KINH MN 020 – KINH AN TRÚ TẦM (VITAKKASAṆṬHĀNASUTTAṂ)

I.          BẢN KINH MN 020 ((Vitakkasanthānasutta)

 

1.         Bản tiếng Việt của HT. Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung20.htm

2.         Bản tiếng Anh của Soma Thera

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.020.soma.html

3.         Bản tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.020.than.html

4.         Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/020.htm

 

 

II.        TÀI LIỆU tham khảo cho bài kinh MN 020

 

1.         Trích Giải Kinh An Trú Tầm – HT. Thích Chơn THiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-020.htm

2.         Toát Yếu Kinh Trung Bộ – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-02.htm

3. Kinh TĂNG THƯỢNG TÂM (Trung A Hàm)

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham101.htm 

 

III. ĐỀ CƯƠNG

. Nội dung bài kinh An Trú Tầm

 

IV. THẢO LUẬN  (225 comments)

Phạm Doãn   Hai bài kinh MN.19 (Kinh Song Tầm) và MN.20 (Kinh An Trú Tầm) có nội dung liên hệ và gần giống nhau. Kính mời các thành viên PLCĐ tham gia đọc và góp ý kiến về những gì còn cần phải thảo luận thêm về hai bài kinh này.

 

Hạnh Trương   BS Phạm Doãn ơi, có khi nào cho nghỉ giải lao để “ôn bài” không. Mấy bài kinh trước còn vô số điểm chưa được khai thác, Kinh Phật khó thí mồ mà BS lao ầm ầm thế này thì tu sĩ còn khó theo nổi huống hồ tụi này, còn phải 8 tiếng lo cơm áo gạo tiền mỗi ngày , hihi.

 

Phạm Doãn   Thưa Sư Pāli Việt , đạo hữu Hạnh Trương và mọi đạo hữu đang theo dõi phần thảo luận về Trung Bộ Kinh trên Pali Chuyên Đề.
Như mọi người đều biết, chắc chắn rằng trong tất cả bài kinh mà chúng ta đã học qua, vẫn còn tồn tại một số từ ngữ, khái niệm, vấn đề v.v… “chưa hoàn toàn thông suốt”. Mà có lẽ chẳng bao giờ thông suốt hoàn toàn, nếu ta …chưa đến ngày “giác ngộ”. Hi hi…
Bởi vậy tôi nghĩ rằng chúng ta không thể và không nên “cầu toàn” trong từng bài học, ngay tại thời điểm này!
Có lẽ ta sẽ phải chọn một phương cách trung dung và phù hợp với tình huống hiện tại. Đó là sẽ cố gằng học nhanh qua toàn thể 152 bài kinh Trung Bộ, mục đích để nắm cái “tổng thể” trước. Cái gì giải quyết được ngay tại thời điểm này thì giải quyết. Cái gì còn sót lại chưa giải quyết được, thì phải để về sau.
– Dù thế, chúng ta vẫn không sợ bỏ sót bất cứ đề tài hay vấn đề quan trọng nào!
– Vì sao? Vì bất cứ khi nào cần thiết ta cũng có thể quay lại các bài kinh đã học qua. Ví dụ, hiện nay chúng ta cũng vẫn còn thảo luận với các thành viên mới về các bài kinh cũ!
– Trường hợp có những người thích nghiên cứu các bài kinh này hơn các bài kinh kia, hoặc bất ngờ có xuất hiện một đề tài từ một bài kinh bất kỳ nào đó, chúng ta cũng sẽ nhân tiện post và học luôn bài kinh đó.
– Tóm lại PLCĐ sẽ cố gắng điều chỉnh nhịp độ, để hoàn tất một “công trình” mà chúng ta gọi là “Học Kinh Trung Bộ”, từ nay cho đến cuối năm!
Cầu mong cho PLCĐ hoàn tất được sứ mạng rất nhỏ bé này!

 

Hoa Nguyen   “Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh”.
Có lần đọc một kinh trong Trung A- Hàm tôi thấy dạy khi thiền muốn chế ngự tâm tham dục thì “nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng”, và so sánh với bản kinh Trung bộ tương đương thì không thấy dạy điều giống như vậy. Bậy giờ gặp lại ở đây trong bản kinh khác của Trung Bộ. Nhắc lại là tôi đọc thấy ngày nay vài sách Thiền còn chỉ dạy cách làm như thế (để định tâm), giống như kinh điển Phật giáo đã dạy từ xưa.

 

Hoa Nguyen   Kinh tương đương với kinh An Trú Tầm của Trung Bộ ở Trung A-Hàm là :
101. KINH TĂNG THƯỢNG TÂM
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham101.htm

Câu tôi trích trong kinh An Trú Tầm ở comment trên thấy ý nghĩa tương đương trong kinh Tăng Thượng tâm như sau : “…răng ngậm khít lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm tu tâm, giữ chặt tâm và hàng phục tâm để không sanh niệm ác bất thiện”.

 

Phạm Doãn  Cám ơn Anh Hoa Nguyen đã đưa các đường links về các bài kinh tương đương trong bộ A HÀM. Nhờ vậy, mọi người về sau này sẽ có đủ tài liệu, mỗi khi muốn tra cứu lại các bài kinh đã học và thảo luận tại PLCĐ.

 

Thich Nu Nguyen Huong   Đắc các tầng Định mà không đắc Tuệ, Giải-thoát và Giải thoát tri kiến thì chỉ được sanh Thiên mà không thể tiến lên địa vị Bồ tát hoặc vượt lên khỏi Sanh tử được!

 

Phạm Doãn   “Adhicittamanuyuttena bhikkhave bhikkhunā pañca nimittāni kālena kālaṃ manasi kātabbāni. Katamāni pañca…”
“Adhicitta” ở đây được dịch Việt là “Tăng Thượng Tâm”:
– Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn thực tu “tăng thượng tâm” cần phải thường thường tác ý năm tướng. Thế nào là năm?
Phân tích
– Adhicitta: Adhi + Citta
– Higher thought, concentration of mind (Ngài Buddhadatta)
Tâm cao thượng, tâm thiền định ………(Ngài Bửu Chơn dịch)

 

Minh Quang   xin cho mq hỏi”ức niệm”nguyên ngữ pali và nghĩa của nó?

 

Pāli Việt   – … thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy. (HT. Thích Minh Châu)
– Tena bhikkhave bhikkhunā tesaṃ vitakkānaṃ asati-amanasikāro āpajjitabbo.
– … then he should try to forget those thoughts and should not give attention to them (Bhikkhu Bodhi)
– Này các tỳ khưu, việc không ghi nhận, không chú ý đến những tầm ấy nên được thực hiện bởi vị tỳ khưu ấy (dịch sát nghĩa). => Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hiện việc không ghi nhận, không chú ý đến những tầm ấy (Tk. Indacanda).

 

Minh Quang  con cám ơn sư

 

Thich Nu Nguyen Huong @Minh Quang- ” ức niệm” có thể hiểu là nghĩ nhớ, ghi nhớ (record, think of, remember, miss)

 

Tiểu Lâm Minh Quang  ( không )ức niệm pali là asati , từ điển han-viet cho nghĩa ức là nhớ ạ. Trong bài kinh, Đức Phật khuyên không ức niệm ( asati ) hay không tác ý (amanasikāraṃ) những tầm liên hệ đến dục, sân ,si và nhờ vậy những bất thiện tầm được trừ diệt.

 

Minh Quang   con chưa thực hiểu nghĩa”asati”vì câu sau cũng có:

”Imasmiṃ sati, idaṃ hoti; imass`uppādā, idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati, idaṃ na hoti; imassa nirodhā, idaṃ nirujjhati. (MN II.32, SN II. 28)
Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành. Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh. Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành. Cái này diệt thì cái kia diệt…”

 

Pāli Việt   Sati, asati, ở bài MN 20 là danh từ, còn sati trong ví dụ trên lại là động từ (hiện tại phân từ).
Muốn hiểu nghĩa của một từ, trước tiên hãy đặt từ đó vào ngữ cảnh thích hợp. Có nhiều từ chỉ có 1 nghĩa, có thể sử dụng ở bất cứ trường hợp nào, nhưng cũng có những từ có nhiều ý nghĩa khác nhau.
Ví dụ: Bát là gì? Bát là số 8, bát là cái tô, bát là cái bình bát.

 

Hoa Nguyen   Kinh An Trú Tầm theo ni sư Trí Hải giải thích trong “Trung bộ Toát Yếu” thì qua bài kinh Phật dạy “năm phương pháp để đối trị những bất thiện tầm có thể khởi lên trong khi thiền định”.
Tôi rất chú ý đến phần ý nghĩa “trong khi thiền định” vì mục đích áp dụng cho hành thiền, và nếu nói rõ hơn là khi thiền quán.
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng. ” (Trích)
Tăng thượng tâm, adhicitta, là tâm trong tám thiền chứng thù thắng hơn mười thiện tâm thông thường.
Tầm, hay tư tưởng, tư duy là hoạt động của tâm sinh khởi ngay khi căn tiếp xúc với các trần, thí dụ dục tầm là tư duy về dục lạc. (cắt nghĩa theo HT Chơn Thiện).
Trong Trung Bộ do HT Minh Châu dịch giữ nguyên từ “tầm”:
“các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi”.
“Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy”. (Trích An Trú tâm)

Trong Trung A- Hàm, thầy Tuệ Sỹ không dịch rõ là tầm mà bao gồm ý nghĩa của nó trong “suy tư” hay trong “tướng”: “Tỳ-kheo suy niệm về một tướng tương ưng thiện, nếu sanh niệm bất thiện, vị Tỳ-kheo đó nhân nơi tướng này lại suy niệm về một tướng khác tương ưng với thiện, khiến niệm ác bất thiện không sanh nữa”.
“Lại nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng với thiện mà sanh niệm bất thiện, khi quán niệm ác có tai họa cũng sanh niệm bất thiện, và trong khi không suy niệm về niệm đó nữa cũng lại sanh niệm bất thiện; vị Tỳ-kheo đó vì niệm này, phải dùng hành tướng của tư duy để giảm dần niệm ấy, khiến không sanh niệm ác bất thiện.” (Trích Tăng Thượng tâm)
Xin chép tóm lược cách giải thích của HT Chơn Thiện về 5 tướng để dễ hiểu được bài kinh hơn.

Các phương cách đối trị các bất thiện tầm
Tác ý năm tướng:

1 Khi hành giả tác ý một tướng nào mà dục tầm, sân tầm, hại tầm sanh khởi, thì nên tác ý đến một tướng thiện khác để đoạn diệt các bất thiện tầm.

2 Nếu làm như thế mà bất thiện tầm vẫn sinh khởi, thì quán sát sự nguy hiểm của các bất thiện tầm ấy, chúng sẽ tiêu biến.

3 Nếu làm thế mà bất thiện tầm vẫn tồn tại, sinh khởi, thì nên quên chúng đi, không tác ý đến chúng, chúng sẽ bị diệt.

4 Nếu làm thế mà bất thiện tầm vẫn khởi thì tác ý đến hình thái và chức năng, hành tướng của chúng, chúng sẽ diệt.

5 Nếu đã làm thế mà vẫn chưa đoạn diệt được bất thiện tầm, thì chỉ còn cách sau cùng là khởi ý thật mạnh, quyết tâm mạnh, dõng mãnh, nghiến răng và dán chặt lưỡi lên nóc họng, dùng ý chế ngự ý, nhiếp phục ý thì dần dần các bất thiện tầm sẽ trở nên muội lược, rồi tiêu biến.
HT MInh Châu dịch rất hay những bước đạt được trong thiền định (quán) :”nhờ diệt trừ chúng (bất thiện tầm), nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh”.
Những bước (tâm) tuần tự được “an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh” diễn tả chính xác và không thể khác thế được (không thể thay đổi thứ tự đó).

 

Thich Nu Nguyen Huong   Đề mục thiền niệm hơi thở vô ra đối trị được tâm tán loạn (có thể chỉ cho bất thiện tầm mạnh mẽ) hữu hiệu nhất so với các đề mục thiền khác (theo truyền thống thiền nguyên thủy có cả thảy 40 đề mục thiền).

 

Minh Quang   Đức phật dạy cách dùng trí tuệ” lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm”đó là tác ý như lí nhằm làm yếu đi hoặc diệt(dục,sân,si)và ”Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh ”
thế nhưng,vấn đề là muốn tác ý thành công,có lẽ hành giả phải có niệm tỉnh giác tại khoảnh khắc sát na đó để nhận ra(dục,sân,si…)nhằm thay đổi tâm trạng,nhận thức
chẳng hạn,hành giả phải tu tập tứ niệm xứ(thân,thọ,tâm pháp)làm cho niệm lớn mạnh và có thể nhận ra ngay khi các tâm khởi lên cũng như các pháp như lí hoặc các pháp không như lí thì có lẽ mới tác ý thành công được

 

Minh Quang  ” 89 – Hỏi. Sự xác định (voṭṭhapanakicca) là gì? Tâm nào thực hiện việc xác định?

Đáp. Voṭṭhapana = Vi + ava + căn tha.

Theo nghĩa bóng là “nhận định hoàn toàn”.

Pāli có giải thích: Vavatthapiyate = voṭṭhabanaṃ:

Quyết định (cảnh tốt hay xấu), gọi là xác định [5] ”.

“ Xác ” là đúng theo sự thật, “định” là đề ra. Hay “xác định rõ là cảnh tốt hay xấu rồi đề ra cách xử lý cảnh”.

Ví như người sau khi quan sát trái xoài, xác định “trái xoài chín hay chưa chín”, rồi “ăn hay không ăn”.

Chính trong giai đoạn này tạo điều kiện cho “ tâm thiện hay tâm bất thiện sinh ra kế tiếp”.

Nếu “định ra” phương án đúng thì tâm thiện sinh lên, nếu “định ra” phương án sai thì tâm bất thiện sinh lên.

Chỉ có tâm Hướng ý môn thực hiện được chức năng “xác định” này để rồi sau đó là những tâm đổng lực (javana) thiện, bất thiện hay Duy tác đổng lực sinh khởi.”(Đường vào Thắng pháp,Tỳ khưu Chánh Minh)

ở tiến trình nhận thức,dù nhận thức được khởi lên từ bất kì căn môn nào thì đều đến tâm gọi là Tâm Xác Ðịnh (Voṭṭhapana)tức tâm Xác định đối tượng khởi lên là thiện hay bất thiện,như lí hay không như lí…có nhiệm vụ chọn lựa và quyết định hướng tâm phải theo…

nếu như khoảnh khắc sát na này có tác ý là thiện hoặc như lí thì tâm Xác Ðịnh (Voṭṭhapana)sẽ quyết định là thiện hoặc như lí và tâm đổng lực(javana)theo sau cũng là thiện hoặc như lí.

nếu như có tác ý là bất thiện hoặc không như lí thì tâm Xác Ðịnh (Voṭṭhapana)sẽ quyết định là bất thiện hoặc không như lí và tâm đổng lực(javana)theo sau cũng là bất thiện hoặc không như lí

 

Hai Long   Tôi rất chú ý đến phần ý nghĩa “trong khi thiền định” vì mục đích áp dụng cho hành thiền, và nếu nói rõ hơn là khi thiền quán. >> Tại sao lại chỉ trong thiền định? Con nghĩ là bất cứ khi nào mình nhận ra các bất thiện tầm thì tác ý để ngăn diệt, còn khi thiện tầm thì tăng trưởng, đây là pháp Tứ Chánh Cần.

 

Hạnh Trương   Đoạn kinh được ngài Chân Thiện tóm tắt :

“Nếu làm thế mà bất thiện tầm vẫn tồn tại, sinh khởi, thì nên quên chúng đi, không tác ý đến chúng, chúng sẽ bị diệt.”. đoạn kinh pali được Ngài Minh Châu dịch :

“Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy. ”

Để ý kỹ thì sẽ thấy nguyên bản pali và đoạn được ngài MC dịch cực kỳ hay. Nó gồm hai ý.

1. Không ức niệm
2. Không tác ý.

Nếu chúng ta đọc sơ sơ thì thấy việc tóm tắt là dễ hiểu, nhưng nếu quán thật kỹ thấy không phải vậy. Đức Phật nói hai ý này vô cùng hay.

Chúng ta hình dung như có một nhân viên lãnh sự quán có chức năng tiếp nhận hồ sơ xin visa. (A), có những hồ sơ đang đợi (X), có anh B là trợ lý cho anh A, có chức năng đưa hồ sơ cho anh A xử lý.

anh A xử lý hồ sơ nào? việc đó có thể xảy ra theo hai cách:

1. anh B chọn trong những hồ sơ X và đưa cái nào đó cho anh A

2. anh A hướng tới những hồ sơ và chọn cái nào theo ý mình.

Niệm ở đây giữ vai trò của anh B. Nó lôi từ ký ức ra và đưa vào cho Ý xử lý . ( lưu ý là nó LẤY RA, ( nhớ lại ), chứ không Ghi vào ( ghi nhớ ),

khi A tự chọn hồ sơ, thì là Ý được hướng tới. Hay là TÁC Ý.

Như vậy, đoạn kinh nêu rõ là để không tầm bất thiện đó không tồn tại (X), thì cả hai cách đều phải được ngăn chặn. Đó là (1) không đưa vào cho Ý để nó nghĩ ( nhờ niệm) và (2) không hướng ý tới cái tầm đó ( không tác ý ).

Kinh Phật phải nói là hay thật!!!

Cảm ơn Minh Quang nêu ra câu hỏi hay về ức niệm và tác ý ; anh Hoa Nguyen dẫn ra nhiều thông tin.

 

Minh Quang   theo như những kinh hán tạng thì mới thấy từ này,như”KINH AN BAN THỦ Ý LƯỢC GIẢI”thì”Trong khoảng búng tay, tâm chuyển chín trăm sáu mươi lần, một ngày một đêm, mười ba ức ý…Thiền bỏ là bỏ mười ba ức ý niệm…”

”Đức Di Lặc nói : Trong một khoảnh khắc qua tiếng kêu của cái gãy móng tay,có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm…”
có lẽ’ức”là từ hán việt xưa chỉ cho số rất nhiều,chứ không có trong nguyên ngữ pali,vì thế mới đầu mq tưởng”ức niệm’ là”rất nhiều niệm”nhưng theo câu kinh văn các sư dịch thì không phải…có lẽ hòa thượng thích minh châu dịch theo lối hồi xưa(hán văn) ngày nay thì không phải ai cũng hiểu được

 

Hoa Nguyen   @ Hai Long. Tôi thấy chắc là khác anh hay anh Hạnh Trương thấy khi đọc bài kinh này, vì mỗi người quan tâm đến một thứ riêng. Nhưng chỗ này tôi thấy giống HT Nanamoli viết trong bản tiếng Anh mà ni sư Trí Hải căn cứ vào đó để soạn Trung Bộ toát yếu :”The Buddha teaches five methods for dealing with the unwholesome thoughts that may arise in the course of meditation”. “In the course of medition”, tức trong lúc tham thiền, nhưng NS Trí Hải dịch là thiền định, tôi lại nghĩ dịch là thiền quán đúng hơn vì chỉ trong thiền quán mới xảy ra giống với lời trong kinh khi tâm theo đuổi các ý tưởng, hay tầm như :” Tỷ-kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia”. Thầy Tuệ Sỹ dùng rất nhiều lần từ “suy niệm”, cho thấy đây là pháp quán (như quán thân bất tịnh, xác chết tan rã, vô thường, vân vân).
Anh dựa vào lời dạy của TL Thông Lạc để bất cứ cái gì cũng quy về Tứ Chánh Cần hay 37 phẩm trợ đạo, nhưng mọi người thấy rõ đó chỉ là lời dạy tổng quát như một đề cương cho người tu học PG, chứ không có những chi tiết rõ như trong bài kinh ày. Anh hãy thật thà cho thấy Tứ Chánh Cần dạy ynhư thế nào về các “phương cách cụ thể” khi tập Thiền quán, hay Thiền định, như ở đây.

 

Hoa Nguyen   Anh Hạnh Trương. Nội dung bài kinh là đầy đủ nhất, tóm tắt lại tất bỏ mất nhiều điều cũng rất hay, nhưng không thể viết ra hết. Ai đọc bài kinh này hiểu thẳng và đầy đủ thì quá tốt, còn một số người khác có khi cần thấy trước những ý chung và quan trọng, để không rối trí, lạc hướng. Ni sư Trí Hải cũng làm bảng tóm tằt, nhưng vì giản lược quá (tức bỏ mất nhiều ý) nên tôi chọn bảng của HT Chơn Thiện.
Thật ra, như lý tác ý có thể thấy bao gồm ở phần 1.

 

Minh Quang   không giây phút nào chúng ta không có chú ý hay tác ý vì nó nằm trong các tâm sở biến hành (Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Nhất Ðiểm, Mạng Căn, Chú Ý.) luôn có mặt trong các tâm dù thiện,bất thiện hay vô kí,từ khi chúng ta sinh đến khi diệt.chỉ có điều nếu ta tác ý như lí thì gọi là”có niệm” còn tác ý không như lí thì gọi là”thất niệm”

chú ý hay tác ý thì luôn có mặt,nhưng có lẽ”có niệm” thì mới duy trì được tác ý theo ý muốn…

 

Hoa Nguyen   @ Hạnh Trương. Cái “như lý tác ý” trên tôi muốn góp ý vớ anh Minh Quang. Ức niệm ở đây tôi thấy có hai cách hiểu: 1-ghi nhận (gồm cả ghi nhớ) của sư Indacanda vài người nữa. 2/ Nhớ lại : của anh (và có thể một số người khác).
Tôi thấy hiểu thế nào cũng có ý nghĩa. Nhớ lại khi lấy sự kiện từ trong tiềm thức, chủng tử, “bộ nhớ”… Còn ghi nhận (hay ghi nhớ) khi đối diện với sự kiện đang xảy ra lúc tâm theo dõi các tầm.

 

Hai Long  @Bác Hoa Nguyen: Con nghĩ bác nói thiền quán cũng đúng, nếu trước đó mình đã quán cho tâm nó hiểu được ra các bất lợi của bất thiện tầm rồi thì giờ chỉ cần nhắc lại cho nó thực thi ly bỏ bất thiện tầm. Con thì thấy ở đây là pháp như lý tác ý + tác ý. Còn chỗ Tứ Chánh Cần là ở chỗ pháp này có 2 pháp thiện và ác. Thiện thì sanh, và cho nó tăng trưởng; còn ác thì ngăn diệt, nên nó là pháp ngăn ác, diệt ác – sanh thiện tăng trường thiện pháp, tức Tứ Chánh Cần.

 

Hoa Nguyen   @Hai Long .Tứ Chánh Cần là bốn pháp siêng năng hợp với chánh đạo, ấy là:
1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh.
2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác phát sinh.
3. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh.
4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

Cần nghĩa là siêng năng (thấy trong từ chuyên cần). Tứ Chánh cần dạy người học đạo nên siêng năng, cần mẫn, nỗ lực, cố gắng trong việc ngăn ngừa điều ác và phát triển điều lành. Siêng năng tuy rất cần cho người tu hành, nhưng không được Phật nêu lên trong bài kinh này.

 

Hai Long  Dạ vâng ạ, chính các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si … là bất thiện pháp, là điều cần phải tinh tấn để đoạn trừ!

 

Hai Long   Hôm qua con đọc được bài giảng của HT Minh Châu về bài kinh này mà hn tìm lại không thấy😦

 

Ba Nguyen  @Hai Long: phải đoạn này không? “Kinh An Trú Tầm (Kinh thứ 20, Trung Bộ Kinh 1), dạy chúng ta phương pháp nổ lực đúng đắn để nuôi dưỡng niệm lành, loại trừ niệm ác…. Ðó là những lời dạy thiết thực và cụ thể, mọi người đều có thể áp dụng trong cuộc sống hàng ngày. Một điều chúng ta cần ghi nhớ là tất cả các niệm đều vô thường, dù ác hay thiện, nếu nó không được nuôi dưỡng bằng những niệm tương ứng và nhất là việc làm tương ứng. Tôi lấy ví dụ niệm hút thuốc của người hút thuốc lá. Niệm hút thuốc đó được nuôi dưỡng bằng những niệm như là hút thuốc là vô hại, hút thuốc thêm sáng kiến, hút một điếu có thể giảm thọ vài ba giây nhưg cười một tiếng lại tăng thọ bảy giây v.v.. Nếu chúng ta không nuôi dưõng niệm hút thuốc bằng những niệm như vậy, trái lại chống đối nó, bài trừ nó bằng những niệm như hút thuốc gây bệnh ung thư, hút thuốc hại phổi, hút thuốc tốn tiền v.v.. thì niệm hút thuốc có thể dần dần không còn chi phối chúng ta như trước nữa. Và chúng ta có thể tiến tới bỏ thuốc lá mà không gặp khó khăn gì.” — Ðạo Ðức Trong Nếp Sống Người Phật Tử.

 

Hoa Nguyen   Tôi cũng nhận “Ðó là những lời dạy thiết thực và cụ thể, mọi người đều có thể áp dụng trong cuộc sống hàng ngày”, còn hiệu quả thế nào trong trường hợp như thế tôi chưa nghe nói hay đọc thấy. Nhưng tôi tin xưa kia Phật dạy kinh này cho những người xuất gia, nhất là để dùng khi tu tập Thiền. Phải có chánh niệm, tỉnh giác cao mới áp dụng có hiệu quả 5 phương cách đó.

Ba Nguyen

@Hai Long: có phải bạn tìm bài giảng của HT MC tôi trích ở trên không?
@Hoa Nguyen: xin lỗi, tôi không tìm thấy chữ chánh niệm tỉnh giác trong bài kinh.

@Minh Quang ”Này các Tỳ kheo, ta nói rằng không chánh niệm tỉnh giác có thức ăn chứ không phải không có thức ăn. Và cái gì là thức ăn cho không chánh niệm tỉnh giác? “Phi lý tác ý” – cần phải trả lời như vậy. ”(kinh tăng chi bộ)

“Như lý tác ý” là thức ăn của Niệm giác chi, làm cho Niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, Niệm giác chi đã sanh được viên mãn. (Tương Ưng V, Sđd., tr. 83*84).
như vậy tu tập, tác ý như lí,duy trì,huân tập theo thời gian sẽ thành lập được niệm sati,”…làm cho Niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, Niệm giác chi đã sanh được viên mãn… ”

Hoa Nguyen Pháp tu nào của Phật từ niệm hơi thở ra vào, đi tới đi lui, đứng lên ngồi xuống, mặc áo bưng bát đều được nhắc là phải làm với chánh niệm, tỉnh giác. Đọc lại kinh Thân Hành Niệm. Trong bài giảng trên HT Minh Châu lấy trường hợp của người hút thuốc muốn bỏ hút, thì người đó cũng phải giữ chánh niệm và có tỉnh giác mới nhận ra được mình sắp châm điếu thuốc và “niệm” để bỏ đi thói xấu đó . Nếu không có cái chánh niệm này, thì người nghe kinh hay nghe lời khuyên vẫn tiếp tục hút thuốc. Trong khi hành thiền, nhờ có chánh niệm cao nên hành giả dễ làm đúng được lời kinh. Nhưng không phải mọi người tu đều thành công, và nếu hành thiền thất bại là do thiếu chánh niệm, tỉnh giác.

Hoa Nguyen Thử đọc lại hai câu kinh này: “Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi. Tỷ-kheo ấy tác ý một tướng khác, liên hệ đến thiện, khác với tướng kia…”.
Vị tỳ kheo đó “tác ý đến một tường, thì các ác bất thiện tầm sinh khởi”, vị tỳ kheo đó phải nhận biết “ngay” sự sinh khởi của ác tầm, bằng chánh niệm tỉnh giác, để áp dụng 1 trong 5 cách đối trị. Nếu nhận dạng các ác tầm quá trễ, thì sẽ bị chúng lôi cuốn đi và không còn có thể nghĩ ra phương đối phó. Cái kinh nghiệm này mọi người đều biết.

Hai Long  @Ba Nguyen: Không phải bài đó, có thể HL nhớ sai, hôm qua đọc bài giảng của HT Chơn Thiện cũng nên, hôm nay HL đọc lại bài viết của HT Chơn Thiện cũng thấy giống😀

 

Ba Nguyen  @Hoa Nguyen: “Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi. Tỷ-kheo ấy tác ý một tướng khác, liên hệ đến thiện, khác với tướng kia…” — Tôi đã đọc xong, không thấy chữ “nhận biết”, không thấy chữ “nhận biết ngay” luôn. Không biết bạn lấy mấy chữ này từ đâu vậy? Hay bạn tự thêm vào rồi bạn tự diễn dịch luôn thành chánh niệm tỉnh giác?
@Hai Long: Không sao😀

 

Minh Quang chúng ta thử bàn luận,chẳng hạn như trong cuộc sống ai cũng thích ăn ngon, mặc đẹp,mong muốn giàu có hưởng thụ,thỏa mãn mọi thứ cuộc sống đem lại….chúng ta ngày đêm vì tướng đó,làm lụng vất vả,suy tính lo âu vì tướng đó,tranh đấu,thù hận,kể cả hi sinh mạng sống cũng vì tướng đó…

đức phật dạy,có 5 cách tác ý

1.”Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia.”

hạnh phúc cuộc sống có 2 cách,thông thường thế gian tìm hạnh phúc trong thỏa mãn dục lạc nhưng nhiều đau khổ,và cách thứ 2 là thứ hạnh phúc cao quí hơn đó là tìm kiếm hạnh phúc trong từ bỏ dục lạc,nhằm tu tập trí tuệ cũng như vượt thoát khỏi phiền não đau khổ

2.”Tỷ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy”

(tham,sân,si)là cội rễ căn bản của phiền não,đưa đến diệt trí tuệ,là chướng ngại cho rèn luyện tâm tập trung(định),làm cho con nguời rơi vào nghiệp ác…

3.”Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy.”

nếu ta đang nhìn thấy các lậu hoặc thì thôi không nhìn nữa,hoặc im lặng….tâm cũng,không ghi nhận, không tác ý tới những lậu hoặc xuất hiện đó nữa..

4.”vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy”

có lẽ đây là cách dùng chính(tham,sân,si) đang khởi lên làm mục tiêu quan sát,tìm hiểu,ghi nhận… nhằm làm tan rã sức mạnh của các tâm bất thiện đó. suy tầm các nguyên nhân,điều kiện làm khởi lên bất thiện ấy,tách nguyên nhân,điều kiện đó ra làm giảm dần sức mạnh các tâm bất thiện

5.”Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm.”

có lẽ,lúc đó quyết tâm kham nhẫn,tập trung sự chú ý quay về quan sát hơi thở hoặc tâm hoặc thọ trong thân mình …

 

Ba Nguyen

@Minh Quang: “mới đầu mq tưởng”ức niệm’ là ”rất nhiều niệm”…” — ức là nhớ, ức trong hồi ức, ký ức; niệm cũng là nhớ, trong niệm chú, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
@Hoa Nguyen: “Ức niệm ở đây tôi thấy có hai cách hiểu: 1-ghi nhận (gồm cả ghi nhớ) của sư Indacanda vài người nữa. 2/ Nhớ lại : của anh (và có thể một số người khác).” — Cách hiểu một sai. Cách hiểu kia đúng. Niệm không phải là ghi nhận. Không thể “ghi nhận” Phật, “theo dõi” Phật hay “ghi nhận” Tăng, “theo dõi” Tăng… Hai chữ niệm (việt) và sati (pali) cùng chỉ về ký ức. Vui lòng xem từ điển!

 

Hạnh Trương Đức Phật có cho ví dụ nữa đấy, không đọc ví dụ đọc rồi dễ kết luận xa lắm đó Minh Quang à. Lưu ý mục thứ 4, tác ý về hành tướng. Cái này vô cùng hay, không phải như MQ đang nghĩ đâu.

 

Minh Quang mục thứ tư đó khó hiểu nhất

Minh Quang xin cho mq hỏi hành tướng là gì?

 

Hạnh Trương Ví dụ là để hiểu , MQ đọc ví dụ kỹ xem

 

Ba Nguyen Tôi nhận thấy pp 5 không có chất trí tuệ và pp 3 gần với pp 5. Tôi nghĩ pp 5 nên là pp 4 và pp 4 là pp sau cùng.

 

Hai Long @Ba Nguyen: <<- Tôi đã đọc xong, không thấy chữ “nhận biết”, không thấy chữ “nhận biết ngay” >> Đúng đó, ở bài kinh Tứ niệm xứ thì Phật dạy với tâm có … thì nhận biết. Còn ở đây thì ko, HL hiểu đó là 2 giai đoạn tu khác nhau.

 

Hoa Nguyen   Cái kiểu bắt bẻ như Ba Nguyen thì là không biết đọc sách, chưa nói đọc sách gọi là kinh viết ra cách nay 2000 năm Nhưng tôi vẫn trả lời có thể là gián tiếp để làm sáng tỏ một cách tranh luận vẫn thấy xảy ra.
Tôi bàn nhiều về ý anh HL đã đưa lên (thật sự tôi thấy anh cầu học hiểu). Khi Hai Long nói trong Tứ Chánh Cần đã dạy giống như bài kinh là anh không nắm được ý chính của TỨ Chánh Cần là dạy về Chánh Cần (Tinh tấn, Siêng năng trong tu tập) nhưng không thấy nói tới trong bài kinh, vì vậy tối nói “mọi thứ điều quy về Tứ Chánh Cần” (học biết một điều rồi dùng giải thích những thứ không liên hệ kiểu TL luôn dẫn TCC) . Nhất là anh Hai Long còn góp ý thêm là 4 điều cần tinh tấn cũng tương tự với bài kinh mà thật ra thì không tương tự. Xem lại bảng tóm tắt của HT Chơn Thiện hay đọc lại kinh để so sánh hai thứ. Thí dụ bài kinh không nói “điều ác chưa sinh khởi thì ngăn cho không sinh khời”, vì bài kinh chỉ dạy 5 cách “đoạn trừ ác tầm khi đã sinh khởi” (ngoài ý muốn) trong quá trình hành thiền. Cũng không có “thiện tầm đã phát sinh thì làm cho phát triển”, mà là dạy “làm phát sinh và phát triển thiện tầm, và nếu ác tầm bất ngờ sinh khởi thì đoạn trừ ác tầm” ngay, cả bằng cách quyết liệt nhất là cách 5. HT Chơn Thiện tóm tắt:
” Khi hành giả tác ý một tướng nào mà dục tầm, sân tầm, hại tầm sanh khởi, thì …”. Nói rõ chỉ để đối phó khi ác tầm đã sinh khởi.
Phần thêm cho Ba Nguyen:Dục tầm sinh khởi là thế nào, (khi không tác ý về nó mà nó hiện ra) nếu không nhận biết được nó chánh niệm tỉnh giác ở mức cao, và phải biết ngay khi các ác tầm xuất hiện bất ngờ thì mới đoạn trừ được (nên thấy 4 cách trên cũng có thể không diệt được ngay ác tầm).
Góp ý với anh MQ: Tướng ở đây chỉ hình tướng làm đề mục hành thiền ( thí dụ dễ thấy là khi quán các tướng bất tịnh, thân xác tan rã). Hành tướng là tướng đó thế nào, vận hành, biến chuyển ra sao. HT Chơn Thiện viết là “hình thái và chức năng” trong thí dụ anh HT nhận thấy.


Hai Long Con thấy sao mọi người giải thích rối quá, cứ cái dục tầm nào lên thì tác ý “Này dục, ta đã nhìn thấy gốc rễ của ngươi. Này dục, ngươi sanh lên từ sự suy tầm. Ta sẽ không suy tầm về ngươi nữa. Này dục, như vậy ngươi sẽ không hiện hữu.” vậy là nó biến mất. Nếu cái bất thiện tầm khó đi thì mình phải quán thật nhiều, thật mạnh, có khi vài ngày nó mới hết🙂 Rồi cứ thế, cứ thế với các bất thiện tầm khác. Quá trình tu tập này là tinh tấn ngăn ác pháp, diệt ác pháp; sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp. Nhận ra dục tầm –> tinh tấn ly, diệt = như lý tác ý + tác ý🙂

 

Hoa Nguyen Phật dạy hàng ngàn bài kinh (kể cả dài, ngắn), nhưng trong bài kinh này chỉ nói về 5 cách diệt trừ ác tầm bất chợt khởi lên khi hành thiền. Những điều khác Phật dạy ở kinh khác.

 

Hai Long Bác Hoa Nguyen ơi, con không nghĩ là chỉ khi hành thiền, mà bất cứ khi nào, thời gian nào. Con thấy 2 bài kinh An trú tầm và Song tầm là cực kỳ quan trọng, nó là món ăn hằng ngày, nếu mình an trú trong thiện tầm thì cái tâm nó khỏe khoắn, thanh thản, còn ngược lại thật là khổ🙂

Hoa Nguyen Đúng là hai bài kinh quan trọng, nên tôi đọc kỹ (hơn) bài kinh này. Bài kinh Phật dạy cho các tỳ khưu khi họ gặp ác tầm xuất hiện lúci hành thiền; nhưng như HT Minh Châu nói những lời dạy cũng thiết thực khi áp dụng vào những trường hợp khác, ngoài đòi thường. Và tôi đã viết: tôi nghĩ chỉ áp dụng thành công khi có chánh niệm, tỉnh giác cao (để kịp nhận thấy ác tầm xuất hiện), và điều này dễ có hơn khi hành thiền.

 

Hai Long Dạ, tỉnh giác giúp ta nhanh chóng nhận ra ác pháp như cái radar ấy🙂 Máy bay địch bay vào vùng trời của ta là diệt (súng Như Lý tác ý )😀 Cứ như vậy dần dần bầu trời sẽ trong trẻo, an lành🙂

 

Ba Nguyen @Hoa Nguyen, @Hai Long: “Hành thiền”, “Thiền trong đời sống hàng ngày” — Hai cái này là một, có khác nhau đâu mà cãi mần răng😀

 

Hai Long @Ba Nguyen: OK, cái này là tùy theo sự hiểu của từng người, có người bắt buộc tu là phải thiền, mà thiền là phải bắt tréo chân lên ngồi xếp bằng, rồi hơi thở đặt chỗ này chỗ kia, v.v..

 

Hoa Nguyen Kinh Tăng Thượng tâm (TTT) của Trung A-Hàm nội dung giống kinh An Trú tâm (ATT) của Trung bộ, chỉ vài chỗ khác nhau. Phần khác về từ ngữ là tất nhiên khi qua trung gian dịch thuật khác nhau để có hai bản tiếng Việt, ngay như khi đọc bản tiếng Anh có thể thấy hơi khác bản tiếng Việt do cách diễn ý hai ngôn ngữ khác nhau. Thử nhìn vài từ ngữ trong Trung A- hàm.
“Tác ý” ở An Trú tâm được dịch là “suy niệm” ở Tăng Thượng tâm, tuy ý nghĩa không xa, nhưng suy niệm dễ dẫn tới suy tư, quán niệm. Và đúng là kinh Tăng Thượng tâm nói rõ sẽ đi tới chỗ quán hay định.

Mở đầu cả hai kinh đều nói mục đích là có được tăng thượng tâm, và tâm này là tâm thù thắng chỉ có trong thiền định.
Trích :
“Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm, cần phải thường xuyên suy niệm năm tướng. Thường xuyên niệm năm tướng thì niệm bất thiện đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm được tĩnh chỉ, chuyên nhất, được định tĩnh”.
Biến chuyển của tâm theo thứ tự: an trú, tĩnh chỉ, chuyên nhất, định tĩnh. Ở phần sau ghi rõ là “quán (niệm) ” và “đắc định” :
“Vị Tỳ-kheo đó quán sự ác như vậy, niệm bất thiện sanh khởi liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi liền tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định”.
Phần kết luận ở kinh Tăng Thượng tâm dài hơn cho thấy hành giả theo pháp 5 tướng chứng được “tự tại”, thong dong, tâm không còn bị dao động khi suy niệm về gì (thiện hay bất thiện).
“Nếu Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng với thiện mà không sanh niệm ác, khi quán niệm ác có tai họa cũng không sanh niệm ác, khi không suy niệm về niệm đó cũng không sanh niệm ác, khi dùng hành tướng của tư duy để giảm dần niệm ấy cũng không sanh niệm ác, và khi dùng tâm tu tâm, giữ chặt tâm và hàng phục tâm cũng lại không sanh niệm ác nữa, thì liền được tự tại, muốn suy niệm thì suy niệm, không suy niệm thì không suy niệm”.

 

Minh Quang niệm sati có 3 trường hợp sau:

1.niệm nhớ lại, không quên những việc trong quá khứ

2.niệm ghi nhớ,ghi nhận ngay sát na trong hiện tại

3.niệm ghi nhớ cả việc cần làm trong tương lai

vì tác ý là thức ăn của niệm,nên chúng liên quan mật thiết với nhau,nâng đỡ nhau….

xin cho mq hỏi niệm sati là 1 trong 3 trường hợp trên hay cả 3 trường hợp đều đúng?

 

Hạnh Trương Để nhớ lại thì cần ghi nhớ, cả 3 trường hợp đều đúng, 2 và 3 có thể hiểu là thiết lập niệm ( để sau này nhớ lại)

ý nghĩa của niệm trong tu tập thì nó hẹp hơn 1 . Nó bao gồm

1. Đưa đề tài, đề mục ( đã được thiết lập ) ra để xử lý ( đẩy việc cho Ý căn🙂

2. Nếu đề mục đó bị đẩy ra ngoài thì lặp lại 1 ( gọi là giữ niệm luôn hiện diện, hay là duy trì việc đang cần làm được liên tục )

Theo mình là như vậy MQ ạ.

 

Phan Minh Nguyet ..”Tỷ-kheo ấy được gọi là đã an trú trong đạo tầm pháp môn. Vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn; vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau”. Như thế có phải Tỳ kheo ấy đã là A la hán ko ạ?

 

Hoa Nguyen Chắc là vậy, vì khi đoạn trừ hết các kiết sử, chấm dứt khổ đau, thì đã ra khỏi kiếp sống con người.

 

Phan Minh Nguyet tôi cũng cảm thấy như Ba Nguyên, phương pháp 5 đặt sau phương pháp 4 có vẻ ko hợp lý nhưng kinh điển kết tập như vậy thì tạm chấp nhận vậy. Sư Pali Pāli Việt, chú Binh Anson ơi, các học giả Đông Tây ko bàn gì về vấn đề này ạ?

 

Pāli Việt   Bàn gì nỗi Phan Minh Nguyet ơi. Nghiên cứu người xưa để học tập. Nghiên cứu chưa tường tận, học chưa xong, hành chưa đạt, phê phán đánh giá gì được!

 

Ba Nguyen @Minh Quang, @Hạnh Trương: Tôi thấy trường hợp 1 là niệm; 2 là quán, theo dõi, giác tri, chánh tri, tuệ tri; 3 như HT là thiết lập niệm cho tương lai.

 

Hạnh Trương 1 và 3 ok rồi nhé, còn 2🙂

Sau khi niệm đã được thiết lập (3), ta làm cái gì đó ( với ý ), trong khi ta làm cái đó, ( ví dụ như quán, tri …) ta có thể bị lạc qua đề tài khác, hoặc không giữ được việc đó liên tục . Ví dụ trong khi quán hơi thở, ta lại nghĩ tới chuyện trung thu chẳng hạn. Cái gì giúp chúng ta biết là chúng ta đã đi lệch ? Niệm. Đây là vai trò của niệm. Nó không làm việc quán đề mục, mà nó theo dõi để khi cần thì nhắc nhở.

Có thể một vài từ trong câu hỏi của MQ khiến vấn đề khó giải quyết dứt khoát, nhưng HT tiện thì trình bày như vậy.

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: “Cái gì giúp chúng ta biết là chúng ta đã đi lệch ?” — Tỉnh giác. Đây là vai trò của Tỉnh Giác.

 

Minh Quang   Hạnh Trương có thấy kinh điển về vấn đề này đưa giúp lên nhé

 

Hạnh Trương   Tỉnh giác chỉ là tỉnh giác, nó không có chức năng so sánh, nên nó không giúp ta biết là đi lệch. Tỉnh giác nhất thiết là cần nhưng không thay được vai trò đó của niệm.

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: “Cái gì” giúp chúng ta “biết” ? — biết là jānati, biết chúng ta đã đi lệch là sampajāna.

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Câu hỏi do bạn đặt ra. Câu chữ do bạn dùng. Trong đó đã tiềm ẩn câu trả lời rồi. Tôi comment với tâm chia sẻ, giúp đỡ. (không có ý tranh luận gì ở đây)

 

Phan Minh Nguyet con cám ơn Sư Pāli Việt. Ý con ko phải là phê phán đánh giá gì ạ, chỉ là tìm hiểu để hiểu cho đúng. Con thấy “nhị sao” đã thất bản, chứ chưa cần “tam sao”, thế mà “2500 năm sao” thì khả năng thất bản chắc cao, nhỡ có chỗ nào 2 đoạn bị lộn thứ tự nhau ko ạ:-)

 

Hạnh Trương Để biết là lệch thì cần biết cái chuẩn, biết cái đang có và cần năng lực so sánh. Có quá nhiều cho sampajāna không?

Puna caparaṃ bhikkhave bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṃghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Thiên nặng về nghịch ứng sẽ mất khả năng thuận ứng, không thuận ứng có nói mãi vẫn không thể đồng cảm. Thiên nặng về thuận ứng sẽ mất khả năng nghịch ứng, không nghịch ứng thì nói cái gì cũng tin. Tôi thấy không nên thuận ứng người này và nghịch ứng người kia. Trung dung ấy là đạo.

 

Hạnh Trương @Ba Nguyen: Quan điểm của HT thì nên thuận ứng thiện và nghịch ứng bất thiện và chỉ vậy thôi.

Còn sự đồng cảm thì bao giờ cũng cần có, khi có nó thì mới có thể thấy những cái đằng sau con chữ hay lời nói được. Cảm ơn đạo hữu nhắc nhở, trung đạo ấy là đạo.

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Bạn xem đoạn kinh này Phật dạy như thế nào: “những vị này là những vị không tham, không sân, không si, không ái, không chấp thủ, có trí, KHÔNG có thuận ứng, KHÔNG có nghịch ứng, không ưa hý luận, không thích hý luận; những vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói những vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.” (kinh trung bộ số 11)

 

Hạnh Trương Ba Nguyen nên thống nhất lại quan điểm trong hai comment cuối cùng của đạo hữu, nếu không HT sẽ không biết trao đổi tiếp tục với đạo hữu như thế nào nữa🙂

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Bạn chỉ muốn nghịch ứng với tôi nên bạn đọc không kỹ các comment của tôi. Comment trước tôi nói về hậu quả của sự nghịch ứng và thuận ứng. Tôi kết luận không nên thuận ứng và không nên nghịch ứng: “Tôi thấy không nên thuận ứng người này, nghịch ứng người kia.” Comment thứ hai tôi trích đoạn kinh phật tương ứng để dẫn chứng. Hai comment cùng thống nhất một quan điểm.

 

Hạnh Trương Ba Nguyen : <<@Hạnh Trương: Bạn chỉ muốn nghịch ứng với tôi nên bạn đọc không kỹ các comment của tôi.>>

Bạn nhầm quá lớn rồi, đáng tiếc🙂

 

Ba Nguyen Tôi thấy hai comment đó ngắn và quan điểm rõ ràng mà bạn không nhận ra, kinh trung bộ số 11 bạn đã học qua rồi bạn lại không nhớ. Nhìn các comment của bạn, mọi người đã biết bạn nghịch ứng, thuận ứng hay trung dung rồi. Xin phép bàn tiếp đề tài niệm và tỉnh giác.

 

Hạnh Trương Đành phải phân tích lời của bạn để giải thích cách mà người khác có thể hiểu comment bạn viết ra. Cái nhìn khách quan, cho dù trái ý , đôi khi cũng có lợi.

Bạn viết :
@Hạnh Trương: Thiên nặng về nghịch ứng sẽ mất khả năng thuận ứng, không thuận ứng có nói mãi vẫn không thể đồng cảm. Thiên nặng về thuận ứng sẽ mất khả năng nghịch ứng, không nghịch ứng thì nói cái gì cũng tin. Tôi thấy không nên thuận ứng người này và nghịch ứng người kia. Trung dung ấy là đạo.

“Thiên nặng về nghịch ứng sẽ mất khả năng thuận ứng, không thuận ứng có nói mãi vẫn không thể đồng cảm”
-Tôi hiểu : nếu một người THIÊN NẶNG về nghịch ứng, thì người đó khó mà đồng cảm với người khác. -> Không nên thiên nặng về nghịch ứng
“Thiên nặng về thuận ứng sẽ mất khả năng nghịch ứng, không nghịch ứng thì nói cái gì cũng tin.”
– Tôi hiểu: nếu một người THIÊN NẶNG về thuận ứng, người đó trở nên nhẹ dạ, cả tin -> không nên thiên nặng về thuận ứng

.
” Tôi thấy không nên thuận ứng người này và nghịch ứng người kia”
– Cái này tôi thấy bạn không hợp lý, nên tôi nói ý tôi là chỉ theo cái thiện, không theo cái bất thiện.
Chỗ không hợp lý của bạn là người này, người kia. Tôi đã có trao đổi với bạn là còn là phàm phu, những phát biểu, tư tưởng của mình đúng ít sai nhiều, nên việc thuận theo bất kỳ một cá nhân nào là việc không thông minh. Cho nên nói việc thuận, nghịch theo một cá nhân là vô nghĩa.
Câu của bạn có thể bị hiểu lầm ở chỗ người ta có thể kéo các vị thánh tăng vào và hỏi bạn ” vậy tôi không thuận theo vị Thầy của tôi, không thuận theo Phật”?

 

Hạnh Trương Ba Nguyen, quy kết, chụp mũ, là cách không thích hợp khi trao đổi. Nếu bạn không tự nhìn ra thì tôi sẽ đành phải tiếp tục phân tích, hy vọng, tôi không phải làm điều này.

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Tôi xin trích lại comment phía trên của tôi: “Tôi thấy hai comment đó ngắn và quan điểm rõ ràng mà bạn không nhận ra, kinh trung bộ số 11 bạn đã học qua rồi bạn lại không nhớ. Nhìn các comment của bạn, mọi người đã biết bạn nghịch ứng, thuận ứng hay trung dung rồi. Xin phép bàn tiếp đề tài niệm và tỉnh giác.”
Bạn được quyền “bới lông tìm vết” để biện hộ cho mình. Bạn được quyền “áp đặt” là tôi đã nói thế này thế kia khiến bạn thấy không hợp lý. Xin lỗi, comment quá dài của bạn phía trên đã cho thấy bạn cố tình hiểu méo mó những câu văn đơn giản.

 

Hạnh Trương Ba Nguyen, bạn đang dùng những từ không thích hợp trong đàm đạo, đề nghị bạn tự sửa, tôi nhắc bạn lần thứ 2.

 

Ba Nguyen @Hạnh Trương: “tôi sẽ đành phải tiếp tục phân tích, hy vọng, tôi không phải làm điều này” — Tôi thấy bạn không nên làm điều này, bởi vì các phân tích của bạn đi rất xa ý tứ của người viết.🙂

 

Ba Nguyen Tôi thấy những từ ngữ “bới lông tìm vết”, “áp đặt” rất thích hợp để trả lời comment của bạn khi bạn dùng từ ngữ “quy kết”, “chụp mũ”. Nếu bạn muốn nhắc nhở người ta, bạn xem lại mình dùng từ ngữ thế nào đi đã !

 

Pāli Việt Có thể dừng lại tại đây được không?

 

Ba Nguyen Tôi xin phép 1 lần nữa cho phép tôi trở lại đề tài niệm và tỉnh giác. Sách Đường đến Giác ngộ: 37 phần Bồ đề của TK Chánh Minh viết như sau: Sự biết rõ (tỉnh-giác) có bốn cách:

1- Sāṭhaka sampajaññā: hữu-ích tỉnh-giác. Là sự biết rõ trong điều lợi-ích. Hành-giả cần xác định điều nào là có ích lợi trong khi thiền tập, điều nào không ích lợi, loại bỏ điều không ích lợi, giữ lại điều ích lợi.

Như khi đang thiền tập, hành-giả thấy rằng sự chú niệm đang vững mạnh, sự tỉnh-giác cùng với tuệ-quán đang tăng-trưởng như nước biển càng lớn dần lên. Nhưng lại đến thời tụng kinh, hay nghe giảng pháp, có thể không cần phải tụng kinh hay nghe giảng, vì không mang lại lợi-ích trong giai-đoạn này, sự lợi-ích đang gìn-giữ là tinh-tấn phát-triển tỉnh-giác để vun bồi cho tuệ-quán sắp sanh-khởi, như Hoàng-hậu cẩn trọng gìn-giữ thai bào sắp sinh ra vị Chuyển-luân vương.

Trong chú-giải kinh Pháp-cú, có ghi hai trường-hợp của Sadi Paṇdiṭa và Sadi Sukha.

Khi hai vị đang tiến đạt dần đến quả vị Ứng-cúng, vừa khi ấy trưởng-lão Sārīpuṭṭa trở về tịnh thất.

Ðức Thế-tôn nhận thấy vào thời điểm này, sự trở về tịnh thất của Ngài Sārīpuṭṭa không mang lợi-ích đến cho hai vị thánh Vô-lậu sắp hiện khởi trong thế-gian.

Ðức Thế-tôn ngự ra trước cổng tịnh xá Jeṭavana để hỏi Ngài Sārīpuṭṭa bốn câu hỏi, nhằm mục-đích làm chậm bước chân Ngài Sārīpuṭṭa, trợ giúp cho hai vị sadi Paṅdiṭa và sadi Sukha đắc được quả vị A-la-hán. Ðây là trường-hợp điển hình.

2- Sappāya sampajaññā: an-lạc tỉnh-giác. Là biết rõ trong điều an-lạc. Hành-giả cần xác định rõ điều nào mang đến an-lạc, điều nào không mang đến an-lạc và chỉ giữ lấy điều an-lạc.

Ðiều này rất quan trọng trong khi thiền tập, nếu hành-giả không khéo tác-ý (ayoniso manasikāra) sẽ dễ-dàng rơi vào tham-ái, bị ái ngủ-ngầm (ṭaṅhānusaya) dẫn đi.

Như khi thiền tập, một số hành-giả do tích lũy phước báu về thiền Chỉ mạnh, khổ tướng (dukkha lakkhaṇa) hiển-lộ, bấy giờ thân nhận lãnh cảm thọ-khổ khốc liệt, cần phải nỗ-lực tinh-tấn để vượt qua. Nhưng lại nghĩ rằng: “điều này không đem lại an-lạc”, hoặc “pháp này không thích-hợp với mình”. Thế là, từ bỏ đề mục, để tìm đề mục khác, hay ngưng thiền tập làm thối giảm tinh-tấn.

An-lạc tỉnh-giác ở đây là: xác định rõ điều này, pháp này có làm cho tâm khó chịu, nóng nảy, bất an hay không? Nếu có hãy từ bỏ, giữ lại điều nào, pháp nào giúp tâm an-tịnh thoải-mái.

Như trong khi thiền tập, tuy khổ-thọ sanh-khởi ở thân, nhưng tâm vẫn sáng suốt, niệm lại rõ ràng dán chặt vào đề mục, khổ-thọ chỉ hiện khởi ở thân, trái lại tâm càng lúc càng yên-tịnh thấy rõ sự khổ sanh diệt. Ðó là pháp tốt cần giữ lại.

Chính trong những lúc khổ-thọ về thân phát-sinh mãnh-liệt, tâm vẫn an-tịnh nhận biết rõ, đó là cơ hội tốt khiến sanh-khởi những lợi-ích vô giá.

Như trưởng-lão Cakkhupāla, tuy bệnh đau mắt hoành hành thân, tâm Ngài vẫn định tỉnh. Do đó, Ngài không từ bỏ hạnh dhuṭaṅga (đầu-đà) ngăn oai-nghi nằm, vì pháp-hành này mang lại an-lạc cho tâm.

Khi khổ-thọ bệnh mắt càng khốc liệt, Ngài càng tinh-tấn hành-pháp, đến thời điểm tột cùng của khổ-thọ là mắt Ngài mù hẳn, đồng thời cũng chính là lúc đạo-quả A-la-hán sanh-khởi cho Ngài.

Hay như vị tỳ-khưu bị cọp vồ, thân nằm trong miệng cọp, khổ-thọ sanh-khởi mãnh-liệt, Ngài khéo tác-ý làm an-tịnh tâm, tỉnh-giác trọn vẹn, khổ thân càng tăng-trưởng, Ngài càng tinh-tấn phát-triển tuệ-quán và cuối cùng quả vị A-la-hán sanh lên trước khi Ngài lìa trần.

3- Gocara sampajaññā: hành cảnh tỉnh-giác. Là biết rõ hành cảnh (gocarā), tức là đề mục nào thích-hợp với cơ-tánh của mình, đề mục nào không thích-hợp. Với đề mục thích-hợp sẽ không hề rời bỏ trong bất cứ thời điểm nào.

Như hành-giả thích-hợp với đề mục hơi thở, tuy tỉnh-giác trong bốn oai-nghi, nhưng không xa rời đề mục hơi thở.

Ý-nghĩa này ra sao? Như người gác cổng thành, người gác cổng thành không hề rời xa vọng gác, anh quan sát những người qua lại ở trong lẫn ngoài thành, nhưng không hề hỏi: “ông là ai? cầm gì trong tay?” nhưng anh lại xét từng người khi đi đến cổng thành.

Cùng thế ấy, niệm luôn luôn dán chặt vào đề mục như người gác không xa rời vọng gác, các oai-nghi như người qua lại bên ngoài, sự biến chuyển của tâm như người qua lại bên trong, sự quan sát của người gác cổng ví như sự tỉnh-giác, khi có người đến cổng thành anh chú ý cặn kẽ, ví như đề mục thích-hợp là hơi thở đi qua lại ở chót mũi, sự chú niệm không hề xa rời.

4- Asammoha sampajaññā: không mê lầm trong tỉnh-giác. Là không hiểu sai, không hiểu lệch lạc, hiểu theo đúng theo chân-đế (paramaṭṭha sacca), như không nghĩ là “ta đi, người đi” đó chỉ là sự đi.

Nếu thấy thân di chuyển, nghĩ rằng “đây là sự đi của nội thân”, thấy người khác, chúng-sanh khác đi, nghĩ là “đây là sự đi của ngoại thân…”.

Tức là, không còn có ý nghĩ về chúng-sanh, người, thú đi, mà chỉ là sự đi đơn thuần. Sự đi này diễn tiến trong thân (do sức gió trong thân) hay sự đi này diễn tiến ở ngoài thân.

Ðiều này giúp hành-giả loại trừ hay giảm thiểu sức mạnh của tưởng (saññā).Vì tưởng có sức mạnh sẽ hướng dẫn tâm nhận lấy cảnh quá-khứ hoặc cảnh vị-lai, cảnh hiện-tại bị che lấp, khiến cho hành-giả tự mê lầm trong tỉnh-giác. Khi ấy, ba tướng vô-thường, khổ, vô-ngã không hiển-lộ.

Sự tỉnh-giác có 4 ý-nghĩa như thế. Hai điều đầu là sự tỉnh-giác trước khi sự-kiện diễn tiến. Hai điều sau là sự tỉnh-giác trong khi sự-kiện đang diễn tiến.

 

Thuận Pháp Dhammiko Có những lúc thực hành pháp: Vị “ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm” thì hay tuyệt!!!

 

Minh Quang cám ơn Hạnh Trương và Ba Nguyen đưa lên cái sampajāna Sự biết rõ (tỉnh-giác) vì trước đó mq cứ nghĩ nó thuộc về nệm sati.thế nhưng ,mọi người có cách nghĩ hoặc có tư liệu(thì đưa lên thêm)
sampajāna hoặc nó có liên quan đến sati như thế nào nhé?

 

Ba Nguyen @Minh Quang: Cặp đôi niệm và tỉnh giác xuất hiện nhiều trong Kinh. Nếu bạn xem niệm là chánh niệm bạn sẽ có “Chánh niệm Tỉnh giác”: bạn biết cái bạn đang làm và bạn nhớ cái bạn cần làm.

 

Minh Quang liệu có khả năng sampajāna thuộc nhóm tuệ Paññā

 

Minh Quang mq tìm thấy một đoạn văn nói về vấn đề này

”… …Abhikkante paṭikkante sampajāna-kārī hoti. Alokite vilokite… samiñjite pasārite… saṅghati-pâtt-cīvana-dhāraṇe… asite pīte khāyite sāyite… uccāra-passā-vakame… gate ṭhite nissinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhī bhāve sampajāna-kāri hoti

“Bước tới hay bước lui, nhìn thẳng hay nhìn hai bên, co (tay) hay duỗi (tay), cùng với việc mặc y hay mang bát, ăn, uống, nhai, khi đi đại tiện, tiểu tiện, đi, đứng, ngồi, nằm, thức hay ngủ, nói hay giữ yên lặng” – bất cứ họat động nào trí tuệ tỉnh giác cũng phải được thực hành (sampajāna-kārī hoti)…

…Chúng ta đã thấy rằng trí tuệ tỉnh giác (sampajañña) phải có mặt ở mọi nơi, mọi lúc. Đức Phật thường xuyên được hỏi về (ý nghĩa) của sati (niệm). Mỗi lần như vậy câu trả lời của ngài đều gồm luôn cả sampajañña (trí tuệ tỉnh giác) vào:

Kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā

Sống quán thân trong thân, nhiệt tâm tỉnh giác và chánh niệm.

Vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā

Sống quán thọ trong thọ, nhiệt tâm tỉnh giác và chánh niệm.

Citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā

Sống quán tâm trong tâm nhiệt tâm tỉnh giác và chánh niệm.

Dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā

Sống quán pháp trong pháp nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm…”(Tứ Niệm Xứ Giảng Giải,Tác giả: Goenka)

 

Hoa Nguyen Tôi “tin” đơn giản từ trước : không có chánh niệm thì không có định, và không có tỉnh giác thì không thể có tuệ giác. Tìm đọc kinh Nguyên Thủy gần đây tôi thấy niềm tin đó không hề suy giảm mà chỉ được củng cố hơn lên.

 

Ba Nguyen Niệm và Tỉnh giác nếu đã được giải quyết, tôi thấy mình nên quay lại bài kinh. Tôi và Phan Minh Nguyệt chung nhận xét về hai pp 4 và 5.

 

Minh Quang 4.”vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy”
câu này khó hiểu nhất vì ”hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy” nhờ Ba Nguyen diễn giải hộ với

 

Ba Nguyen @Minh Quang: Pali: “hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy” dịch từ vitakkasaṅkhārasaṇṭhāna, gồm ba chữ vitakka (tầm), saṅkhāra (hành; trong hành uẩn), saṇṭhāna (vị trí, kết cấu, hình tướng). Ngài MC chuyển ngữ là hành tướng và sự an trú của các tầm. Bạn thử tìm hiểu thêm về saṅkhāra và saṇṭhāna.
Theo tôi, pp tìm hành tướng, vị trí, kết cấu của tầm là rất khó. Nếu tìm được tôi tin tầm bị tiêu diệt.

 

Hoa Nguyen Phan Minh Nguyet viết:” tôi cũng cảm thấy như Ba Nguyên, phương pháp 5 đặt sau phương pháp 4 có vẻ ko hợp lý nhưng kinh điển kết tập như vậy thì tạm chấp nhận vậy”.
Có người còn cho cách diệt ác tầm thứ 5 là cách “không trí tuệ”.
Đó chẳng qua là không đọc hiểu bài kinh này.
Trong kinh đã nói rất rõ 5 bước (cách), và lý do tại sao có bước (cách) thứ 5 là vì cần thiết, khi không có cách nào tốt hơn.
Trích lại kinh An Trú tâm (để dùng đúng ngôn ngữ trong kinh):
1/ Nếu “các ác bất thiện tầm sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia”
2/ Nếu Tỷ-kheo ấy khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm vẫn khởi lên, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm (ác)
3/ Nếu Tỷ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm vẫn khởi lên, thời Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy
4/ Nếu Tỷ-kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm vẫn khởi lên, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy
5/ Nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm vẫn khởi lên, thời Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm.

Theo tôi hiểu :
Bước 1 là khi đối phó với ác tầm nhẹ, hay nó vốn nặng nhưng vừa xuất hiện là mình nhận biết được ngay, thì dùng cách gọi là “như lý tác ý”, nghĩ đến một thiện tầm để đối trị. Pháp như lý tác ý thường được hiểu là dùng một thiện tầm đối nghịch với một ác tầm, thí dụ nều thấy sân thì dùng từ bi, nhưng không phải luôn thành công, vì khi giận ai rất khó khởi tâm thương được người đó. Trong kinh không thấy nói khởi một thiện tầm đối nghịch với ác tầm, mà là thiện tầm nào đó thích đáng. Tôi không muốn nói dài hơn.
Bước 2, khi cách 1 không thành công, vì ác tầm mạnh hơn, hay nhận biết được trễ, thì quán sát sự nguy hiểm, tai hại do ác tầm gây ra (tại sao như thế có kết quả thì tôi không bàn, nhưng ghi nhận đây là điều Phật dạy và có hiệu quả).
Bước 3, nếu như cách 2 cũng thất bại, thì không nhớ , không nghĩ tới ác tầm nữa, như lãng quên, hay coi như nó không hiện diện.
Bước 4, nếu vẫn thất bại vì ác tầm mạnh hơn, thì nhìn thẳng vào ác tầm để quan sát hành tướng của nó, tức hình thái, tướng trạng của ác tầm, coi nó biến chuyển, thay đổi ra sao với con mắt của người quan sát vô tư. Cách này được nhiều thiền sư dạy áp dụng (như thầy Nhất Hạnh, và các phái thiền của Tây Tạng). Theo giải thích thì chỉ cần theo dõi, quan sát tướng trạng sân đang khởi lên trong tâm, thì dần dần cơn giận sẽ tự tan rã.
Bước 5, để đối trị với ác tầm cực mạnh hay đã chiếm ngự được phần nào tâm trước khi nhận biết được, thì cắn chặt răng, uốn cong lưỡi và dùng toàn thân tâm đối trị ác tầm. Nói rõ, đây là dùng cả thân và tâm để chống ác tầm khi nó quá mạnh (nếu thất bại chắc là hết cách).
Như vậy các bước dùng dứt trừ ác tầm trình bày rất hợp lý, đi từ dễ làm, nhẹ nhàng đến quyết liệt, dũng mãnh. Và đọc xong bài kinh này tôi thấy Phật đã giảng rất kỹ hầu hết các phương pháp dùng đối trị ác tầm mà ngày nay nhiều thiền sư cũng nói không khác (nhưng chưa chắc được đầy đủ như trong bài kinh).

 

Minh Quang 3 phương pháp đầu tương đối hiểu hơn pp4 và pp5,vậy chúng ta bàn luận về 2 pp này để cùng hiểu,bây giờ bàn về pp5 trước:

phương pháp 5 phật dạy”…Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong….”
nghĩa là quyết tâm kham nhẫn,bằng cách”nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng”thế nhưng, phật dạy”tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm..”thì chúng ta lại không rõ dùng ”tâm”nào để”chế ngự tâm, nhiếp phục tâm” điều này xin nhờ mọi người diễn giải

 

Hạnh Trương Cái này phải hỏi Karmalaw Net🙂

Hạnh Trương Dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṃ āhacca cetasā cittaṃ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṃhitāpi dosūpasaṃhitāpi mohūpasaṃhitāpi, te pahīyanti te abbhatthaṃ gacchanti, tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati.

Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Các Sư xem hộ đoạn mà Minh Quang hỏi, lấy “tâm chế ngự tâm” đó bên Pali dịch sát nghĩa là gì ạ.

 

Karmalaw Net   Trời ạ, anh Hạnh Trương lại lôi KN vào cái bài kinh quan trọng này làm chi. Cái vụ tâm lý gì đó thì Kn ko biết, nhưng tại sao dán chặt lưỡi lên nóc họng và ngậm kín miệng (răng sát nhau, lưỡi khít sau răng) thì KN biết. Vì sao? khi lỡ có ngủ gục thì miệng ko có há ra và ko có…ngáy! hihi

Hạnh Trương   không phải là chuyên gia dán lưỡi lên nóc họng à, hihi

<<Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.>>
Đoạn kinh này lặp đi lặp lại nhiều lần . Được vậy là xíu nữa là sơ thiền rồi nhỉ🙂

 

Minh Quang  ở đây,ta thử suy luận theo pp loại trừ,chẳng hạn(nếu dùng tâm thiện để”lấy tâm chế ngự tâm”ác bằng cách tác ý đến tâm thiện thì không phải ,vì đó trùng pp1…

như vậy,chỉ có cách dùng tâm niệm sati nhằm chế ngự,cắt đứt các tâm phóng dật,đó là có lẽ thuận theo nguyên tắc”chỉ có 1 tâm hiện diện,trong mỗi sát na”

 

Hạnh Trương đoán dễ trật lắm

 

Hạnh Trương để nhờ các Sư xem có phải đúng là lấy tâm chế ngự tâm hay không, hay nó là cái gì khác nữa

 

Karmalaw Net   theo KN thì dùng tâm xả để làm yếu các tâm khác.

 

Hạnh Trương   Trên thực tế thì HT thỉnh thoảng có phải dùng tới cách này, nên có thể mô tả lại được. Nhưng nó là cách bất đắc dĩ, kiểu như đã phải dùng tới kháng sinh mạnh là có khỏi bệnh cũng yếu.

Ví dụ như sau khi đã làm các cách , thậm chí cả cách vốn cực kỳ hiệu nghiệm là cách 4 ( sẽ trao đổi sau ), mà do nghiệp lực quá mạnh, bất thiện tầm tự nó phát triển không cần củi và gió; và nếu không ngăn ngừa bằng biện pháp đặc biệt thì nó sẽ nhất định chuyển thành hành vi và khống chế thân khẩu ý của mình -> phạm giới hoặc nặng hơn thì khổ mình, khổ người, khổ cả hai, đưa tới quả báo khổ. Tóm lại là lúc đó có gì thì đem ra “chơi”.

Cách là như thế này: Bất thiện tầm nó sôi sục muốn kiểm soát mình, mình thỉnh thoảng vẫn xen vào được, lệnh cho nó ngưng. Nói thẳng ra là lệnh luôn ” Không được!, Dừng lại! Chết đó!..” kèm theo đó là dùng chiêu, đó là nắm chặt tay, nghiến răng, cong lưỡi …( là một điểm đặc biệt trong luyện khí ), mục đích là để đẩy luồng năng lượng trong cơ thể đi đúng vào đường trung đạo, vì theo nguyên tắc, bất thiện tâm cần năng lượng đi theo một kênh khác, còn khi năng lượng vì lý do gì đó mà nó đi vào kênh trung đạo ( ấn giáo ) , hay nhâm đốc ( đạo giáo) thì tâm bất thiện bị cắt nguồn năng lượng đột ngột và nó sẽ phải dừng.

Làm xong thì rất mệt. Nôm na là như vậy, thực tế thì nó hơi phức tạp hơn một chút.

(mặt trái của việc đẩy năng lượng lên nhanh theo kênh trung đạo là sanna có thêm nguồn tiếp ứng, cho nên nếu làm chuyện này thường xuyên thì tưởng tri rất mạnh). Đề tài này khá tế nhị, HT chỉ nói sơ lược kinh nghiệm và tri kiến cá nhân để các đạo hữu tham khảo thêm về một cách nhìn. Có gì sai xin các vị lượng thứ.

 

Karmalaw Net Chiêu này sao nghe quen quen, ứng dụng vào chuyện tại gia chứ ko phải thiền, mà anh HT áp dụng cho Thiền thì cũng là có…mạo hiểm làm chuột bạch đấy!

 

Hạnh Trương thì biết là quen mới kêu KN vào nói giùm, mà không chịu nói🙂, mà áp dụng trong bất cứ lúc nào, chứ khi đã ngồi thiền thì ngồi đúng cách tự nó đã thế rồi, có điều nó nhè nhẹ, an toàn hơn thì phải, hihi.

 

Minh Quang mq cảm ngh 4 pp đầu có qui trình thế này:

có tác ý như lí->khởi niệm->suy tầm(chánh tư duy) nhằm đối trị tức là lấy trí tuệ nhằm an trú tư duy như tên bài kinh(Vtakkasanthàna sutta)

riêng pp 5 nó,có lẽ nó khác hẳn với 4pp đầu,)nó hàm ý ”…Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm…” tức là qui trình có lẽ như sau:

có tác ý như lí->khởi niệm->suy tầm(chánh tư duy) về đề mục tu tập(có thể là tứ niệm xứ,niệm phật,niệm chú….”nhằm có”định’ nhằm an trú tư duy như tên bài kinh(Vtakkasanthàna sutta)

nghĩa là 4 pp đầu có lẽ lấy tư duy tức”trí tuệ” nhằm an trú tư duy,còn pp thứ 5 lấy ”định”nhằm an trú tư duy

 

Ba Nguyen   Tôi thấy pp 4 tác ý đến hành tướng và sự an trú của các tầm là trọng tâm của bài kinh vì bài kinh này tên là Kinh An Trú Tầm (Vtakkasanthàna Sutta)

 

Thuận Pháp Dhammiko   Cách thứ 5 là cách cuối cùng sau khi 4 cách trên đã dùng mà không có hiệu quả. “Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm”. Nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng sẽ làm cho tâm rời khỏi các đối tượng gây ra bất thiện. Tiếp đến là chú tâm vào sự nghiến răng, sự dán chặt lưỡi lên nóc họng. Nếu bất thiện tâm vẫn còn thì dùng tâm có niệm để ghi nhận các tâm bất thiện này gọi là tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm. Điều kỳ diệu là tâm nào có niệm (Sati) thì các tâm bất thiện biến mất, nên có thể gọi là các tâm bất thiện đã bị tâm chánh niệm đánh bại. TP vẫn hay dùng cách nay thấy hiệu nghiệm. Bài kinh này có pp hay quá!

 

Thich Nu Nguyen Huong   Mẹ của NH. đã nghiện ăn trầu hơn 50 năm. Gần đây, NH. khuyên mẹ mình nên bỏ trầu vì ăn trầu mất nhiều nước bọt… có hại cho sức khỏe nhất là tuổi đã gần 80. Hơn nữa, NH. còn nói với Bà là khi chết nếu đang còn ở thân Trung Ấm chưa đi đầu thai mà mình khởi tâm thèm trầu, không khéo lại sanh làm con sâu ở trong lá trầu hay trong trái cau gì đó cũng có thể! Bà nói, khi cơn thèm trầu nổi lên, thì dù trời có đang mưa rất lớn, bà cũng phải đội nón ra vườn hái lá trầu vô nhai cho bằng được,…Năm ngoái, bà đã bỏ ăn trầu từ đó đến nay. Có một lần NH. hỏi bà là bà bỏ trầu bằng cách nào? Đại khái bà nói như sau:

Thich Nu Nguyen Huong

1.Nhận thức nó không có lợi, có hại cho thân và tâm;

2. Thấy mình khổ là bị nô lệ, bị trầu sai sử;

3.Dứt khoát, quyết tâm bỏ trầu cho bằng được;

4. Vào một ngày, khi cơn nghiện trầu bắt đầu hành hạ bà, bà đã đem tất cả các món như: lá trầu, hạt cau, vôi ra để hết lên bàn và bà ngồi nhìn chúng đầy vẻ thách thức, bà nói:” TAO KHÔNG ĂN, MI LÀM CHI TAO!” Bà nói bà nhìn chúng với một tâm đầy thách thức và quyết tâm một lúc, bà thấy cơn nghiện trầu cũng dịu dần và bà cảm thấy bình thường không bị bức xúc như lúc đâu và bà quăng bỏ chúng và đi làm viêc!

 

Hoa Nguyen Cách thứ 5 là dùng ý chí chế ngư ác tầm thông qua cả thân (răng, lưỡi) và tâm. Khi ngồi thiền, bộ phận còn có thể cử động là hai hàm răng và lưỡi, nên căng thẳng cả hai để kích động sức manh trong người (gọi đó là nội lực hay năng lượng tùy ý). Thường có câu nói “cắn răng chịu đựng” là dùng hết sức của thân xác chống lại sự đau đớn nào đó. Ở Thiền tông còn dùng cách trợn trừng mắt (để ý hai mắt trợn trừng của tranh vẽ Bồ Đề đạt ma, tổ sư Thiền tông). Ở một phái Thiền Tây Tạng họ hét lên trong đầu tiếng “Phat”, tức là không phải hét ra thành tiếng, để cắt đứt ngay dòng vọng tưởng khó trị. Ác tầm hay vọng tưởng đối với người ngồi thiền (như Thiền tông ) cũng không phải khác (có câu đại ý: vô niệm là thiện, hữu niệm là ác).
Cách 3 làm lơ khi nhận biết có ác tầm hay vọng tưởng là pháp Thiền giống như của thầy Thanh Từ : thấy vọng liền lìa. Không chống lại vọng hay ác niệm, chỉ khi nào nhận thấy biết chúng thì liền buông bỏ, không theo. Cách 1 và 4 thầy Nhật Hạnh thường viết trong sách.

 

Hoa Nguyen  Nhiều người nhận là cách đối trị thứ 4 quan trọng nhất. Nhưng nếu cho quan trọng vì cách 4 đưa tới an trú tâm, như tên bài kinh, là không đúng, và có thể doì hiểu lầm câu kinh dịch:
Cách thứ 4 trong kinh An trú tâm viết: “Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục… được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh”.
Các dấu chấm (…) dễ gây hiểu lầm là các bất thiện tầm (liên hệ đến dục, sân, si) (sau cùng) được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Chỗ (…) là phần câu thường lặp lại trong nhiều đoạn kinh (do trùng tụng), và nếu đọc/viết đủ ở chỗ đó thì là : “các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh”.
Như vậy sự an trú, an tịnh ở câu kinh dẫn đầu tiên là nói của “nội tâm” , chứ không phải của các ác tầm. Tóm lại, cả 5 cách dạy trong kinh đều đưa tới nội tâm an trú, và an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Còn ác tâm lúc đó đã bay mất, không thể định tĩnh được.
Nhưng “hành tướng của tầm” là nói tầm nào ? Phải là ác tầm. Chỗ này kinh Tăng thượng tâm (Trung A-Hàm) nói rõ hơn:
” Đối với niệm này, Tỳ-kheo đó phải dùng hành tướng của tư duy mà giảm dần niệm ấy để không sanh niệm ác bất thiện. Khi đối với niệm này, Tỳ-kheo đó phải dùng hành tướng của tư duy, giảm dần niệm ấy, thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt, niệm ác diệt rồi, tâm liền được an trú, bên trong tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm, cần phải suy niệm luôn luôn tướng thứ tư này. Suy niệm tướng này thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm liền được an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định”.
Phần sau của đoạn trích trên cho thấy cách 4 rất quan trọng để có được tăng thượng tâm.
Đọc giảng giải bài kinh này của hai tác giả tôi hiểu thêm phương cách 4 là quán sát, theo dõi hành tướng của các ác tầm từ lúc nhận diện được chúng, tiếp theo thấy sức mạnh của chúng giảm dần, cho đến khi tàn lụi. Tại sao như thế thì có giải thích gần giống như Minh Quang và Karmalawnet nói trên: tâm không thể cùng lúc có hai đối tượng, cho nên khi tâm đang từ là sân (giận ai, giận cái gì) chuyển qua làm công việc quan sát hành tướng của cơn giận, thì sân (cơn giận) bị mất năng lượng (nói theo thầy Nhất Hạnh) để yếu dần và tự diệt.
Ghi lại hai giải thích sau đây:
HT Chơn Thiện : 4. …thì tác ý đến hình thái và chức năng, hành tướng của chúng (ác tầm), chúng sẽ diệt.
Thích Trí Hải : 4. Quan sát sự sinh diệt của những tư tuởng (ác tầm) ấy, khiến nó giảm tốc độ và dần dần biến mất.

Ba Nguyen @Hoa Nguyen: “nếu cho quan trọng vì cách 4 đưa tới an trú tâm như tên bài kinh” — Tên bài kinh này là An Trú Tầm chứ không phải An Trú Tâm bạn nhé. PP4 tác ý đến “hành tướng và sự an trú của các tầm” (tầm, không phải tâm) nên ứng với tên bài kinh.

Có ý kiến cho rằng pp 5 là quan trọng nhất. Tôi thấy có ý kiến như vậy có lẽ chỉ vì pp 5 được xếp sau cùng. Giả sử pp 5 đem lại hiệu quả vô địch, Phật dạy 4 pp kia làm gì nữa? Tôi thấy cần chỉnh lại tư duy chỗ này. Mỗi pp đều cần thiết. Bên trong các pp phải có một mạch nào đó.

Hạnh Trương Tena bhikkhave bhikkhunā tesaṃ vitakkānaṃ [vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ] manasi kātabbaṃ. Tassa tesaṃ vitakkānaṃ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasikaroto ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṃhitāpi dosūpasaṃhitāpi mohūpasaṃhitāpi, te pahīyanti te abbhatthaṃ gacchanti, tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati/

Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục… được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Đúng là phương pháp 4 này được dùng đặt tên cho bài kinh, HT thấy hợp lý vì nó vô cùng hay🙂

Ví như một người đang đi mau, suy nghĩ: “TẠI SAO ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại”. Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: “TẠI SAO ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại”. Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: “TẠI SAO Ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống”. Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: “TẠI SAO ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Chư Tỷ-kheo, như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất.

Tại sao lại có nhiều TẠI SAO vậy nhỉ ?

Hạnh Trương theo Ba Nguyen thì tại sao các trưởng lão lại dùng từ an trú trong cách 4 này để đặt tên cho bài kinh, có ẩn ý gì trong đó không nhỉ?

 

Hai Long  Trang 107-117 tập 3 Đường Về Xứ Phật Thầy Thông Lạc có giải thích về bài kinh này. Còn Định niệm hơi thở Thầy cũng có gọi là định diệt tầm, giữ tứ.

Hạnh Trương  << Mỗi pp đều cần thiết và phải có một mạch nào đó nằm bên trong các pp.>> HT cũng thấy như vậy, khi cần xử lý một chuyện, nếu có thể thì nên xử lý nó với năng lượng tối thiểu, nghĩa là nếu có thể thì nên dùng đầu tiên là cách ở kinh Song Tầm, sau đó tới cách thứ nhất ở bài kinh này… cách càng đơn giản thì càng tốt

Ba Nguyen  Theo tôi vì 4 cách kia có thể xếp chung 1 nhóm và cách 4 có thể đứng riêng 1 nhóm (bạn thử suy nghĩ hướng này xem) và nhóm đứng riêng này là ý nghĩa chính của bài kinh.

Hạnh Trương  Có chỗ nào cho duyên khởi ở p/p 4 này không nhỉ, vì đó mà các trưởng lão chọn tên bài kinh theo nó?

Ba Nguyen  Theo tôi

1: Tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện;

2: Quán sát các nguy hiểm;

3: Không nhớ đến nó, không tác ý đến nó;

4: Chế ngự nó, nhiếp phục nó, đánh bại nó. –> Không có kết quả? –> Tác ý (manasi) đến hành tướng và sự an trú của nó. –> Tên bài kinh.

 

Hạnh Trương Saṇṭhāna (nt.) [fr. saŋ+sthā]

1. configuration, position; composition, nature, shape, form Vin ii.76; M i.120 (spelt ˚nth˚); A i.50; iv.190 (C. osakkana); Miln 270 316, 405; J i.71, 291, 368; ii.108; Vism 184, 225, 243 DhsA 321; DA i.88 (nth); SnA 464 (=linga). su˚; well formed Sn 28. — adj. ( — ˚) having the appearance of megha — vaṇṇa˚; PvA 251; chavi˚; appearance of the skin J i.489; vaṇṇa˚; outward semblance Nett 27; J i.271 sarīra˚; the (material) body Vism 193.

— 2. fuel J ii.330 =iv.471.

— 3. (usually spelt ˚nth˚) a resting place meeting place, public place (market) (cp. Sk. sansthāna in this meaning). At S i.201 in phrase nadī — tīresu saṇṭhāne sabhāsu rathiyāsu (i. e. at all public places) S i.201 reads saṇṭhāne (v. l. santhāne); cp. K.S. i.256 from C.: “a resting place (vissamana — ṭṭhāne) near the city gate, when market — wares had been brought down, trsln “resting by the gates.” This stanza is quoted at SnA 20, where the ed. prefers reading panthāne as correct reading (v. l. saṇṭhāne). At M i.481 (˚nth˚) S ii.28 (2 fr. b.), it seems to be used in the sense of “end stopping, cessation”=A iv.190 (the editions of S and A have saṇṭhāna). At J vi.113 it is translated by “market place,” the comp. saṇṭhāna — gata being explained by the Comm. by saṇṭhāna — mariyādaŋ gatā, but at J vi.360 saṇṭhāna — gata is by the English translator translated “a wealthy man” (vinicchaye ṭhito, Com.), which however, ought to be “in the court house” (cp. vinicchaya — ṭṭhāna), i. e. publicly. In both places there is also v. l. santhāna — ˚.

Ba Nguyen Tôi đã suy nghĩ theo hướng của bạn và tôi cũng quyết định thử suy nghĩ theo hướng khác. Tôi thấy hướng suy nghĩ tôi trình bày ở trên dường như hợp lý với mạch bên trong các phương pháp đồng thời cũng ứng với tên bài kinh. Tôi “mạo muội” trình bày hướng suy nghĩ này của tôi.

 

Hạnh Trương Nếu theo chuỗi mà Ba Nguyen đưa ra thì tên bài kinh phải theo cách 5 mất chứ.

 

Ba Nguyen Bạn vui lòng xem lại lần nữa. Bạn liên hệ comment phía trên comment đó nữa nhé.

 

Ba Nguyen Khi xét mạch các pp, tôi thấy pp 4 đặc sắc và riêng biệt. — “Theo tôi vì 4 cách kia có thể xếp chung 1 nhóm và cách 4 có thể đứng riêng 1 nhóm (bạn thử suy nghĩ hướng này xem)”

 

Hạnh Trương HT thì để ý tới ví dụ.

Trong ví dụ của cách bốn, đức Phật chỉ cho chúng ta cách thức làm sao để an trú được các tầm đang hiện diện, và cách thức an trú này đặc biệt lý thú.

Đó là dùng các câu hỏi TẠI SAO để từ từ “hạ nhiệt” cho Ý căn, khiến nó bớt sôi .

Cách dùng các câu hỏi tại sao này giúp chúng ta lần lần từ từ về cái gốc của vấn đề, ở đây là giúp chúng ta hạ dần các bất thiện tầm, ác tầm đang rất mạnh trở về chỗ được an trú , về resting place của nó, đặt nó , cho nó nằm xuống ( như trong ví dụ)🙂

 

Ba Nguyen Những biểu hiện ấy là kết quả khi bạn tác ý về hành tướng của các tầm. Những biểu hiện ấy là kết quả.

 

Hạnh Trương chỉ tác ý không thì không đủ, theo mình là như vậy, mà phải tác ý đúng cách. Cái cách đó mới thực sự là quan trọng

 

Ba Nguyen Tác ý về hành tướng và sự an trú của tầm để diệt tầm. Tác ý như vậy hiển nhiên là “tác ý đúng cách”.

 

Pāli Việt  @ Hạnh TrươngBa Nguyen nên dịch lại câu Pali ở trên sẽ mở ra nhiều vấn đề lý thú.

Hạnh Trương Chắc phải mổ xẻ mấy từ

1. saṅkhāra

2. manasikara

3. Saṇṭhāna ( đã có )

Hạnh Trương Sư giúp chút đi ạ

 

Ba Nguyen Tôi thấy phải mổ xẻ như vậy mới mong hiểu và thực hành pp 4 này được. Tôi đã đề nghị MQ tìm hiểu về saṅkhāra và saṇṭhāna phía trên. Mời bạn Minh Quang đóng góp kết quả.

 

Pāli Việt Tena bhikkhave bhikkhunā tesaṃ vitakkānaṃ [vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ] manasi kātabbaṃ. Tassa tesaṃ vitakkānaṃ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasikaroto ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṃhitāpi dosūpasaṃhitāpi mohūpasaṃhitāpi, te pahīyanti te abbhatthaṃ gacchanti, tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati/
Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục… được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Pāli Việt Ven Adhiṭṭhāna có đó không vậy?

Hạnh Trương

Con thấy chữ saṅkhāra không có chữ tướng, chúng ta cần phải xem lại chỗ này. Sư có ý gì chỗ này không ạ.

Ba Nguyen Chuyện nhỏ như vậy thì bạn cứ bỏ chữ tướng đi.🙂

Hạnh Trương Ba Nguyen có thể dịch lại đoạn đó được không?

Ba Nguyen Tôi thấy đoạn Pali không khó, trọng tâm vẫn là ba chữ bạn liêt kê phía trên. Theo tôi, chúng ta chỉ nên dành thời gian cho ba chữ này. Nếu nhờ các Sư giúp đỡ, chúng ta nhờ các Sư giảng sâu hơn ba chữ này.

Hạnh Trương Ba Nguyen đề xuất xử lý chữ nào trước ?

Ba Nguyen Theo thứ tự của bạn, saṅkhāra liên hệ đến tầm.

Hạnh Trương Cũng hợp lý, có hiểu được nghĩa 3 chữ đó thì có dịch mới hiểu🙂, còn không thì dịch thế nào cũng thế.

Bỏ “tướng” rất quan trọng, vì tướng là cái bên ngoài, cái thấy được, trong khi hành thì không chỉ có tướng

 

Pāli Việt Nên nghiên cứu lại câu Pali ấy thì sẽ khỏi mất thời gian để bàn luận 1 số vấn đề.

Pāli Việt Nghĩa của 1 từ do ngữ cảnh xác đinh, bỏ ngữ cảnh đi làm sao xác định ý nghĩa của từ?

Hoa Nguyen Tôi viết An Tú Tâm là vì gõ chữ nhẹ thôi, đúng ý là viết An Trú Tầm, như những chỗ khác.. Ba Nguyễn thật ra không biết gì cho đúng mà hay bắt bẻ lặt vặt.

Hoa Nguyen Tên bài kinh không nhất thiết phản ánh nội dung bản kinh, thí dụ có hàng trăm. Có khi tên bài kinhdo Phật đặt ra (hơi đáng ngờ vì sau khi Phật thuyết xong một bài pháp không thấy nói là các đệ tử ghi chép lại để sau thành kinh), nhưng có khi do người sau này ghi vào chỉ vì một ý nào đó trong kinh. Đặt tên sự việc chỉ để dễ nhớ và dễ xếp loại . Tôi đọc kinh nhưng không hoàn toàn tin là ghi chép đúng, dù lời Phật thuyết trong dịp nào đó. Điều này rất khó, hay bất khả, mà người sau chỉ ghi lại được những ý chính, quan trong trong một bài giảng của Phật. Một thí dụ là trong bản kinh Pali có nhiều đoạn trùng tụng (lặp đi lặp lại môt ý quan trọng trong nhiều đoạn), nhiều học giả cho Phật không thể nói pháp như vậy, mà do biên tập sau này, hay do cách tụng đọc để ghi nhớ lời Phật. Luận án tiến sĩ của HT Minh Châu nói rất nhiều về chuyện này. Nên tôi thường tìm đọc cả hai kinh Trung bộ và Trung A-hàm để so sánh chỗ giống và khác nhau. Chỗ giống thì chắc chắn là do cùng một nguồn, nên tin là ghi đúng lời hay ý của Phật. Chỗ khác vẫn còn tồn nghi, vì có thể do một bên thêm vào hay do bên kia ghi thiếu sót. Chuyện này đã nói qua, và không thể bàn thêm trong dịp này. Còn về”tầm” thì bài kinh trước đã nới rõ là có hai thứ tầm: thiện tầm và ác tầm. Trong kinh này đều nói nhiều lần ác tầm sau cùng bị tiêu diệt, thì an trú tầm chỉ có thể là phần của Thiện tầm. Đó là một ý nghĩ qua và tôi đọc thêm kinh Tăng thượng tâm để thêm tin tưởng hay thay đổi ý nghĩ đó. Sau cùng tôi nghĩ thế nào thì đã nói rõ: ác tầm tan biến thành mây khói, và thiện tầm an trú, an tịnh…Ba Nguyễn sai lầm mà không nhận khi cho chỉ ở cách 4 mới nới tới an trú tầm. Tôi vạch ra cho anh thấy mà anh vẫn không chịu nhận là ở cả 5 cách thiện tầm đều đi tới chỗ an trú, an tịnh (không chỉ riêng cách 4). Hết cách.

Hoa Nguyen Thiện tầm trong kinh gọi là nội tâm. Trích kinh :
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi. Tỷ-kheo ấy tác ý một tướng khác, liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được diệt trừ, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy, nhờ quán sát sự nguy hiểm các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy, nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy tác ý hành tướng các tầm và an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Hoa Nguyen Thật ra tôi hiểu nội tâm gồm hai tầm, như bài kinh Song Tầm đã chỉ dạy. Sau khi ác tầm bị “diệt trừ, đi đến diệt vong”, chỉ còn lại thiện tầm thì lúc đó nội tâm an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Thich Nu Nguyen Huong (tiếp theo câu chuyện trên) NH.còn nhớ là mẹ của NH. có nói thêm là sau ngày quyết tâm bỏ trầu đó, thỉnh thoảng cái tâm thèm trầu khởi lên, mỗi lần như thế bà nhai cục kẹo. Cứ như thế một thời gian không lâu sau đó bà bỏ được luôn nhai kẹo và cũng không còn thèm nhai trầu nữa! (câu chuyện mẹ của NH. kể đến đây đã hết!)

 

Minh Quang hành saṅkhāra có ý nghĩa rất rộng trong đạo phật,nó bao hàm thế giới hữu vi, có hai loại hành : vai trò là quả, nghĩa là “chịu điều kiện” của cái khác, và vai trò là nguyên nhân nghĩa là “tạo ra điều kiện”sinh ra cái khác,hành hiện diện trong các tập hợp sau:

1.hành saṅkhāra là 1 chi phần trong thuyết duyên khởi,nó là nhân sinh ra các chi phần khác nhưng nó cũng là kết quả do các chi phần khác tạo thành

2.hành saṅkhāra là một nhóm trong 5 nhóm tạo thành con ngưòi(ngũ uẩn)

3.hành saṅkhāra có vai trò tạo nghiệp,có 3 nghiệp(thân,khẩu ý)

4.có 52 tâm sở ngoại trừ(thọ,tưởng)50 tâm sở còn lại thuộc về hành saṅkhāra

5. v.vv….

ở bài kinh này”hành tướng)có lẽ là :truy tìm nguyên nhân và kết quả(hành)của các dấu vết nhận diện được nhận ra(tướng)gồm :tham,sân,si nhằm làm suy yếu rồi cuối cùng tiêu diệt chúng

 

Pāli Việt   Minh Quang ơi, cái định nghĩa về từ saṅkhāra hay quá. Làm ơn cho trích dẫn được không?

Thuận Pháp Dhammiko “ở bài kinh này”hành tướng)có lẽ là :truy tìm nguyên nhân và kết quả(hành)của các dấu vết nhận diện được nhận ra(tướng)gồm :tham,sân,si nhằm làm suy yếu rồi cuối cùng tiêu diệt chúng” => Khó hình dung quá!

Minh Quang dạ,sư tham khảo đường dẫn:

1.http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-148_5-50_6-1_17-58_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

2.http://www.budsas.org/uni/u-5taphop/05.htm

3.http://tanlethanh.wordpress.com/2011/04/11/iv-hanh-uan-sa%E1%B9%85kharakkhandha/

4.http://www.viet.net/anson/uni/u-chanhminh/ctk00.htm

3. TƯỞNG VÀ HÀNH

www.thuvienhoasen.org

Thư Viện Hoa Sen – thu vien hoa sen

Pāli Việt Thuận Pháp Dhammiko ơi, có nhiều cái “đặng ý thì quên lời” đi mà.

Thuận Pháp Dhammiko TP có ý sau:
“bhikkhunā tesaṃ vitakkānaṃ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasi kātabbaṃ”
manasikātabbaṃ: nên chú ý, nên chú tâm
vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ: hình thái hoạt động tư duy (thuật ngữ triết học hay dùng)
vitakkānaṃ: an tâm, trụ tâm.
Nghĩa đại khái: Các tỳ-khưu nên chú ý đến loại hoạt động tư duy để tâm được an trú.
Ví dụ: Một người thấy một cái ví tiền với giá trị lớn (cỡ vài chục triệu đồng!) của ai đó đánh rơi. Bắt đầu những hoạt động tư duy như sau đưa đến lợi ích cho cả hai (cá nhân và chủ ví tiền):
Nếu lấy tiền dùng cho bản thân rồi giụt cái ví đi là xong nhưng là tham, tội lỗi, bị tội ăn cắp vì cái ví tiền này chủ của nó chưa xả bỏ, gây đau khổ cho cả hai. Nếu giữ ví tiền lại và liên hệ với chủ của nó để trả lại thì lợi cho cả hai, bản thân không phạm trộm cắp, người chủ đó được hoan hỷ và có thể được sự kính trọng, được trả ơn, lợi cả hai🙂
Nhờ tư duy làm như vậy nên tâm được nhẹ nhõm, tránh làm việc bất thiện, tạo duyên lành cho mình và cho người, nên tâm không bất an, hành thiền được dễ dàng!

 

Minh Quang chúng ta bàn luận để cố hiểu”hành tướng” của tham sân si nhằm đối trị,nhưng phải theo lời phật khuyên:

”… Ví như một người đang đi mau, suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại”. Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại”. Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: “Tại sao Ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống”. Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Chư Tỷ-kheo, như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy tác ý đến… (như trên)… được an tịnh, nhất tâm, định tĩnh…”

có lẽ như người hút hết 1 bao thuốc lá, dù có suy tầm đến sự nguy hại,nhưng vì thói quen,vì thích thú….thì muốn làm suy yếu và từ bỏ thì nên theo lời phật dạy….ví dụ như giảm dần sự hút thuốc như đang ngày hút 20 điếu thuốc,dần dần ngày hút 15 điếu…10 điếu…5 điếu…rồi mỗi ngày chỉ hút 1 điếu và cuối cùng từ bỏ

Thuận Pháp Dhammiko Quan trong là tư duy như thế nào để đưa đến lợi ích. Còn hiểu rõ hành tướng rồi nhưng không tư duy đúng thì vô ích. Vitakka cũng có nghĩa là tư duy mà. Vitakka là một chi phần của Bát Chánh Đạo đó!

Pāli Việt Luận chuyện về ví tiền: Nếu là tỳ khưu thì đức Phật dạy rằng: “Ngoài khuôn viên chùa, thì lờ đi, không cần biết đến.” Điều này ngó vậy mà khó hành, vì không thuộc về lãnh vực tư duy, mà là đức tin. Thử đặt bản thân vào vị thế tỳ khưu sẽ thấy nhiều giằng co xảy ra ở trong tâm. Có lần thảo luận về đề tài này thì có hơn 50% vị hành theo lời Phật dạy không nỗi, lý luận thế này, thế nọ, v.v…

Thuận Pháp Dhammiko Con lấy ví dụ dựa vào ví dụ trong kinh, từ “đi chậm lại” đến “nằm xuống” toàn do tư duy mà ra hết, không do hướng đến đối tượng theo nghĩa của Vitakka.

Pāli Việt Xem qua chú giải và thấy định nghĩa 1 của hành phù hợp nên khoái chí vì có thêm chứng cớ. Xem đoạn dịch thô dưới đây:
Chú giải ghi: vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasi kātabbaṃ
nên tác ý đến việc dừng lại duyên nào, lý do nào, cội nguồn nào của tầm (đối với các tầm ấy).

Hạnh Trương Vấn đề của đoạn này là ở chỗ có nhiều câu hỏi TẠI SAO🙂

Hạnh Trương “Kāyaṃ saṅkharotī’ti = kāyasaṅkhāro/ Điều khiển thân(tạo nghiệp), là thân hành”

“Vacaṃ saṅkhārotīti = vacīsaṅkhāro/ Điều khiển ngữ (tạo nghiệp), là ngữ hành.

“Cittaṃ saṅkharotī’ti = cittasaṅkharo/ Điều khiển tâm (tạo nghiệp), là tâm hành.

Hạnh Trương http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/ctk05.htm

Hạnh Trương Có thể tham khảo thêm ý của Sư Nanavira
http://nanavira.org/index.php?option=com_content&task=view&id=55&Itemid=84

Hạnh Trương saṅkhāra có thể rất khó hiểu ở trước CN, nhưng ở thế kỷ 21 này, có lẽ saṅkhāra có thể hiểu dễ hơn nhiều.

Hai Long Hành tướng các tầm, có phải là sự tăng hay giảm mức độ của các tầm ko? VD như thọ hành tức là cái đau nhức khi tăng khi giảm.

Hạnh Trương nên tìm hiểu trước từ HÀNH đã Hai Long ạ, và lưu ý là chỉ có hành, chứ không có hành tướng.
đọc kỹ cái đoạn lược dịch chú giải của Sư xem có ý gì hay không.

Pāli Việt “… cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy” Câu dịch này vẫn chuẩn, lỗi là của người đọc chứ bộ.

Hạnh Trương Sư giải nghĩa ra xem nó có giống bản dịch không ạ, con đảm bảo không giống🙂

Hạnh Trương ( giống với cách hiểu của người bình thường khi đọc tới đoạn kinh này )

 

Pāli Việt Cái đó là điều KHÓ của công việc dịch thuật.

Hạnh Trương Yes, sir. Khó, rất khó ạ, thế mới cần túm năm tụm ba lại để mò, hehe, và còn cần cả bản chú giải và một ông Sư mắc dịch đứng cạnh nữa🙂

Hạnh Trương Ai nói dịch dễ, cho dịch 1 đoạn biết liền, dịch văn đã khó, chưa nói tới dịch kinh.

Pāli Việt Sư nhớ ngày xưa các Sư tu ở chùa cũng đọc bản dịch trên và cũng làm được đúng, cũng an trú tầm đàng hoàng (hình như lúc đó ghi là “đình chỉ tư duy” thì phải), an trú tầm là mới đổi lại sau này. Không nhớ rõ lắm.

Hạnh Trương Sư toàn nhắc khéo không à, hihi

HT nhớ trong tạng kinh chữ saṅkhāra gặp ở mấy chỗ sau :

1. Trong thập nhị nhân duyên, duyên thứ nhì, sau vô minh. Vô minh duyên hành, hành duyên thức.

2. Trong ngũ uẩn, có hành uẩn

3. Có khái niệm thân hành, khẩu hành, ý hành.

Không biết có còn chỗ nào nữa không, xin các đạo hữu bổ sung

 

Minh Quang hành có lẽ nó bao trùm,tạo tác toàn bộ thế giới hữu vi(sinh ,diệt)chỉ có niết bàn(vô vi)là vượt thoát khỏi hành.như vậy,chúng ta khi còn trong tam giới đều lệ thuộc và chi phối bởi hành.tâm(citta) chúng ta hình dung nó như cái kho chứa, còn hầu như toàn bộ tài sản có trong kho thuộc về hành.tuy nhiên, dù rộng lớn nhưng nó cũng chỉ gồm 3 phần:những tâm sở thiện,tâm sở bất thiện và vô kí
——–
”…Tham: thích, ước ao, mong ngóng, yêu mến, ưa thích, dính mắc, tham dục, tính tham lam, tham ái, đam mê, đam mê lạc thú, tham chiếm hữu, keo kiệt, tham muốn ngũ trần, tham giàu, tham con, tham danh, v.v…

Sân: không thích, ghê tởm, khiếp sợ, oán giận, hận thù, cáu kỉnh, bực mình, cáu gắt, phản kháng, ác cảm, sân hận, phẫn nộ, căm thù.

Si: ngu dại, đờ đẫn, hỗn loạn, không biết những cốt yếu (chẳng hạn Bốn Sự Thật Cao Thượng), định kiến, chủ nghĩa giáo điều ý thức hệ, cuồng tín, những tà kiến, ngã mạn…

…Tham có đặc tính nắm giữ đối tượng, như nhựa bẫy chim (nghĩa đen. “nhựa bắt khỉ”). Nó có chức năng kết dính, như thịt đặt trên chảo nóng. Không từ bỏ là biếu thị của nó, như thuốc nhuộm muội đèn. Có nhân gần là đang thấy hưởng thụ trong mọi vật dẫn đến cảnh nô lệ. Nó nên được xem như dòng tham ái cuồn cuộn cuốn chúng sanh trôi theo đến những cảnh khốn khổ như dòng sông đang chảy xiết đến đại dương bao la.

Sân có đặc tính tàn bạo, như con rắn bị khiêu khích. Nó có chức năng lan ra, như giọt thuốc độc, hay chức năng thiêu cháy hết mọi chống đỡ cho riêng nó, như lửa rừng. Hành hạ như kẻ thù gặp cơ hội là biểu thị của sân. Có nhân gần là những nguyên cớ quấy nhiễu (āghāta-vatthu). Sân nên được xem như là nước tiểu để lâu trộn với thuốc độc.

Si có đặc tính mù quáng, hay có đặc tính không biết. Nó có chức năng không thâm nhập được, hay chức năng che đậy bản chất thực của đối tượng. Không có chánh kiến [3] là biểu thị của nó hay như tình trạng tăm tối. Có nhân gần là chú tâm dại dột (phi lý). Nó nên được xem như gốc rễ của tất cả những điều bất thiện. (Vism. XIV, 162, 171)…

…Nầy chư tỳ khưu, có những người ngoại đạo sẽ hỏi các con: “Nầy bạn có ba trạng thái tâm: tham, sân và si. Sự tương phản, đa dạng và chênh lệch của chúng là gì?”

Nầy chư tỳ khưu, được hỏi như vậy, các con có thể giải thích nó cho những người ngoại đạo theo cách nầy:

“Tham ít lỗi hơn và lâu tàn; sân lỗi rất nặng và chóng tàn; si là lỗi rất sâu và lâu tàn.” — AN 3:68 (trích)…

…”Nầy chư tỳ khưu, có thể có những người ngoại đạo, sẽ hỏi các con:

“Nầy các bạn, giờ cái gì là nhân và duyên từ đó tham chưa sanh khởi sanh khởi và tham đã sanh khởi trở nên mạnh hơn và có tác động mạnh hơn?” “Đối tượng hấp dẫn,” chúng nên được kể. Người chú tâm không khôn ngoan vào đối tượng hấp dẫn, tham chưa sanh khởi trong người đó sẽ sanh khởi, và tham đã sanh khởi rồi sẽ trở nên mạnh hơn và có tác động mạnh hơn.

“Nầy các bạn, giờ cái gì là nhân và duyên từ đó sân chưa sanh khởi sẽ sanh khởi và sân đã sanh khởi trở nên mạnh hơn và có tác động mạnh hơn?” “Đối tượng ghê tởm,” chúng nên được kể. Người chú tâm không khôn ngoan vào đối tượng ghê tởm, sân chưa sanh khởi trong người đó sẽ sanh khởi, và sân đã sanh khởi rồi sẽ lớn mạnh hơn và có tác động mạnh hơn.

“Nầy các bạn, giờ cái gì là nhân và duyên từ đó si chưa sanh khởi sanh khởi và si sanh khởi rồi trở nên mạnh hơn và có tác động mạnh hơn?” “Chú tâm không khôn ngoan,” chúng nên được kể. Người chú tâm không khôn ngoan, si chưa sanh khởi trong người đó sẽ sanh khởi, và si đã sanh khởi rồi sẽ lớn mạnh hơn và có tác động mạnh hơn.

“Nầy các bạn, giờ cái gì là nhân và duyên cho tham chưa sanh khởi không sanh khởi và để diệt trừ tham đã sanh khởi?” “Đối tượng (thiền) bất tịnh,” chúng nên được kể. Người chú tâm khôn ngoan vào đối tượng (thiền) bất tịnh, tham sẽ không sanh khởi trong người đó và tham đã sanh khởi sẽ được diệt trừ.

“Nầy các bạn, giờ cái gì là nhân và duyên để sân chưa sanh khởi không sanh khởi và để diệt trừ sân đã sanh khởi?” “Lòng từ đó là giải thoát tâm,” chúng nên được kể. Người chú tâm khôn ngoan vào lòng từ đó là giải thoát tâm, sân chưa sanh khởi sẽ không sanh khởi và sân đã sanh khởi sẽ được diệt trừ.

“Nầy các bạn, giờ cái gì là nhân và duyên cho si chưa sanh khởi không sanh khởi và để diệt trừ si đã sanh khởi?” “Chú tâm khôn ngoan,” chúng nên được kể. Người chú tâm khôn ngoan, si chưa sanh khởi trong người đó sẽ không sanh khởi và si đã sanh khởi sẽ được diệt trừ. (AN 3: 68)…”
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-hc/cnp02.htm

Cach Nhin Phap

buddhanet.net

Đức Phật đã từng dạy tham, sân và si là ba rễ xấu. Ba trạng thái nầy bao g

ồm toàn bộ phạm vi của xấu ác, dù cường độ ít hơn hoặc nhiều hơn, từ khuynh hướng nội tâm yếu đuối đến những biểu hiện thô tháo nhất trong hành động và lời nói. Trong bất cứ cách nào chúng xuất hiện, đâ…

Ba Nguyen Trong Pali các bạn thấy saṅkappa [Saŋ+kḷp] và vitakka [Vi+takka] là một hay là khác? Có bạn nào so sánh giùm được không?

Minh Quang @Ba nguyên thử so sánh 2 doạn kinh:

1.đức phật chia làm 2 phần:bất thiện tầm và thiện tầm

”… “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”. Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai…”(KINH SONG TẦM )

2.đức phật chia làm 2 phần:tà tư duy và chánh tư duy

”…các Tỷ-kheo, thế nào là tà tư duy ? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, này các Tỷ-kheo, như vậy là tà tư duy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy ? Chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại : có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y ? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy…”(Đại kinh Bốn mươi)

MQ không biết pali nhưng theo 2 đoạn kinh trên thì chúng cùng ý nghĩa

 

Ba Nguyen   Xin cảm ơn bạn MQ trích dẫn hai đoạn kinh và tham gia trả lời. Tôi thấy người đàn bà đi chợ mua cá, người đàn ông đôi lúc cũng đi chợ mua cá. Dục tầm và dục tư duy có liên hệ chung về dục, nhưng vẫn có thể khác nhau như đàn ông và đàn bà.

Hạnh Trương Có lẽ nên lấy ví dụ cụ thể, nếu không sẽ khó mà hiểu được.

Ví dụ về hành chẳng hạn, trong cuộc sống, ví dụ khi chúng ta uống một ly cafe, từ lúc khởi đầu tới kết thúc, thì HÀNH nó thể hiện ở chỗ nào ?

Ba Nguyen  Tôi thấy người ta thường nhầm nghiệp và hành.

Hạnh Trương Đoạn này được dịch cực sát🙂

http://tinyurl.com/9ruwlfv

6. (iv) “If, while he is trying to forget those thoughts and is not giving attention to them, there still arise in him evil unwholesome thoughts connected with desire, with hate, and with delus…See More

MN 20 Vitakkasaṇṭhāna Sutta – The Removal of Distracting Thoughts

www.yellowrobe.com

Bhikkhus, when a bhikkhu is pursuing the higher mind, from time to time he should give attention to five signs. What are the five?

Hạnh Trương Cảm ơn Sư Pāli Việt đã tranh thủ tìm và giới thiệu đoạn dịch này

 

Pāli Việt Biếu các thành viên không rành rẽ tiếng Anh một trích đoạn Pali với 3 lời dịch khác nhau, 2 Việt 1 Anh:

Tena bhikkhave bhikkhunā tesaṃ vitakkānaṃ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasi kātabbaṃ. Tassa tesaṃ vitakkānaṃ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasikaroto ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṃhitāpi dosūpasaṃhitāpi mohūpasaṃhitāpi, te pahīyanti te abbhatthaṃ gacchanti, tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati.

Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

… then he should give attention to stilling the thought-formation of those thoughts. When he gives attention to stilling the thought-formation of those thoughts, then any evil unwholesome thoughts connected with desire, with hate, and with delusion are abandoned in him and subside. With the abandoning of them his mind becomes steadied internally, quieted, brought to singleness, and concentrated.

Này các tỷ khưu, vị tỳ khưu ấy nên tác ý đến việc dừng lại sự tạo tác của tầm đối với các tầm ấy. Trong lúc vị ấy đang tác ý đến việc dừng lại sự tạo tác của tầm đối với các tầm ấy, thì các ác bất thiện tầm cho dầu liên kết với dục, cho dầu liên kết với sân, cho dầu liên kết với si, chúng bị dứt bỏ, chúng đi đến tiêu hoại. Do việc dứt bỏ chúng, ngay ở nội phần tâm đứng yên, ổn định, được chuyên nhất, được tập trung.

Minh Quang con thích cách dịch sau cùng sư ạ,vì cách dịch ở trên có nhiều từ hán văn,không phải ai cũng luận ra được

Hạnh Trương Đã tới lúc kết thúc đề tài này để chuyển qua bài Kinh Ví Dụ Cái Cưa🙂
Sau khi xem đoạn dịch trên thì chắc mọi sự đã tương đối rõ ràng, HT chỉ xin nêu thêm một số vấn đề để các bạn nào chưa quen đọc kinh sẽ dễ theo dõi hơn.
Trong ví dụ ở đoạn kinh này có rất nhiều câu hỏi tại sao? tại sao tôi đi nhanh, tại sao tôi đi chậm, tại sao tôi đứng…Hỏi tại sao với hướng về việc giảm mãnh lực của dòng tư duy quá mạnh đang diễn ra.

Ở đây có hai vấn đề:

1. Khi Ý bận tư duy, trả lời cho câu hỏi tại sao, thì tự nhiên các tư duy liên hệ tới việc bất thiện bị đẩy bật ra ngoài. Tất nhiên không dễ gì mà đẩy được hoàn toàn, nên cách làm là cho nó giảm từ từ. Mới chỉ thoáng nghĩ “tại sao ta lại muốn chạy ngay tới chỗ đó, gặp bằng được người đó”, thì ý nghĩ nó lại vọt vào, ” đi ngay đi….”. Lại tự trả lời “….”

2. Làm sao trả lời được cho các câu hỏi tại sao đó? Ở đây có một cái khó, đó là khi một việc xảy ra, nó có rất nhiều lý do, rất nhiều nguyên nhân. Ví dụ như có lửa thì cần có củi, có không khí, có người châm lửa… liệt kê hết cả ba không phải là liệu pháp đúng. Có lúc một duyên nào đó nổi trội hơn duyên khác, có lúc 2 duyên hầu như sẵn có, và duyên còn lại là nhân tố quyết định, có lúc duyên chính là nghiệp, không dễ cắt được . ( chuyện này sẽ nói sau ở đề tài nghiệp và hành)

Cái phao để giúp chúng ta LẦN RA MANH MỐI CHÍNH chính là thuyết DUYÊN KHỞI. Một ví dụ cụ thể của nó trong trường hợp này, cho đoạn kinh này đã được thảo luận. Đề tài về DỤC GIỚI ( dục giới, sân giới, hại giới và 3 giới đối nghịch).

Cuối cùng, đây là cách vô cùng hữu hiệu để đạt tới định tĩnh, nhất tâm mà không phải dùng các kỹ thuật gom tâm, chú tâm vào đối tượng. TẠI SAO ?, bởi vì chỉ bằng việc NÉ các bất thiện tầm, thì chúng sẽ quay lại nếu có nghiệp đủ mạnh đứng sau nó, chỉ khi nào LẦN TỚI CÁI DUYÊN KHỞI của nó, CÁI NGUYÊN NHÂN XA XÔI của nó, thì mới có cơ hội chặn nó được lâu dài, đủ lâu để tâm được tĩnh, đủ lâu để có thể tác ý phòng họ trong tương lai, đủ lâu để vào thiền.
Tóm lại, 2 bài kinh Song Tầm và An Trú Tầm cung cấp cho các hành giả một phương pháp cực kỳ thực tế, hữu ích để hành thiền. ( ai không dùng thiệt ráng chịu, hehe)

note: nhiều khi lần ra tại sao nhưng lại không dám bỏ cái chuyện đó, lại là chuyện khác nữa🙂, chúng ta khổ vì cái đó, theo Phật nhưng Phật nói lại né, không làm, hehe.

Ba Nguyen

Tôi like bản dịch của Sư Pāli Việt mặc dù tôi có ý kiến riêng về saṇṭhāna trong vitakkasaṅkhārasaṇṭhāna. Ý kiến của tôi không giống các bản dịch tiếng Anh và tiếng Việt ở chữ saṇṭhāna này. Tôi thấy saṇṭhāna trong kinh này không có nghĩa là resting place như nghĩa thứ 3 trong từ điển, stilling trong bản dịch tiếng Anh, tiếp tục tiến xa là sự đình chỉ, ngừng lại trong bản dịch tiếng Việt. Tôi thấy lối hiểu này lần lần xa dần nghĩa gốc của saṇṭhāna, là kết hợp từ saŋ và sthā. Bạn nào thích tìm hiểu hãy thử tìm nghĩa của ṭhāna (một trong bốn hành vi: đi, đứng, ngồi, nằm).
Khi thực hành, tôi không thấy người đang bị tầm đeo đuổi có thể thấy sự dừng lại của các hành của nó. Tôi thấy người này có thể thấy chỗ ở của tầm và hành của tầm (như Ngài MC), hoặc chỗ ở của các hành của tầm. Tuy nhiên, đây chỉ là ý kiến riêng.
Lối hiểu saṇṭhāna của bạn xác định lối thực hành của bạn.

Minh Quang quan điểm là như vậy,nhưng ba nguyên phải mạnh dạn dịch đi vì đây là diễn đàn trao đổi kiến thức mà

Ba Nguyen @Minh Quang: Khi tôi comment tôi đã dịch rồi.
Tena bhikkhave bhikkhunā tesaṃ vitakkānaṃ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasi kātabbaṃ.
Này chư tỷ kheo, vị tỷ kheo này phải suy nghĩ về vị trí chỗ ở của tầm và hành của tầm, đối với các tầm ấy.
Hoặc: Này chư tỷ kheo, vị tỷ kheo này phải suy nghĩ về chỗ ở của hành của tầm, đối với các tầm ấy.

Hoa Nguyen “thấy chỗ ở của tầm và hành của tầm (như Ngài MC)” : cách dịch này rất có lý .

Minh Quang mq thì thích từ tạo tác hơn từ hành

Ba Nguyen Hành là thuật ngữ thông dụng của saṅkhāra. Người đọc có thể thắc mắc, sau đó phải tự tìm hiểu thêm từ các tư liệu.

Hoa Nguyen   Dịch là “an trú” rất khó hiểu ở chỗ này (do từ “an”). Nhưng nếu hiểu là “chỗ ở”, nguồn gốc”, “nơi xuất xứ” (của tầm) thì nghĩa đoạn kinh đó sáng tỏ hơn.

Pāli Việt   Góp ý về việc tìm hiểu nghĩa của một từ ở Tam Tạng:
Không thể xem Dictionary là chìa khóa để giải quyết vấn đề (Chưa nói đến có những từ ở từ điển thiếu, thậm chí cho nghĩa không chính xác). Chìa khóa là ở Chú Giải và Sớ Giải.
Aṭṭhakathā viết:
Tattha vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ manasikātabbanti saṅkharotīti saṅkhāro, paccayo, kāraṇaṃ mūlanti attho. Santiṭṭhati etthāti saṇṭhānaṃ, vitakkasaṅkhārassa saṇṭhānaṃ vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ, taṃ manasikātabbanti.
Tīkā viết:
Vitakkamūlabhedaṃ pabbanti vitakkamūlassa tammūlassa ca bhedavibhāvanaṃ vitakkamūlabhedaṃ pabbaṃ. Vitakkaṃ saṅkharotīti vitakkasaṅkhāro, vitakkapaccayo subhanimittādīsupi subhādinā ayonisomanasikāro. So pana vitakkasaṅkhāro saṃtiṭṭhati etthāti vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṃ, asubhe subhantiādi saññāvipallāso. Tenāha ‘‘vitakkānaṃ mūlañca mūlamūlañca manasi kātabba’’nti.

Thuận Pháp Dhammiko   Sư Pāli Việt dịch 2 đoạn đó cho bà con luôn Sư🙂

Pāli Việt   Thấy là muốn xỉu luôn rồi. Từ chỗ đọc, đến chỗ hiểu được là 1 khoảng thời gian khá dài, giờ mà viết ra tiếng Việt thì mất mấy lần khoảng thời gian trên. Và dịch ra để làm gì nhỉ? Ngày xưa, lúc còn học tiếng Anh, Bà Giáo hỏi: You đọc sách giáo khoa, hay là vừa đọc vừa dịch? – Tôi có thể đọc hầu hết, chỉ có những đoạn khó thì phải dịch. – OK, you can go to university. Giờ cũng vậy Thuận Pháp Dhammiko à. Nhiều lúc Sư cũng chán lắm rồi, 10 năm nay toàn nghe thiên hạ nói mà không thấy ai chịu ngồi xuống làm việc dịch thuật Pali cho chúng sanh được nhờ.

Thuận Pháp Dhammiko Cái đó Sư than với qúy Sư thôi, còn cư sỹ vừa làm vừa học bập bẹ thêm vài chữ “cổ ngữ” thì người khác cho là dở hơi. Nên chỉ “có thể đọc hầu hết, chỉ có những đoạn khó thì phải dịch mò”!

Pāli Việt <Nên chỉ “có thể đọc hầu hết, chỉ có những đoạn khó thì phải dịch mò”!> Thuận Pháp Dhammiko đang chơi chữ kìa, Bà Con Cô Bác ơi!!!

Ba Nguyen @Pāli Việt: Những chia sẻ của Sư tôi đây đã có biết. Tôi không thấy lạ về điều đó. Tôi còn thấy không chỉ như vậy, mà còn phải xét đến tính thực tiễn, tính khả thi, đối với trạng thái tâm của người thực hiện, thì mới xét ra nghĩa nào thích hợp. Còn việc dự đoán nghĩa hay tạo ra nghĩa mới và nói rằng trong từ điển thiếu nghĩa đó, thì tôi thấy rất là mạo hiểm.

Thuận Pháp Dhammiko Con có nghe 1 vị Sư nói rằng Chú giải và Phụ chú giải Pāli là cuốn từ điển Pāli đầy đủ nhất, và cả 1 đời người cũng không nghiên cứu hết!

Pāli Việt Từ điển do đâu mà có (nói về trường hợp Pali)
Ba Nguyen xem kỹ từ “dừng lại” của Sư là do chỗ nào trong Aṭṭhakathā. Vậy có thể gọi là mạo hiểu không nhỉ? Thật sự trao đổi chuyên môn với người không cùng ngành nghề rất mệt mỏi.

Ba Nguyen @Pāli Việt:

Tôi đã comment cho Sư: những chia sẻ của Sư là không lạ. Chuyện sử dụng chú giải, sớ giải là chuyện rất bình thường. Không cần đề cao chuyện này quá. Mà khi đọc chú giải, xin hỏi Sư có cần vốn từ ngữ Pali không? Nếu hiểu sai từ ngữ Pali, xin hỏi có dẫn đến hiểu sai nội dung của chú giải không?!

Câu hỏi từ điển Pali do đâu mà có, xin thưa, từ rất nhiều nguồn khác nhau mà có, không chỉ từ chú giải. Cho nên, tôi sử dụng tất cả các nguồn có thể, chứ tôi không dại chỉ sử dụng mỗi chú giải. (Nguồn gốc của từng chú giải là một vấn đề khác, cần phải coi kỹ lại.)

Chuyện dùng chú giải tham khảo thêm là chuyện rất bình thường, tôi thấy không có gì đáng để bàn. Xin chấm dứt thảo luận ở đây.

Hạnh Trương Đọc kỹ và so sánh mấy cmt của Ba Nguyen mới thấy nhiều cái thú vị🙂. Suy luận đã nguy, suy luận + vội + đánh giá còn nguy hơn.
Hơn 200 cmt cho một bài kinh, chắc các đạo hữu quan tâm có thể đọc và rút ra nhiều điều ở đây, xin đề nghị PLCD tạm ngưng trao đổi về đề tài này một ít hôm.

Pāli Việt Có thêm người nghiên cứu và giảng giải Pali thì càng tốt. Từ trước đến nay đã có nhiều vị đến và giúp cho việc giảng giải các vấn đề về Pali ở Group này. Tuy nhiên việc “ăn cơm nhà vác tù và hảng tổng” ngó vậy mà khó, vì ai cũng bận rộn với công việc của mình. Thôi thì được nhiêu hay nhiêu.
Bài Kinh này rất có ích trong lãnh vực pháp hành. Giờ xin mời Bà Con Cô Bác bước sang bài Kinh MN 021 – VÍ DỤ CÁI CƯA.

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Tôi thấy đa số các đoạn kinh quan trọng thường có nhiều lối dịch và lối hiểu. Tôi thấy chỉ thảo luận qua câu chữ không ăn thua. Thường thì cái biết của người này người kia cũng biết. Tính hợp lý khác nhau giữa họ mà thôi.
Kinh Tứ Niệm Xứ, Kinh Quán Niệm Hơi Thở là những kinh điển hình lối dịch giống nhau, nhưng lối thực hành vẫn khác nhau. Bạn nghĩ phải làm sao.
Cho nên, tôi không thuyết phục ai theo quan điểm của tôi khi tôi viết về quan điểm riêng của mình. Tính thực tiễn, thực hành và chứng nghiệm mới là bằng chứng thuyết phục chứ không phải câu chữ ở đây.
Còn bài kinh này, 200 comments trao đổi chắc đã đủ.

Hạnh Trương Cũng không hẳn là tính thực tiễn, thực hành hay chứng nghiệm mới là bằng chứng thuyết phục, vì mỗi người mỗi khác. Bạn có thể khỏi bệnh nhức đầu chỉ cần uống một cốc trà đường, bạn cũng khỏi, nhưng bạn không thể lấy việc khỏi đó làm chứng cớ để tuyên t…See More

Ba Nguyen @Hạnh Trương: Bạn HT hình như đánh giá thấp hai chữ “chứng nghiệm” trong comment của tôi, nên bạn đã nghĩ đến cốc trà đường. Còn Kinh Tứ Niệm Xứ, Kinh Quán Niệm Hơi Thở điển hình cho lối dịch giống nhau nhưng lối thực hành vẫn khác nhau, có nghĩa “dịch thuật chưa phải là vấn đề mấu chốt cuối cùng”. Bạn HT không hiểu comment của tôi nên nói qua đề tài khác. Thành thật xin lỗi cho sự hiểu lầm của bạn.

Hạnh Trương Ba Nguyen Chữ nghĩa mệt quá đúng không, mà rời chữ nghĩa ra còn mệt hơn, thôi, quay qua bàn tiếp vụ nghiệp và hành đi, lợi lạc vô cùng, hihi.

Huỳnh Phúc Kiến Các bác ơi, vậy có phải là khi ta thiền định mà các tâm sở bất thiện khởi lên thì ta nên cố gắng tác ý đến những tâm sở thiện thì những tâm sở bât thiện sẽ từ từ bị đẩy lùi có phải không ạ? Ví như con đây khi niệm Ân Đức Phật mà HOÀI NGHI có khởi lên thì lúc đó con nên biết nếu mìn tác ý đến tâm Hoài Nghi nay thì mình sẽ khổ và con nên cố gắng tác ý đến những Ân Đức cao quý của Phật một cách liên tục chăng? Cũng giống như đức Phật đã ví trong kinh là một người thợ mộc dùng một cái nêm, đán bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác, có phải trường hợp con đang gặp thì bài kinh này cũng là một phương pháp để đối trị tâm HOÀI NGHI và làm cho tâm này dần yếu đi?

Huỳnh Phúc Kiến Có phải con nói điều này là đúng không ạh?😐

Thuận Pháp Dhammiko @Huỳnh Phúc Kiến, Vì TP có biết về cách của đức Phật trước khi thành Đạo là Ngài dùng các pp như bài kinh Song tầm và An trú Tầm này.
Vì chúng ta biết Hoài nghi hay tất cả các pháp bất thiện nào nếu chúng sinh lên thì sẽ cho quả Khổ. Nên khi chúng ta ghi nhận được chúng thì để yên chúng vậy, không hùa theo chúng, lánh xa chúng, tâm cố gắng giữ trạng thái xả. Cho đến khi chúng ta không còn làm bất cứ 1 điều bất thiện nào, chỉ chuyên làm các điều thiện, thì con đường thoát khổ mới rộng mở.

Huỳnh Phúc Kiến Nhưng khi nó khở lên thì em ko nắm bắt được nó, em có cảm giác như mình bị nó cuốn đi

Thuận Pháp Dhammiko Thì cố gắng định tâm lại về 1 đề mục của mình ( như tùy niệm Phật, hơi thở, kasina). Nếu vẫn bị cuốn tức phóng dật thì khở lên sự hỷ lạc của pháp hành này khi tư duy chính pháp hành này sẽ dẫn ta đắc thiền, hay đắc Đạo Quả, giải thoát mọi phiền não khổ đau, nếu không tìm cách cho hỷ lạc khởi lên thì chi thiền bị thiếu.

Huỳnh Phúc Kiến Nhưng mà giữ trạng thái tâm xả là sao anh em ko hiểu?

Thuận Pháp Dhammiko Giữ trạng thái xả giống như ngồi trên lan can nhà mà ngắm người đi đường vậy đó, thấy người lạ hay quen chạy vụt ngang qua thì kệ họ, vui buồn làm gì! Nên thấy hoài nghi nơi đức Phật hay thấy tín tâm nơi đức Phật cũng như nhau, sân hận hay dính mắc cả 2 làm gì.

Huỳnh Phúc Kiến Khi hoài nghi nó khởi lên mà em cố kiềm nén thì cổ họng em nó nghẹn và rát như có cái gì mắc ở cổ họng ấy, thở thì ra hơi nóng

Thuận Pháp Dhammiko Xả nó đi, hoài nghi nó tìm cách ngăn cản không cho HPK niệm ân đức Phật đó. Cứ niệm và nhớ nghĩ liên tục về các ân đức Phật thì hoài nghi sẽ không xen vô.

Huỳnh Phúc Kiến Để em thử xem

Bây giờ em chỉ chưa hiểu là phải thận trọng quán sát tâm mình như thế nào? Nếu như khi hoài nghi nó nổi lên mà tâm mình cố gắng để ko bị cuốn theo nó thì lúc đó mình nên Nương và Trụ tâm ở đâu?



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s