. Có tưởng thì có tư duy. Có tư duy thì có suy niệm. Có suy niệm thì có phân biệt. Tỳ-kheo do niệm ấy mà xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, trong đó đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai không ái, không lạc, không đắm trước, không trụ. Đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, đấu tranh, tắng tật, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác. Đó gọi là tận cùng sự khổ ” (Trung A-Hàm).

Với một đoạn kinh Mật Hoàn trong Trung bộ :

“Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.

Chư Hiền, do nhơn lỗ tai và các tiếng, nhĩ thức khởi lên, do nhơn lỗ mũi và các hương, tỷ thức khởi lên, do nhơn lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên, do nhơn thân và xúc, thân thức khởi lên; do nhơn ý và các pháp, ý thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có các cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng. Những gì có tưởng thời có suy tầm. Những gì có suy tầm thời có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các pháp do ý thức nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.

Chư Hiền, sự kiện này xảy ra: khi nào có mắt, khi nào có sắc pháp, khi nào có nhãn thức, thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của xúc thời sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có thi thiết của thọ thời sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của tưởng, thời sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: khi nào có sự thi thiết của suy tầm thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.
(Trung Bộ )

Hoa Nguyen Mật Hoàn -Trung A-Hàm viết :”Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, nghi sử[11]”
Chú thích [11] (của Tuệ Sỹ) :[11] Các sử ở đây cũng gọi là tùy miên. (Sử ở đây là kiết sử, tức ràng buộc, sai khiến từ bên trong).
Không thấy Trung A-Hàm (Mật hoàn) nói đến từ Hý luận.

Hoa Nguyen Trong Mật hoàn, Trung bộ, Phật nói đến Hý luận có lẽ là nói về các thứ tranh chấp : “chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ”.
Có lẽ Daṇḍapānī Sakka muốn Phật bàn về những thứ chấp và “tranh” ở trên, và khi thấy Phật dạy điều khác, thì ‘thất vọng” và bỏ đi.

Phạm Doãn So sánh cách hiểu và cách dịch từ Pāli “papañceti” của các dịch giả:

Pāli:
Cakkhuñcāvuso paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti, yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, <yaṃ vitakketi taṃ papañceti>, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu

Đoạn Pāli ở trên nói về cách giải thích nguyên nhân tạo ra PAPAñCETI của Ngài Mahakaccana. Nguyên nhân gần nhất là <yaṃ vitakketi taṃ papañceti>

Dịch Việt:
– Những gì có suy tầm thì có hý luận (Thích Minh Châu)
– Có tầm (niệm) cái gì, thì có hý luận cái đó hoặc Có niệm thì có phân biệt (Thích Tuệ Sỹ)

Dịch Anh:
– What one thinks about, one objectifies (Thanissaro)
– What one thinks about, that one mentally proliferates (Bhik Ñāṇamoli and Bhik Bodhi)

Dịch Hán Việt: Nhược sở niệm tiện phân biệt 苦 所 念 便 分 別

– So sánh các bản dịch, ta thấy cách hiểu của các dịch giả về từ “papañceti” đều có khác nhau (nhiều hoặc ít).
– Thực sự là khó tìm được một từ Việt có nghĩa tương đương.
– Và cũng chính vì vậy, mỗi người đều có quyền tự tìm cho mình một nghĩa phù hợp nhất để hiểu “papañceti” (chứ không nhất thiết phải là “hý luận” hoặc “phân biệt” hoặc “objectification” hoặc “proliferation”)

Đào Trọng Trác Chú Phạm Doãn : Từ Pali: Papañca mà dịch là “Hý luận”??? Nói theo ngôn ngữ hiện đại là: Ai hiểu…chết liền!
– Hý luận : là luận chạy theo cảm xúc và chấp kiến của cái biết, tưởng tri của phàm phu. Và hý luận có nhân là xúc từ xúc sanh ra thọ từ thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận”.
– Nếu chỉ luận về pháp và luật mà tâm không hoan hỷ, không vui thích, không chấp thủ thì sẽ không tăng trưởng phần tùy miên, không rơi vào các ác bất thiện pháp.
-” Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn”.
– Mong các đạo hữu lưu ý và đóng góp để không rơi vào hý luận khi chúng ta đàm luận pháp, lành thay !

Phạm Doãn “Mong các đạo hữu lưu ý và đóng góp để không rơi vào hý luận khi chúng ta đàm luận pháp, lành thay !”
Nghĩa chữ “Hý luận” trong comment của Trác là nghĩa thông thường mà chúng ta thường dùng và thường hiểu. Hý luận = luận bàn, suy diễn vô căn cứ, vô bổ, mất thời gian, chỉ dùng để vui chơi!
– Trong kinh Pāli, chữ hý-luận là “papanceti” nó còn có nghĩa rộng và sâu và “khác” hơn nữa!
– Bởi vậy trước bài kinh Mật Hoàn, Sư Thanissaro phải có một đoạn “prelude” để giải thích tại sao ngài lại dịch chữ “papanceti” là “objectification” trong khi sư Nanamoli dùng chữ “prolifiration”
– Bên tiếng Việt, thày Thích Tuệ Sỹ dịch là “phân biệt” chứ không dịch là “hý luận”!

Hoa Nguyen HT Minh Châu khi dịch kinh Mật Hoàn dùng từ “Hý Luận” không với nghĩa thông thường. Chúng ta thường cho những cách lập luận dẫu hay ho, chặt chẽ nhưng thực chất không giúp tìm ra sự thật mà chỉ là để đùa chơi , hay bắt bẻ đối phương, và đó là hý luận. Thường gặp nhiều hý luận trong những tranh biện về triết học, đạo lý, cả tôn giáo. Nhưng hý luận trong bài kinh Mật Hoàn nghĩa như thế nào ” Thử so sánh hai đoạn kinh trích từ :
1. Trung Bộ : “Do duyên xúc nên có các cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng. Những gì có tưởng thời có suy tầm. Những gì có suy tầm thời có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người…”
“khi nào có sự thi thiết của suy tầm thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ”.
2. Trung A- Hàm: “Do duyên xúc nên có cảm thọ. Có cảm thọ thì có tưởng. Có tưởng thì có tư duy. Có tư duy thì có niệm. Có niệm thì có phân biệt[13].
Đoạn dưới đây “niệm” được thay bằng “suy niệm” nên ý rõ hơn:
“Do duyên xúc nên có cảm thọ. Có cảm thọ thì có tưởng. Có tưởng thì có tư duy. Có tư duy thì có suy niệm. Có suy niệm thì có phân biệt”.
Chú thích [13] ở trên của thầy Tuệ Sỹ:
[13] Nhược sở niệm tiện phân biệt 苦 所 念 便 分 別. Pāli: Pāli: yaṃ vitakketi, taṃ papañceti, có tầm (niệm) cái gì, thì có hý luận cái đó.
Vậy “hý luận” ở đây có nghĩa là “(trí) phân biệt”.

Bây giờ chúng ta thử tìm trong Pali “hý luận” có nghĩa thế nào.

Phạm Doãn Những Tâm Tùy Miên không phải ngủ ngầm trong Tâm Hữu Phần (hay Alayda thức của Mahayana, hoặc Vô Thức theo Phân Tâm Học).
Vi Diệu Pháp đã trả lời các Tùy Miên ngủ ngầm ở đâu?

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?
“Trong hai thọ thuộc dục giới(1) thì dục giới tùy miên ngủ ngầm ở đấy”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?
“Phẫn nộ tùy miên ngủ ngầm ở chổ là thọ khổ”(2)

NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?
“Ngã mạn tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong hai thọ(3) thuộc dục giới, sắc giới và vô sắc giới”.

TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?
Tà kiến tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong tất cả pháp liên quan thân kiến(4) (Sabbasakkāyapariyapannadhamma).

HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?
“Hoài nghi tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong tất cả pháp liên quan thân kiến(5) “.

HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?
“Hữu ái(6) tùy miên ngủ ngầm ở chổ là sắc giới và vô sắc giới”.

VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?
“Vô minh tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong tất cả pháp liên quan thân kiến”.

(1) Tức là thọ hỷ và thọ xã trong tâm tham thuộc cõi dục.
(2) Thọ khổ ở đây tức là thọ ưu trong tâm sân.
(3) Hai thọ ở đây là thọ hỷ và thọ xã trong cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc, mạn tùy miên sanh theo đó.
(4) Pháp liên quan thân kiến là những quan niệm về nhân sinh quan, tà kiến có thể theo đó phát sinh.
(5) Quan niệm về thân kiến cũng là cơ sở phát sanh hoài nghi được.
(6) Hữu ái là tham trong cảnh thiền, chính cõi sắc và vô sắc hoặc thiền sắc và thiền vô sắc là cảnh sanh hữu ái.

Trích từ:
TÙY MIÊN SONG (ANUSAYAYAMAKAṂ)
Dịch giả:
Ðại Trưởng Lão TỊNH SỰ

Phan Minh Nguyet link đến wordpress của bs Phạm Phạm Doãn ở trên phần tham khảo hình như bị lỗi

Hiếu Nguyễn WordPress.com hay bị chặn vì có nhiều blog chính trị.

Hạnh Trương Trong MN44, tiểu kinh Phương Quảng cũng có đoạn tương tự với đoạn trong VDP mà bs Phạm Doãn đã dẫn như sau:

“sukhāya panāyye, vedanāya kiṃ anusayo anuseti, dukkhāya vedanāya kiṃ anusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya kiṃ anusayo anusetī”ti?
“sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo anuseti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.

— Thưa Ni sư, trong lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong khổ thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong bất khổ bất lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại?
— Hiền giả Visakha, trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
–Hòa THượng Minh Châu dịch-

Nhưng HT thấy không hợp lý ở chỗ, nếu dùng đúng từ trong bản dịch, thì ví dụ “trong lạc thọ, có tham tùy miên tồn tại”. Vậy khi lạc thọ không có, thì tham tùy miên đó đi đâu? Mà Kinh cũng nói là khi có lạc thọ thì không có khổ thọ, chúng đều là vô thường lại không song song tồn tại? Vậy khó có thể nói là tùy miên nào đó tồn tại ở thọ nào đó được.
HT nghĩ đoạn kinh trên có thể hiểu cách khác, đó là “xu hướng xấu nào được làm cho chìm xuống, làm cho ngủ đi bởi lạc thọ”. (dịch sukhāya vedanāya ở ins. case) .
Ngoài ra, thọ không là nơi chứa gì cả, xúc duyên thọ, thọ duyên ái.. thọ chỉ là một chức năng nhận biết, đánh giá, kinh nghiệm (động từ vedeti với căn vid), nói các tùy miên tồn tại nơi thọ thì có nghĩa là nói thọ có thêm chức năng lưu trữ?
Không biết có vị nào giải đáp giùm cho về đề tài này không ạ.

Phạm Doãn – “trong lạc thọ, có tham tùy miên tồn tại”. Vậy khi lạc thọ không có, thì tham tùy miên đó đi đâu? Mà Kinh cũng nói là khi có lạc thọ thì không có khổ thọ, chúng đều là vô thường lại không song song tồn tại? Vậy khó có thể nói là tùy miên nào đó tồn tại ở thọ nào đó được.
– Ngoài ra, thọ không là nơi chứa gì cả, xúc duyên thọ, thọ duyên ái.. thọ chỉ là một chức năng nhận biết, đánh giá, kinh nghiệm (động từ vedeti với căn vid), nói các tùy miên tồn tại nơi thọ thì có nghĩa là nói thọ có thêm chức năng lưu trữ?
Câu hỏi hay! nhưng khó quá!
– Mọi người tham gia vào đề tài này đi!
– Đạo hữu Nguyễn Quốc Bình nếu có ghé ngang qua, xin chia sẻ ý kiến hay tài liệu về “chỗ chứa” của Tùy Miên nhé!

Hạnh Trương Kinh Đại Duyên, DN15

“9. Này Ananda, như vậy do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, tìm cầu sanh; do duyên tìm cầu, lợi sanh; do duyên lợi, quyết định (sở dụng của lợi) sanh; do duyên quyết định, tham dục sanh; do duyên tham dục, đam trước sanh; do duyên đam trước, chấp thủ sanh; do duyên chấp thủ, hà tiện sanh; do duyên hà tiện, thủ hộ sanh; do duyên thủ hộ, phát sanh một số ác, bất thiện pháp như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ.”

so với MN18

“– Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn.”

So đoạn 9 của Kinh Đại Duyên với đoạn mà ngài Mahakaccana đã thuyết.

“Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.”

ta thấy chuỗi duyên khởi có khác nhau, đều có chỗ khởi đầu từ thọ và kết thúc ở vài ác pháp, bất thiện pháp như nhau. Cái lạ trong đoạn thuyết của ngài Mahakaccana là “do duyên thọ thời có tưởng”, trong khi chúng ta thường thấy là “do duyên thọ thời có ái”.

Ngoài ra, xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư là năm tâm sở biến hành luôn đi cùng với thức, rất khó hiểu ở chỗ có thức, có thọ rồi mới có tưởng, mà không phải là cả thọ và tưởng đều giữ vai trò tương đương nhau chứ không phải làm duyên cho nhau.

Hạnh Trương Chỉ một loại thọ thôi.

“Này Ananda, khi cảm giác một lạc thọ, chúng ta không cảm giác một khổ thọ, không cảm giác một bất khổ bất lạc thọ, khi ấy chỉ cảm giác một lạc thọ thôi. Này Ananda, khi cảm giác một khổ thọ, chúng ta không cảm giác một lạc thọ, không cảm giác một bất khổ bất lạc thọ, khi ấy chỉ cảm giác một khổ thọ thôi. Này Ananda, khi cảm giác một bất khổ bất lạc thọ, chúng ta không cảm giác một lạc thọ, không cảm giác một khổ thọ, khi ấy chỉ cảm giác một bất khổ bất lạc thọ thôi.”
-Kinh Đại Duyên-

Minh Quang theo thuyết duyên khởi thì”thọ duyên ái” nên”… trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại…”điều đó,chỉ xảy ra nơi chúng sinh trong vòng tam giới,còn các bậc thánh,đã thoát khỏi tam giới, đã diệt các mắt xích của duyên thì tất cả thọ đều không sinh khổ đau phiền não(tham,sân,vô minh)

Hiếu Nguyễn Ngay đầu bản dịch tiếng Anh, người dịch cũng nhấn mạnh về papañca:

Translator’s Introduction

This discourse plays a central role in the early Buddhist analysis of conflict. As might be expected, the blame for conflict lies within, in the unskillful habits of the mind, rather than without. The culprit in this case is a habit called papañca. Unfortunately, none of the early texts give a clear definition of what the word papañca means, so it’s hard to find a precise English equivalent for the term. However, they do give a clear analysis of how papañca arises, how it leads to conflict, and how it can be ended. In the final analysis, these are the questions that matter — more than the precise definition of terms — so we will deal with them first before proposing a few possible translation equivalents for the word.

Three passages in the discourses — DN 21, MN 18, and Sn IV.11 — map the causal processes that give rise to papañca and lead from papañca to conflict. Because the Buddhist analysis of causality is generally non-linear, with plenty of room for feedback loops, the maps vary in some of their details. In DN 21, the map reads like this:

the perceptions and categories of papañca > thinking > desire > dear-and-not-dear > envy and stinginess > rivalry and hostility

In Sn IV.11, the map is less linear and can be diagramed like this:

perception > the categories of papañca

perception > name and form > contact > appealing and unappealing > desire > dear-and-not-dear > stinginess/divisiveness/quarrels/disputes

In MN 18, the map is this:

contact > feeling > perception > thinking > the perceptions and categories of papañca

In this last case, however, the bare outline misses some of the important implications of the way this process is phrased. In the full passage, the analysis starts out in an impersonal tone:

Dependent on eye and forms, eye-consciousness arises [similarly with the rest of the six sense]. The meeting of the three is contact. With contact as a requisite condition, there is feeling.

Starting with feeling, the notion of an “agent” — in this case, the feeler — acting on “objects,” is introduced:

What one feels, one perceives (labels in the mind). What one perceives, one thinks about. What one thinks about, one “papañcizes”.

Through the process of papañca, the agent then becomes a victim of his/her own patterns of thinking:

Based on what a person papañcizes, the perceptions and categories of papañca assail him/her with regard to past, present, and future forms cognizable via the eye [as with the remaining senses].

What are these perceptions and categories that assail the person who papañcizes? Sn IV.14 states that the root of the categories of papañca is the perception, “I am the thinker.” From this self-reflexive thought — in which one conceives a “self,” a thing corresponding to the concept of “I” — a number of categories can be derived: being/not-being, me/not-me, mine/not-mine, doer/done-to, signifier/signified. Once one’s self becomes a thing under the rubric of these categories, it’s impossible not to be assailed by the perceptions and categories derived from these basic distinctions. When there’s the sense of identification with something that experiences, then based on the feelings arising from sensory contact, some feelings will seem appealing — worth getting for the self — and others will seem unappealing — worth pushing away. From this there grows desire, which comes into conflict with the desires of others who are also engaging in papañca. This is how inner complications breed external contention.

How can this process be ended? Through a shift in perception, caused by the way one attends to feelings, using the categories of appropriate attention [see MN 2]. As the Buddha states in DN 21, rather than viewing a feeling as an appealing or unappealing thing, one should look at it as part of a causal process: when a particular feeling is pursued, do skillful or unskillful qualities increase in the mind? If skillful qualities increase, the feeling may be pursued. If unskillful qualities increase, it shouldn’t. When comparing feelings that lead to skillful qualities, notice which are more refined: those free of thinking (directed thought) and evaluation, as in the higher stages of mental absorption, or jhana. When seeing this, there is a tendency to opt for the more refined feelings, and this cuts through the act of thinking that, according to MN 18, provides the basis for papañca.

In following this program, the notion of agent and victim is avoided, as is self-reflexive thinking in general. There is simply the analysis of cause-effect processes. One is still making use of dualities — distinguishing between unskillful and skillful (and affliction/lack of affliction, the results of unskillful and skillful qualities) — but the distinction is between processes, not things. Thus one’s analysis avoids the type of thinking that, according to DN 21, depends on the perceptions and categories of papañca, and in this way the vicious cycle by which thinking and papañca keep feeding each other is cut.

Ultimately, by following this program to greater and greater levels of refinement through the higher levels of mental absorption, one finds less and less to relish and enjoy in the six senses and the mental processes based on them. With this sense of disenchantment, the processes of feeling and thought are stilled, and there is a breakthrough to the cessation of the six sense spheres. When these spheres cease, is there anything else left? Ven. Sariputta, in AN IV.173, warns us not to ask, for to ask if there is, isn’t, both-is-and-isn’t, neither-is-nor-isn’t anything left in that sphere is to papañcize what is free from papañca. However, this sphere is not a total annihilation of experience. It’s a type of experience that DN 11 calls consciousness without feature, luminous all around, where water, earth, fire, and wind have no footing, where long/short, coarse/fine, fair/foul, name/form are all brought to an end. This is the fruit of the path of arahantship — a path that makes use of dualities but leads to a fruit beyond them.

It may come as cold comfort to realize that conflict can be totally overcome only with the realization of arahantship, but it’s important to note that by following the path recommended in DN 21 — learning to avoid references to any notion of “self” and learning to view feelings not as things but as parts of a causal process affecting the qualities in the mind — the basis for papañca is gradually undercut, and there are fewer and fewer occasions for conflict. In following this path, one reaps its increasing benefits all along the way.

Translating papañca: As one writer has noted, the word papañca has had a wide variety of meanings in Indian thought, with only one constant: in Buddhist philosophical discourse it carries negative connotations, usually of falsification and distortion. The word itself is derived from a root that means diffuseness, spreading, proliferating. The Pali Commentaries define papañca as covering three types of thought: craving, conceit, and views. They also note that it functions to slow the mind down in its escape from samsara. And, as our analysis has shown, it functions to create baneful distinctions and unnecessary issues. For these reasons, I have chosen to render the word as “complication,” although some of the following alternatives might be acceptable as well: self-reflexive thinking, reification, proliferation, exaggeration, elaboration, distortion.

Hoa Nguyen Ven. Ñāṇamoli Thera dịch papañca là ‘diversification’. Những từ Phật giáo dùng tương đương với papañca theo nghĩa tiếng Anh trên có lẽ là : (trí) phân biệt, biện biệt, sai biệt, vạn biệt, vạn thù. (Không thấy từ nào dịch được sát nghĩa ).

Phan Minh Nguyet có ý kiến cho rằng các phiền não tùy miên chẳng “ngủ ngầm” ở đâu cả, đủ nhân duyên thì sinh lên. Nghe khá trừu tượng nhưng nếu cố tư duy xem phiền não tùy miên ngủ ngầm ở 1 chỗ nào đó thì có rơi vào thường kiến ko?

Pāli Việt Sư dùng chữ “tiềm ẩn” thay cho “ngủ ngầm”, hoặc “tùy miên.” Còn ý nghĩa thế nào thì dành cho các vị abhidhammika.

Phan Minh Nguyet con thấy dùng chữ “tiềm ẩn” hay ạ

Hạnh Trương Sáng nay có ngồi quán chỗ này, thì con thấy, khi có lạc thọ, nếu lạc thọ này không phải là thọ khi đã ly dục, ly pháp bất thiện, thì thọ này khởi lên trong khi tham còn đó.

Khi thọ lạc khởi lên mà có tham, thì tham sẽ dính theo thọ này, và cho dù lúc đó tham không được thể hiện qua thân khẩu ý (ví dụ đã được thỏa mãn), thì có một cái xu hướng tham, một cái ước muốn được gặp lại có thọ lạc đó một lần nữa được LƯU LẠI ( ngầm xuống dưới ).
Ví dụ như mình ăn kem ngon, mình có lạc, thì một thông tin là ” ăn kem loại này ngon, nên ăn kem loại này” được lưu lại, thông tin này là rāgānusayo , nó được lưu lại trong khi không thể hiện gì ra ngoài lúc đang ăn kem cả, nên nó được dùng từ là anuseti.
Tương tự như vậy trong khi cảm thọ các thọ khác.
Về cơ chế thì con thấy như vậy, còn từ nào thì là việc của Sư, hehe

Pāli Việt

Thì có thể hiểu anuseti một cách nôm na là “nằm (seti) dọc theo (anu).”. Lưu ý ở bản tiếng Việt:
anuseti và samudācarati đều được dịch là “ám ảnh.”

Pāli Việt Ven. Bodhi: anuseti (underline) và samudācarati (beset)
Ven. Thanissaro: anuseti (obsess) và samudācarati (assail)

Pāli Việt XEM KỸ ĐOAN VĂN QUAN TRONG NÀY: (có lời dịch tiếng Anh của Ven. Thanissaro ở bên dưới):

Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.

Cakkhuñcāvuso paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti, yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.

“Dependent on eye & forms, eye-consciousness arises. The meeting of the three is contact. With contact as a requisite condition, there is feeling. What one feels, one perceives (labels in the mind). What one perceives, one thinks about. What one thinks about, one objectifies. Based on what a person objectifies, the perceptions & categories of objectification assail him/her with regard to past, present, & future forms cognizable via the eye.

Pāli Việt VẪN CHƯA TÌM ĐƯỢC TỪ TIẾNG VIỆT CHO PAPAÑCA:
Này các đại đức, tùy thuận vào mắt và các cảnh sắc mà nhãn thức sanh lên, sự hội tụ của ba pháp này là xúc, do duyên xúc có cảm thọ, cảm thọ cái gì thì nhận biết (tưởng tri) cái đó, nhận biết (tưởng tri) cái gì thì suy tư (tầm) cái đó, suy tư (tầm) cái gì thì PAPAÑCETI cái đó, PAPAÑCETI cái gì thì do nhân duyên ấy mà PAPAÑCA-SAÑÑĀ-SAṄKHĀ về các cảnh sắc được nhận thức bởi mắt trong quá khứ vị lai và hiện tại khởi lên ở con người.

Chua Nhu Phap Phan Minh Nguyet mến! Chúng ta không thể chỉ ra trái xoài nằm ở đâu trên thân cây xoài khi trên thân cây chưa có nẩy một nhánh bông xoài nào. Cũng vậy ” ngủ ngầm” là chỉ cho trạng thái anusaya= tiềm ẩn, đủ điều kiện thì pháp ấy hiển lộ, chứ không hề có…See More

Hạnh Trương SC ơi, ADN đó cô, cho dù chưa có trái xoài, nhưng ADN thì đã có , chính cái ADN đó nó quy định cách thức mà trái xoái sẽ sanh ra trên cây đó cô ạ.

NẾU biết ADN của cây xoài, biết các điều kiện tự nhiên thì người ta có thể chỉ ra chính xác là trái xoài sẽ xuất hiện ở đâu khi nó xuất hiện.

theo HT, Phan Minh Nguyet đặt vấn đề là chính xác, có điều nó vượt ra ngoài phạm vi trao đổi thôi. Rất hay nhưng có thể chưa thiết thực nên trong Chánh Tạng không đề cập tới .

Thuận Pháp Dhammiko Trong Abhidhamma, nếu lấy Pháp chơn đế Paramattha để đối chiếu thì pháp ngủ ngầm là cái gì, phải phân biệt nó mới hành Vipassanā được. Sau đồng sở duyên có chức năng là sao lưu mọi cái mà tâm đã nắm bắt thì chỗ sao lưu vào là ở đâu? Câu trả lời chỉ là …See More

Hoa Nguyen Theo Duy Thức, Alaya (hay hộ kiếp tâm) là cái “vô ngã” ngã (nói theo ngữ pháp Hán Việt), hay là cái Tôi “vô ngã” (theo ngữ pháp Việt), vì nó coi như là khái niệm của một thực tại (gọi là ngã) luôn biến đổi (nên vô ngã). Alaya chứa chủng tử của “Phiền Não Chướng” và “Sở Tri Chướng” (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến…) ở dạng tùy miên khi có đủ nhân duyên thì hiện hành để huân tập thành những chủng tử mới (cũng của phiền não chướng và sở tri chướng) cho tới khi tu đoạn diệt hết các lậu hoặc. Lúc đó, ngã không còn biến đổi được gọi là Chân ngã.

Thuận Pháp Dhammiko Bhante Pāli Việt, con thấy dùng Papañceti là giảng giải, suy diễn, đạo diễn. Vì cái gì suy tầm thì thường đưa đến suy diễn này nọ như làm đạo diễn vậy. Còn danh từ là papañca là sự lầm lạc, chướng ngại. Làm đạo diễn thì dễ bị lầm lạc, chướng ngại, làm chức năng như cái máy ảnh là khách quan nhất. Suy diễn gần với hý luận. Đây là thiển ý của con🙂

Minh Quang theo(Luận giải kinh Căn Bản Pháp Môn)

”“(Này) chư hiền, do nhơn con mắt và các sắcpháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có các cảm thọ. Những gì cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tư (vitakkehi…See More

Thuận Pháp Dhammiko Xin đính chính: Trong các chơn đế thì Hộ kiếp có thể là Sampaṭicchana – Tiếp thọ tâm (Tâm vô nhân) hay các Tâm quả đại thiện và quả đại hành. Tâm tiếp thọ – Sampaṭicchana không có phận sự Hộ kiếp – Bhavaṅga. Tâm Suy đạt – Santīraṇacitta mới có phận sự …See More

Thuận Pháp Dhammiko Thuật ngữ PAPAÑCA rất phức tap:
http://www.budsas.org/uni/u-kntt/kntt-01a.htm

Hoa Nguyen Vậy tóm lại, dường như tác giả bài viết trên là Bhikkhu Ñāṇananda sau cùng muốn nói papañca là sự bành trướng của những khái niệm. Kinh viết “Những gì có suy tầm thời có hý luận (papañca)”, hiểu theo như trên là : có suy tư thì có khái niệm, và khái ni…See More

Binh Anson Papañca: Tôi thích chữ dịch tiếng Anh là “mental proliferation”. Xin đưa 1 ý kiến dịch sang tiếng Việt là “TẠP LUẬN” (Tạp ở đây trong ý nghĩa hỗn tạp, tạp ghi, con heo là loài vật thích ăn tạp, ….). Chữ “hý luận” bây giờ, ngoài giới Phật học, có vẻ khó hiểu — hay dễ hiểu lầm — với đại đa số quần chúng.

Pāli Việt Papañca trong ngữ cảnh này là một tiến trình xảy ra ở tâm, theo sự tìm hiểu của cá nhân qua các bài viết về đề tài này thì papañca có thể xem tương đương với các từ TƯỞNG TƯỢNG, hay HOANG TƯỞNG, không biết có đúng không nữa?

Minh Quang Thế giới rỗng không – Tri thức luận Phật học (Kurt Schmidt)

””Khi con mắt hiện diện và có những sự vật thấy được ở đó, thì “nhìn thấy” [4] (Sehen) phát sinh; nếu ba yếu tố này qui tụ với nhau, xúc giác hay ấn tượng sẽ phát sinh. Nếu ấn tượng hình thành, thì cảm giác phát sinh. Ðiều gì ta cảm giác (empfinden), điều ấy ta có thể tri giác (wahrnehmen); điều gì ta tri giác, điều ấy ta nhào nặn trong tâm thức (geistig) và tạo nên những khái niệm [5] về nó. Ðiều gì ta tạo nên khái niệm, điều ấy ta có thể trải rộng ra như thế giới bên ngoài [6] . Ðiều gì ta trải rộng ra như thế giới ngoại tại, điều đó là những tri giác đa tạp về thế giới ngoại tại [7] , những tri giác ấy đến với con người qua những đối tượng có thể thấy được (sichtbare Dinge) thuộc quá khứ, vị lai và hiện tại…

…Khi không có con mắt, không có đối tượng thấy được và không có sự “nhìn thấy” xảy ra, thì sẽ không có khả năng cho một sự tiếp xúc hay một ấn tượng phát sinh. Nếu một ấn tượng không phát sinh, thì không thể có cảm giác. Nếu không có cảm giác thì không thể có tri giác phát khởi. Nếu không có tri giác phát sinh thì không thể có sự tác tạo khái niệm. Nếu không có sự tác tạo khái niệm thì sẽ không có những tri giác về thế giới ngoại tại đến với ta…”.
http://www.sangdaotrongdoi.vn/ja/node/2703

Phan Minh Nguyet con không biết Pali nhưng con nghĩ nếu dùng chữ hoang tưởng có lẽ hơi xa,cũng có thể dễ gây hiểu lầm là 1 chứng tâm thần

Phan Minh Nguyet Thuận Pháp Dhammiko: nói pháp ngủ ngầm ở Bhavanga có lẽ cũng ko chính xác. TP hỏi lại sư Tường Nhân xem.

Pāli Việt Theo các bài viết cho biết thì từ papañca không tìm thấy ở Tạng Abhidhamma.

Thuận Pháp Dhammiko Phan Minh Nguyet, chỉ có Bhavaṅga giống như tiềm thức, như cái kho chứa thông tin và duy trì kiếp sống của chúng sanh. Ngoài 19 tâm làm phận sự (Kicca) bhavaṅga ở trên thì không tìm thấy tâm nào có khả năng lưu thông tin cả. Bhavaṅga là tâm quả, không tác hành, còn các tâm khác đóng vai trò tác hành (Javana) là chính.

Hạnh Trương Thuận Pháp Dhammiko tìm ra bài “Khái niệm và Thực tại
trong Tư tưởng Phật giáo nguyên thủy” tuyệt quá!!! để HT cho vào danh sách tài liệu tham khảo. Đúng là MẬT HOÀN, hihi. Sướng thật!

Đức Hòa Papañceti (pa + pac + a + e). Ở đây, ngữ căn pac thuộc nhóm rudhāti nên ṃ đươc chèn vào sau môt radial vowel : pac + a >> pãnca. Suffix “e” chỉ cho causal active stem. Chỉ vì vậy “papañceti” phải là động từ chỉ nguyên nhân ở dạng chủ động. Mặc khác một vài văn Pali những từ có nguồn từ ngữ căn “pac” luôn đì kèm với những từ có nguồn gốc từ ngữ căn “har”. Ví dụ : vitthāreti [giải thích, mở rộng, suy ra, …(đồng nghĩa với papañceti)] Trong visuddhimagga có đoạn như sau: “Bhāvanānaye panettha tikkhapaññassa bhikkhuno kesā pathavīdhātu, lomā pathavīdhātūti evaṃ vitthārato dhātupariggaho papañcato upaṭṭhāti.” ( vitthārato = papañcato) hoặc trong cuốn ngữ pháp Byākarạna Gantha – Sangaho/ Saddanītippadakarana chỉ ra rằng Vitthāra chỉ định cho ngữ căn pac. Như vâỵ theo con, động từ papañceti = tạo ta suy luận, đưa đến suy luận ……..

Hoa Nguyen Phân tích “papañca ” để thấy có ý nghĩa mở rộng, bành trướng thì nhiều người (học giả) làm rồi. Hình như họ chỉ xét tới thành tố “pan”. trong từ này. (The word itself is derived from a root that means diffuseness, spreading, proliferating). Nhưng ý nghĩa của papañca mang tính tiêu cực (cứ xét trong đoạn kinh dẫn), nên không thể là “suy luận” thường dựa trên lập luận vững (có chứng cớ) để đi tới kết luận chấp nhận được. ( The Pali Commentaries define papañca as covering three types of thought: craving, conceit, and views). Phần chữ Anh lấy từ comment của anh Hiếu Nguyễn ở trên (vì tiện).
Cho nên HT Minh Châu đúng ra đã dịch là “hý luận vọng tưởng”. Nên để ý tới phần sau là “vọng tưởng” chỉ những ý tưởng sai lầm, buông lung hay phóng dật, không dựa trên thực tại, không dẫn tới sự thật. Dịch như HT Minh Châu như vậy là không sai với những phân tích ngữ nghĩa của từ Pali này (có điều như không sát nghĩa và thiếu ý nghĩa mở rộng).

Hoa Nguyen Tôi thử đề nghị thay “hý luận” bằng hư luận.

Phạm Doãn Từ Pali Papañca
Thày Thích Minh Châu đã dịch “Hý luận vọng tưởng”

Tham khảo một số thông tin từ các comments:
– The word itself is derived from a root that means diffuseness, spreading, proliferating
– The Pali Commentaries define papañca as covering three types of thought: craving, conceit, and views.
– ngữ căn “pac” luôn đì kèm với những từ có nguồn gốc từ ngữ căn “har”. Ví dụ : vitthāreti [giải thích, mở rộng, suy ra…]

– Bác Hoa Nguyen nghĩ tới từ “hư luận” (lý luận, suy diễn sai)
– Sư Pāli Việt nghĩ tới từ “hoang tưởng” (nhận thức không đúng với sự thực )

Tóm lại để dịch sát từ Pali Papañca, từ Việt cần phải có đủ hai nội dung:
1. “suy luận sai lầm”
2. “đưa đến hoang tưởng trong nhận thức”
Đó là loại suy diễn lệch lạc của đầu óc đưa đến hoang tưởng không đúng sự thực!
Vậy, làm sao tìm được từ tiếng Việt có thể thu gọn cả cụm từ:
– “suy diễn sai lầm đưa đến nhận thức hoang tưởng”.
Nếu không tìm thấy, thì phải dùng nguyên cả cụm từ nêu trên.

Minh Quang có lẽ,Papañca thuộc về 62 tà kiến bởi chúng ta thấy chỉ có 2 con đường:khổ và diệt khổ đó cũng là chánh kiến và tà kiến
mq nhớ có đọc câu truyện đại ý thế này: có một anh chàng do kinh doanh gặp vận đen bao nhiên tài sản cơ nghiệp mất sạch,thậm chí còn mang nợ,người thân cũng quay lưng không nhìn tới.anh ta nghĩ”cuộc đời này,thế là hết…”và anh ta quyết định tìm cái chết…
câu truyện này,chúng ta thấy qui trình nhận thức như sau:đầu tiên là ”thọ”từ nhỏ đến lớn anh ta đã biết đến những gì mang lại cảm giác thích thú,ngọt ngào cũng như những gì đưa đến khổ sở bất toại nguyện… rồi anh ta”tưởng tri’rằng đích thực ta cảm nhận,trải nghiệm những cái đó,ta đặt mục tiêu cuộc đời xoay quanh những thành công đó,rồi anh ta”tư duy’ so sánh,tìm kiếm,đeo đuổi nhằm thỏa mãn trong(tâm trí)cái tôi của mình
vấn đề có lẽ là anh ta đã rơi vào qui trình nhận thức sai lạc Papañca đó là (ái,mạn,kiến…) chính cãi bẫy đó,đã tấn công lại , đưa anh ta đến tuyệt vọng”thế là hết…”và tìm đến cái chết nhưng thực ra anh ta đâu có mất hết anh ta vẫn còn nguyên vẹn(nhãn,nhĩ,tỷ,thiệt,thân,ý)

Hạnh Trương Chữ Papañca hay quá. Đáng để bỏ công tìm hiểu thật kỹ, vì nếu chúng ta chưa tìm hiểu khái niệm này thì coi như đã bỏ qua bài kinh này mất rồi.

Hai Long Con nghĩ cái chữ Papañca Sư cứ để nguyên rồi giải thích thêm bên cạnh cũng được. Đúng là từ này rất hay và quan trọng trong đoạn trừ ác pháp.

 

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s