KINH MN 021 – KINH VÍ DỤ CÁI CƯA (KAKACŪPAMASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 021 – Kinh Ví Dụ Cái Cưa ((Kakacūpama sutta)

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung21.htm 

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Acharya Buddharakkhita

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.021x.budd.html

3. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro (excerft)

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.021x.than.html

4. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/021.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 021

1. Trích giảng Kinh Ví Dụ Cái Cưa – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-021.htm 

2. Toát yếu Kinh Ví Dụ Cái Cưa – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-03.htm

 

III. THẢO LUẬN

Pāli Việt

Đây là link bản dịch của Bhikkhu Ñāṇamoli và Bhikkhu Bodhi
http://www.yellowrobe.com/component/content/article/120-majjhima-nikaya/353-mn-21-kakacpama-sutta-the-simile-of-the-saw.html

MN 21 Kakacūpama Sutta – The Simile of the Saw

www.yellowrobe.com

Now on that occasion the venerable Moliya Phagguna was associating overmuch with…See More

Phạm Doãn
NỘI DUNG KINH VÍ DỤ CÁI CƯA
1. Trong sinh hoạt thường nhật của Tăng-già, thỉnh thoảng xảy ra vài vụ cãi vã, bất hòa do nhiều lý do, điển hình là trường hợp sai phạm của Tôn giả Phaggunamoliya được nêu ra trong kinh số 21 nầy: Tôn giả Phaggunamoliya thiết lập mối quan hệ với các Tỷ-kheo-ni vượt quá mức cho phép, trở nên rất phẫn nộ trước những ai chỉ trích các Tỷ-kheo-ni ấy.
Để xây dựng một nếp sống tập thể thống lý, hòa điệu, đức Thế Tôn đã dạy:
– “sáu phép hoà kính”, kiết tập ở kinh Kosambiya số 48, trên cơ sở thực hành lòng Từ Vô lượng để dập tắt dục, sân, các cấu uế của tâm.
– Kinh số 21 thì nhắc nhở Tăng, Ni thường khởi niệm:”Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!”
2. Trong xử sự hằng ngày Tăng, Ni cần phải giác tỉnh chế ngự khẩu nghiệp, xử dụng năm thứ ngôn ngữ đúng pháp:
– nói đúng thời;
– nói lời chân thật;
– nói lời nhu nhuyến;
– nói lời có ích,
– và nói với tâm từ bi, ngay cả lúc giáp mặt với những lời nói xúc phạm, cử chỉ thô ác đối với mình và đối với các đồng phạm hạnh; cả khi chứng kiến một người dùng cái cưa hai lưỡi đang cưa tay, chân của đồng phạm hạnh, tâm cũng không được sân hận, biến nhiễm.
(Trích giảng Trung Bộ – HT. Thích Chơn Thiện)

Hai Long

Trong bài kinh này có 1 chi tiết về vấn đề ăn uống, con nghĩ đây là vấn đề quan trọng: << — Này các Tỷ-kheo, một thời các Tỷ-kheo của Ta có tâm rất thuần thục hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Ta bảo các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, Ta theo hạnh nhất tọa thực. Chư Tỷ-kheo, sống theo hạnh nhất tọa thực, Ta cảm thấy không bệnh tật, không ốm đau, nhẹ nhàng, khang kiện và sảng khoái. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống theo hạnh nhất tọa thực. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi theo hạnh nhất tọa thực thời các Ngươi sẽ cảm thấy không bệnh tật, không ốm đau, nhẹ nhàng, khang kiện và sảng khoái. Chư Tỷ-kheo, Ta không cần phải giảng dạy gì cho các Tỷ-kheo ấy; chư Tỷ-kheo, Ta chỉ cần khơi dậy ức niệm nơi các Tỷ-kheo ấy.>>

Hạnh Trương Xin trích một số đoạn từ Thanh Tịnh Đạo có liên quan tới đoạn Nhất Tọa Thực để các đạo hữu tham khảo:
2. Ðức Thế Tôn đã cho phép thực hành 13 khổ hạnh cho những thiện nàm tử đã từ bỏ những chuyện xác thịt và không kể thân mạng, mong muốn tu tập phù hợp với cứu cánh giải thoát. Mười ba khổ hạnh là:

1. Hạnh phấn tảo y
2. Hạnh ba y
3. Hạnh khất thực
4. Hạnh khất thực từng nhà
5. Hạnh nhất toạ thực
6. Hạnh ăn bằng bát
7. Hạnh không để dành đồ ăn (không nhận đồ ăn sau khi đã ăn xong)
8. Hạnh ở rừng
9. Hạnh ở gốc cây
10. Hạnh ở giữa trời
11. Hạnh ở nghĩa địa
12. Hạnh nghỉ chỗ nào cũng xong
13. Hạnh ngồi (không nằm)

12. 2. Tất cả 13 khổ hạnh trên điều có đặc tính là ý nguyện thọ trì. Luận nói: “Người thọ giới là một con người. Cái nhờ đó nó thọ giới được là tâm và tâm sở. Chính ý chí trong hành vi thọ giới gọi là hanh đầu đà. Tất cả 13 hạnh đều có công dụng là loại trừ tham dục và hiện tướng của chúng là vô tham. Nguyên nhân gần của chúng là những đức thiểu dục… ”

13. 3. Trong thời Phật tại thế, tất cả khổ hạnh đều phải được thọ trì trước mặt đức Thế Tôn. Sau khi Ngài nhập Niết bàn, phải thọ trước một vị đại đệ tử của Ngài. Khi không có vị này, phải thọ trước một người đã đoạn tận lậu hoặc, một bậc Bất hoàn, Nhất lai hay Nhập lưu, hoặc một người thông hiểu 3 tạng hoặc 2 tạng hoặc 1 tạng hoặc một người thông hiểu 1 trong 5 bộ Nikàya, 1 luận sư Nikàya. Không có 1 người như vậy thì phải thọ trước 1 vị đang hành 1 khổ hạnh. Nếu không có một vị như vậy thì nên quét dọn sạch sẽ điện thờ rồi ngồi mà thọ giới một cách kính cẩn như đang ở trước mặt đấng Ðạo sư. Như thế, có thể thọ giới đầu đà một mình.

35. v. Khổ hạnh nhất toạ thực được thọ trì bằng cách lập nguyện theo hạnh nhất toạ thực.

Khi người theo khổ hạnh này ngồi xuống trong phòng ăn, thì phải ngồi đúng chỗ dành cho mình. Nếu giáo thọ sư hay y chỉ sư của vị ấy đến trong lúc bữa ăn chưa xong, vị ấy được phép đứng lên để chào. Nhưng Trưởng lão Tam tạng Cìla-abhaya nói: “Vị ấy nên ngồi mà ăn cho xong, hoặc nếu đứng lên thì phải bỏ đồ ăn còn lại”. (để khỏi vi phạm khổ hạnh)

36 Khổ hạnh này cũng có ba bực. Người theo cấp một (nghiêm nhặt) không được ăn nhiều hơn những gì mình đã lấy một lần vào bát, Nếu có người nang thêm bơ v.v.. Có thể dùng làm thuốc chữa bệnh, chứ không để ăn. Người theo cấp hai có thể nhận thêm, nếu trong bát chưa hết, vì vị này là người” ngừng ăn khi đồ ăn trong bát đã sạch”. Người theo cấp ba có thể ăn bao lâu chưa rời chỗ, vị này là người” ngừng ăn theo nước” vì ăn cho đến khi lấy nước để tráng bát hoặc ngừng ăn theo chỗ ngồi, vì vị ấy ăn cho đến khi nào đứng dậy. Khổ hạnh của cả ba hạng này bị phá khi họ ăn hơn một lần. Ðó là sự phá giới trong hạnh nhất toạ thực.

37. Khổ hạnh ấy có những lợi lạc này: vị ấy ít bịnh, ít não, thân thể nhẹ nhàng, có sức khoẻ, có một đời sống hạnh phúc, không vi phạm những học giới về ăn, loại trừ lòng tham vị ngon và sống thiểu dục tri túc.

38.
Không có bịnh do ăn
Tỳ kheo nhất toạ thực
Khỏi hy vọng vị ngon
Bỏ phế cả đạo nghiệp
Vị ấy được hạnh phúc
Tâm tư thật trong sáng
Thanh tịnh và viễn ly
Hưởng hiện tại lạc trú.

89. Và tất cả khổ hạnh đều thuộc một loại, là tư tâm sở. Vì chỉ có một khổ hạnh, đó là cái ý chí, chí nguyện thọ trì. Sớ giải nói: “Chính tư tâm sở gọi là khổ hạnh”.

92. Từ khổ hạnh ba y, 12 khổ hạnh kia dành cho sa di, 7 khổ hạnh (8 khổ hạnh dành cho sa-di ni và tịnh nữ). Hai khổ hạnh hợp nhất toạ thực và ăn bằng bát là đặc biệt thích hợp cho nam nữ cư sĩ. Với cách ấy, có hai loại khổ hạnh.

Hoa Nguyen “Hai khổ hạnh hợp nhất toạ thực và ăn bằng bát là đặc biệt thích hợp cho nam nữ cư sĩ.” Vị cư sĩ này phải ăn bằng tô (chớ không bằng bát) để khỏi đứng dây lấy thêm thức ăn, hay bên cạnh có người phục dịch thức ăn (như vây cũng không phải khổ hạnh)?

Pāli Việt Chọn nghĩa của từ ATIVELAṂ để đoạn văn này khỏi gây hiểu lầm:
– bhikkhunīhi saddhiṃ ativelaṃ saṃsaṭṭho viharati
– sống liên hệ với các Tỷ-kheo ni một cách quá độ
– associating so much with bhikkhunis

Minh Quang Phật dạy khi dùng ngôn ngữ nói với các người khác:

”…đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm…”

có lẽ,cách nói với”từ tâm”là khó thực hiện hơn cả

Pāli Việt

THẮC MẮC: CÁC ĐỘNG TỪ bhavissati, nicchāressāmi, viharissāmi không ở thể pañcamī hay sattamī, vậy nên dịch thế nào?
Tatrāpi te Phagguna evaṃ sikkhitabbaṃ “Na ceva me cittaṃ vipariṇataṃ bhavissati, na ca pāpikaṃ vācaṃ nicchāressāmi, hitānu…See More

THÊM 1 TỪ ỨC NIỆM Ở ĐÂY:
Na me bhikkhave tesu bhikkhūsu anusāsanī karaṇīyā ahosi, satuppādakaraṇīyameva me bhikkhave tesu bhikkhūsu ahosi.
Chư Tỷ-kheo, Ta không cần phải giảng dạy gì cho các Tỷ-kheo ấy; chư Tỷ-kheo, Ta chỉ cần khơi dậy ức niệm nơi các Tỷ-kheo ấy.

CÂU NÀY CHƯA RÕ Ý:
232. Ubhatodaṇdakena cepi bhikkhave kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṃ, tatrāpi yo mano padūseyya, na me so tena sāsanakaro.
Chư Tỷ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta.

Pāli Việt Các ví dụ 228, 229, 230, 231 được đức Phật nêu ra để làm sáng tỏ điều gì mà Ngài vừa mới đề cập? Ni Sư Trí Hải giải thích là “tâm câu hữu từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.” Chưa hiểu thấu đáo các ví dụ này, nhưng bản thân chưa được thuyết phục với lời giải thích trên. Có vị nào có ý kiến gì không?

Hạnh Trương Theo con, đấy không đơn thuần là ví dụ , mà là đề tài thiền quán để đối trị khi mình bị gặp phải SÂN HẬN do 5 loại lời nói đó.

Phải nhắc lại, đây là bài kinh đặc biệt nói riêng về sân tâm, thể hiện của sân tâm, cách kiểm tra sân tâm còn hay không, cách đối trị sân tâm, thiền quán về sân tâm.

Hiệu quả của nó là ……quá xịn, hehe

Ba Nguyen “Chư Tỷ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta.”
“ubhatodaṇḍakena cepi, bhikkhave, kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṃ, tatrāpi yo mano padūseyya, na me so tena sāsanakaro.”

Pāli Việt Phần lớn các giới ở Tạng Luật đều sử dụng động từ ở thể giả định (potential) và nên được dịch với từ “nên (làm như vầy)” thay vì “phải (làm như vầy)”, “không nên” thay vì “không được”, nhưng lời khuyên ở bài Kinh này được dùng ở thể khẳng định (affirmative) “sẽ”, “sẽ không”. Bản dịch tiếng Anh của Ven. Bhikkhu Ñāṇamoli và Ven. Bhikkhu Bodhi diễn tả các thể động từ rất sát với nguyên tác.

Hạnh Trương Các Sư xem hộ là ở đoạn này ý kinh là KHI NÓI VỚI CÁC NGƯỜI KHÁC, hay là KHI NGƯỜI KHÁC NÓI ( với mình ) ạ.

227. Pañcime bhikkhave vacanapathā, yehi vo pare vadamānā vadeyyuṃ–
kālena vā akālena vā, bhūtena vā abhūtena vā, saṇhena vā pharusena vā, atthasaṃhitena vā anatthasaṃhitena vā, mettacittā vā dosantarā vā. Kālena vā bhikkhave pare vadamānā vadeyyuṃ akālena vā, bhūtena vā bhikkhave pare vadamānā vadeyyuṃ abhūtena vā, saṇhena vā bhikkhave pare vadamānā vadeyyuṃ pharusena vā, atthasaṃhitena vā bhikkhave pare vadamānā vadeyyuṃ anatthasaṃhitena vā, mettacittā vā bhikkhave pare vadamānā vadeyyuṃ dosantarā vā. Tatrāpi vo bhikkhave evaṃ sikkhitabbaṃ “Na ceva no cittaṃ vipariṇataṃ bhavissati, na ca pāpikaṃ vācaṃ nicchāressāma, hitānukampī ca viharissāma mettacittā na dosantarā. Tañca puggalaṃ mettāsahagatena cetasā pharitvā viharissāma, tadārammaṇaṃ ca sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cittena vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena (Abyāpajjhena – Sī, Syā, I; abyāpajjena – Ka; aṅguttaratikanipātaṭīkā oloketabbā) pharitvā viharissāmā”ti. Evaṃ hi vo bhikkhave sikkhitabbaṃ.

Chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập.

Pāli Việt

Thiện tại, thiện tai! “Nhất tiễn hạ song điêu.” Hạnh Trương lúc này nội công thâm hậu thiệt. Giải quyết câu hỏi này đồng thời cũng giải tỏa được câu hỏi về 4 ví dụ 228, 229, 230, 231 nêu ở trên.

Hoa Nguyen Sư Pali Việt nói “chữ” vậy thì cũng giỏi cả chữ Hán.

Hoa Nguyen “Chánh ngữ” trong đoạn kinh anh Hanh Trương dẫn đáng nên đọc lỹ và áp dụng: nói đúng thời, chân thật, có lợi ích (cho người và cho mình), nhu nhuyễn, nói với từ tâm. Ghi với lại để tôi có thể nhớ.

Pāli Việt Chữ Hán chỉ biết chút ít thôi Anh Hoa Nguyen ạ. Lúc nhỏ được học nhiều thứ lắm, nhưng chỉ học chút chút. Cho nên, có thể nói là biết nhiều thứ, nhưng cũng giống như không biết gì hết, vì không có cái nào biết tới nơi tới chốn.

Hạnh Trương Cái chiêu đó em hay áp dụng khi biết trước là mình sẽ gặp một tình huống vô cùng khó chịu mà không tránh được.

Sau khi xả thiền thì tác ý câu đó,

Khi gặp đối tượng , lập tức tác ý câu đó và THỰC HÀNH liền phần thứ nhì của nó “bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, .. biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân”

Làm như vậy thì nói chung là có khó chịu mấy cũng vui vẻ được

Ở bài kinh khác, đức Phật còn đưa một cái ví dụ về cách hướng tâm từ như khi thổi tù và, dù mình hướng tù và về một phía, nhưng âm thanh của nó thì vẫn vang khắp không gian ( không nhớ bài kinh nào ).

Còn trong tạng luật có đoạn đức Phật phóng từ tâm “mời” một thanh niên Bà La Môn tới gặp Phật

Phan Minh Nguyet “Chư Tỷ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta”.
Con cũng thấy câu này chưa rõ ý, sư Pāli Việt dịch lại thế nào ạ? Chữ “dầu vậy” là dầu vậy cái gì ạ? Với cả trong tiếng Việt nếu viết “nếu” thì thường viết “nếu… thì”, hoặc bỏ chữ “nếu”, chỉ dùng chữ “do vậy” thôi

Hạnh Trương Bỏ lời lấy ý thôi

Câu đó mình hiểu đơn giản là ” nếu bị cưa mà khởi ý nhiễm loạn thì còn chưa phải là người thực hành Phật Pháp” ( nói gì tới bị nói ba câu trái ý đã tức, hihi.

Pāli Việt Thiện tai, thiện tai, Hạnh Trương ghê thật:
Ba liên từ của Hạnh Truong sử dụng: NẾU … MÀ … CHƯA diễn đúng ý của câu Pali: CEPI … TATRĀPI … NA.
” NẾU bị cưa MÀ khởi ý nhiễm loạn thì còn CHƯA phải là người thực hành Phật Pháp”
“ubhatodaṇḍakena CEPI, bhikkhave, kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṃ, TATRĀPI yo mano padūseyya, NA me so tena sāsanakaro.”

Hạnh Trương Hehe, Sư cứ dụ con đi, thể nào con cũng biết Pali

Phan Minh Nguyet đọc lại cả bài kinh thì hiểu câu cái cưa đấy rồi. Cái này quá khó:-p, bị cưa mà ko khởi ý nhiễm loạn chắc phải thành Thánh mất rồi

“Monks, there are these five aspects of speech by which others may address you: timely or untimely, true or false, affectionate or harsh, beneficial or unbeneficial, with a mind of good-will or with inner hate…..”
tiếng Anh viết rõ thế này, Pali chắc rất khó nên HT Minh Châu mới dịch ngược lại

Giác Minh Tường Trung Bộ Kinh – HT. Minh Châu dịch(bộ mới gồm 2 cuốn, xuất bản 2012) hình như in bị thiếu 1 đoạn:
Evameva kho bhikkhave idhekacco bhikkhu tāvadeva soratasorato hoti, nivātanivāto hoti, upasantūpasanto hoti, yāva na amanāpā vacanapathā phusanti. Yato ca bhikkhave bhikkhuṃ amanāpā vacanapathā phusanti, atha bhikkhu soratoti veditabbo, nivātoti veditabbo, upasantoti veditabbo.

Cũng vậy chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa.

Bản dịch trước đây của HT:
Cũng vậy chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm mà vị ấy vẫn hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa.

Trường hợp trên là thế nào ạ?

Hoa Nguyen HT Minh Châu dịch “nói nhu nhuyễn” , nhưng có lẽ dùng từ cũ vẫn hay: “ái ngữ” (không thô lỗ, affectionate or harsh). Nhiều người cho mình nói đúng vói chánh đạo (Phật pháp) là đủ, nhưng nếu thiếu ái ngữ thì vẫn thiếu sót hay chưa đúng tinh thần đạo Phật.

Đơn Sa “nhu nhuyến” chứ không phải “nhu nhuyễn” (dấu sắc, không phải dấu ngã), ĐS thì nghĩ “nói nhu nhuyến” hay hơn “ái ngữ”, (có chữ “nhu” lại thêm chữ “nhuyến”)

Hoa Nguyen Từ mới “nhu nhuyến” được hiểu nghĩa như thế nào ?

Hoa Nguyen Theo tôi hiểu “nhuyến” hay nhuyễn” khác là do cách phát âm địa phương của người Việt về một từ Hán (người Huế hay miền Trung đọc là nhuyến). “Ái ngữ” diễn tả được ý “affectionate” trong tiếng Anh, hơn “nhu nhuyến” (nếu với nghĩa mềm mại, dịu dàng).

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s