KINH MN 022 – KINH VÍ DỤ CON RẮN (ALAGADDŪPAMASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 022 – Kinh Ví dụ con rắn (Alagaddūpama sutta)

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung22.htm

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Nanamoli and Bhikkhu Bodhi, 1995 

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung22.htm

3. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.022.than.html 

4. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/022.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 022

1. Trích giảng Kinh Ví Dụ Con Rắn – HT. Thích Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-022.htm 

2. Trích giảng Kinh Ví Dụ Con Rắn – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-022b.htm

3. Toát yếu Kinh Ví Dụ Con Rắn – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-03.htm

 

III. THẢO LUẬN

Pāli Việt Khâm phục cái tài “cầm cương nẩy mực” của Bs. Phạm Doãn thiệt. Đúng ngày giờ là ra lệnh khởi hành. Bấm LIKE một cái.
(Có nơi viết là “cầm cân nảy mực” không biết câu nào đúng?).

Phạm Doãn GIẢI THÍCH TỪ NGỮ theo HT. Thích Chơn Thiện:

– Dục như khúc xương: Như khúc xương chỉ để gặm nhắm, không nuôi sống được, thế mà các con chó lại tranh giành, cấu xé nhau…; cũng thế, lòng dục đối với con người…
– Dục như miếng thịt: Ví như con diều hâu, hay con chim kên có được một miếng thịt rồi bay lên không; các con chim diều hâu khác, chim kên khác đuổi theo, giành giựt, xé nát miếng thịt ấy. Nếu con diều hâu, con chim ưng không vứt bỏ ngay miếng thịt, nó có thể đi đến chết, hay khổ gần như chết.
– Dục như bó đuốc cỏ khô: Như người cầm bó đuốc cỏ khô cháy rực đi ngược gió, lửa sẽ táp vào người; cũng thế, nắm giữ lòng dục thì sẽ tự hại.
– Dục như hố than hừng: Như người bị ghẻ lở, tìm đến hố than hừng trên miệng hố, để có cảm giác dễ chịu, nhưng hố than hừng rất dễ đem đến đại nạn vong thân cho người ấy. Cũng thế, dục vọng đối với con người.
– Dục như cơn mộng: Mộng thì không thực, chỉ để lại cho con người sự thất vọng, hụt hẫng khi tỉnh giấc. (“Giật mình tỉnh giấc thấy mình tay không”). Cũng thế, dục vọng đối với người tu.
– Dục như trái cây: Ví như ở gần làng có một xóm rừng có một cây đầy trái chín, nhưng không có trái nào rơi xuống đất. Một người đi đến và leo lên cây ăn thỏa thích. Một người khác đi đến với chiếc búa trên tay, không biết leo cây bèn chặt cây tận gốc. Nếu người kia không nhanh leo xuống cây, thì sẽ bị gãy tay, chân, sẽ bị chết hay khổ gần như chết.
– Dục như vật mượn của người: Vật mượn thì không thể sở hữu. Chỉ nắm giữ tạm thời vật mượn, nó không thuộc của mình. Cũng thế, lòng dục và đối tượng dục đều không là mình, không phải là của mình.
– Dục như lò thịt: Lò thịt là nơi lần lượt cắt đứt mạng sống của các con thú đem đến. Cũng thế, dục vọng sẽ thiêu cháy, giết chết người nắm giữ nó, đến với nó.
– Dục như đầu rắn: Như rắn độc, phải đánh chết dập cái đầu, nếu không thì nó sẽ quay trở lại cắn chết người bắt nó. Cũng thế, trừ dục phải trừ tận gốc, nhổ sạch “dục tùy miên”, nếu không thì nó sẽ khởi lên đem đến phiền não cho người tu.

Phạm Doãn

Bài kinh “Ví dụ con rắn” có bối cảnh là tỳ khưu Arittha không tin lời Phật dạy, liền sau đó Đức Phật đã khiển trách và khẳng định lại giáo thuyết của ngài. Khi khẳng định chánh pháp, Đức Phật đã đề cập tới hai vấn đề trọng yếu của Đạo Phật:
1. Dục (kāmā)
2. Ngã (attā)
– Đức Phật phủ nhận quan điểm cho rằng Dục không cản trở con đường giải thoát. Tức xác định Dục sẽ làm cản trở con đường giải thoát
– Đức Phật phủ nhận sự hiện hữu của “Ngã”, đồng thời cũng phủ nhận các luận thuyết cho rằng con người có “Ngã”.
Trong thực tế, Dục và Tự Ngã quả luôn là hai vấn đề quyết liệt cản trở sự thấu hiểu và chấp nhận con đường giải thoát mà Đức Phật đã tuyên thuyết. Vì sao:
– Dục thì vẫn có vui (dẫu rằng vui ít khổ nhiều), Ái dục lại là bản năng sinh tồn của con người. Diệt Dục nghe có vẻ như …“commit suicide”
– Vô Ngã dù là sự thực, nhưng đối với một người chưa thấu hiểu giáo lý, chưa đủ “công lực tu tập” sẽ cảm thấy thấy nó như…“hư vô lồng lộng”
“Diệt Dục” và “Vô Ngã” là hai quan điểm cốt tủy của Đạo Phật có thể lấy làm chuẩn mực lý luận để phân biệt Đạo Phật nguyên thủy với các Đạo Phật phát triển.
Ví dụ, Kim-Cương-Thừa (tự cho là một thừa của Phật giáo) sử dùng năng lực của Dục để tu tập (mà không cho rằng Dục làm cản trở sự giải thoát). Như vậy Kim Cương Thừa không thuộc về Chánh pháp của Đạo Phật.

Kan Trần dạ thưa Sư Indacanda,

” Ở đây, này các Tỷ-kheo, một số Thiện nam tử học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. ” . Như con thấy thì đoạn này có dấu vết được biên tập sau này. Sư có nhận xét gì về chỗ này không ạ?

Pāli Việt Lúc gặp cụm từ này thì Sư thắc mắc ý nghĩa của chúng là gì? Sau đó tìm thấy định nghĩa ở tài liệu Saddhammasangaha – Diệu Pháp Yếu Lược (Budsas). Còn việc thêm về sau hay vào lúc nào thì không quan tâm lắm, trưởc cũng vậy, sau này cũng vậy. Thêm nữa, nếu lấy đề tài này để làm research thì có lẽ “te tua” vì vấn đề quá rộng, liên quan đến cả nền văn chương, văn học của India.

Minh Quang bài kinh này rất hay,mq nghĩ đến qui trình nhận thức giống như”kinh mật hoàn”

…tưởng sai lạc (dục tưởng, ngã tưởng, thường hằng tưởng…) rồi dẫn đến, suy tầm( dục tầm.,ngã tầm, thường hằng tầm…) rồi dẫn đến,nhận thức sai lầm(Papañca), chính điều đó là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đức phật đề nghị con đường đối trị,…tưởng đúng đắn (vô dục tưởng,vô ngã tưởng,vô thường tưởng…) rồi dẫn đến, suy tầm đúng đắn( vô dục tầm,vô ngã tầm, vô thường tầm…)rồi dẫn đến,nhận thức đúng đắn(chámh kiến),chính điều đó là nguyên nhân dẫn đến diệt khổ

Pāli Việt Ở bài Kinh này, sử dụng command FIND rồi gõ samanupass rồi xem ở phần tiếng Việt sẽ thấy các ý nghĩa sau: xem (12), quán sát (1), thấy (3), chánh quán (2). Cái từ sam + anu + pass này thấy vậy mà cũng rắc rối.

Pāli Việt Cần xem lại đoạn văn tiếng Việt này (ngay ở trên #245):
Do vậy, này các Tỷ-kheo, bất cứ các sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc pháp là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ.
Tasmātiha bhikkhave yaṃ kiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā, sabbaṃ rūpaṃ “Netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā”ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.

Pāli Việt

DÀNH RIÊNG CHO DÂN PĀḶI:
Bahubbīhi compounds được thấy rất nhiều ở bài Kinh này. Nên dịch cụm từ bahubbīhi compound như thế nào?
Vd: bhikkhu saṃkiṇṇaparikkho hoti
Nói chung có 2 cách:
– Tỷ-kheo đã lấp đầy các thông hào (diễn tả hành động)
– Tỷ-kheo có thông hào đã được lấp đầy (diễn tả trạng thái, tính chất).
Cách 2 chuẩn hơn về phương diện văn phạm. Nghiên cứu bản dịch của Ven. Bhikkhu Bodhi thì Ngài sử dụng luôn cả 2 cách.

Pāli Việt Alagadda = rắn hay rắn nước? RẮN NƯỚC KHÔNG CÓ ĐỘC, CẮN KHÔNG CHẾT. Ở đoạn văn dưới đây, từ Pali là alagadda, chỉ nên chọn một trong hai nghĩa trên: là RẮN, hay RẮN NƯỚC?
Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn RẮN NƯỚC, tìm cầu RẮN NƯỚC, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con RẮN NƯỚC lớn, và người đó bắt con RẮN ấy ở lưng hay ở đuôi. Con RẮN ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con RẮN một cách sai lạc.

Chua Nhu Phap Bài kinh quá hay, điểm nào cũng then chốt tu tập. Mình thích đoạn này nhất “Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỷ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm”. sadhu sadhu

Pāli Việt MỘT ĐOAN VĂN KHÓ: (trên đoạn văn # 247)
– tatra bhikkhave Tathāgatassa evaṃ hoti “Yaṃ kho idaṃ pubbe pariññātaṃ, tattha’me evarūpā kārā karīyantī”ti.
– này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm”. (bản tiếng Việt)
– the Tathāgata on that account thinks thus: ‘They perform such services as these for the sake of what had earlier come to be fully understood.’ (Bhikkhu Bodhi)

Phạm Doãn Có một số từ Hán-Việt khó hiểu trong bài kinh. Những từ này cần Việt hóa (nếu thực sự muốn phổ biến giáo lý của Phật đến số đông Phật tử). HT Chơn Thiện có cho một số giải thích như sau:
– Ứng tụng: Geyyam (Discourse in prose and in verse): Liên hệ đến Luật tạng – Vinaya và các kinh thuộc kinh Tập – Suttanipatta.
– Giải thuyết: Veyyàkaranam (Expositions): Các phần giảng rộng được giải thích như Luận tạng.
– Kệ tụng: Gàtham (Verses): Các câu ngắn có vần như là Trưởng lão Tăng, Ni kệ.
– Cảm hứng ngữ: Uadànam (The Uplifting verses): Những cảm xúc giải thoát của Thế Tôn và các đại đệ tử.
– Như thị ngữ: Itivuttakam (The “As it was saids”): Phần thuật lại những gì đã nghe Đức Phật dạy.
– Bổn sanh: Jàtakam (The Birth Stories): Các chuyện tiền thân, tái sanh.
– Vị tằng hữu pháp: Abbhutadhammam (The Wonders): Các nội dung hiếm khi được giảng, hiếm hoi.
– Phương quảng: Vedallam (Miscellanies): Phần giáo lý hợp tuyển.

Pāli Việt Đụng hàng với Bs. Phạm Doãn nè, nhưng những lời giải thích dưới đây được dịch từ Pali (Xem Saddhammasangaha – Diệu Pháp Yếu Lược, trang 31)

Thế nào là có chín phần khi nói về Thể (Aṅga)? Bởi vì toàn bộ gồm có chín hình thức khác biệt, đó là sutta, geyya, veyyākaraṇa, gāthā, udāna, itivuttaka, jātaka, abbhūtadhamma, vedalla.
Trong trường hợp này, Ubhatovibhaṅga, Niddesa, Khandhaka, Parivāra, các bài kinh Maṅgalasutta, Ratanasutta, Nalakasutta, Tuvaṭaka-sutta trong Suttanipāta (Kinh Tập), và các lời dạy của đức Như Lai có tựa đề là Kinh (Sutta) thì được xếp vào thể Kinh (Sutta).

Các bài kinh có xen các bài kệ vào được biết là thể Geyya; đặc biệt toàn bộ Thiên Có Kệ (Sagāthāvagga) trong Tương Ưng Bộ là thể Geyya.

Toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp, các bài kinh không có xen các bài kệ, và các lời dạy khác của đức Phật không thuộc tám loại trên được xếp vào thể Veyyākaraṇa.

Pháp Cú, Trưởng Lão Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, các bài có tên là kinh nhưng thuần là kệ trong Kinh Tập (Suttanipāta) thì được xếp vào thể Gāthā.

Tám mươi hai bài kinh liên quan đến các bài kệ do tuệ giác hoan hỷ được xếp vào thể Udāna.

Một trăm mười hai bài kinh được giới thiệu bằng: “Vuttaṃ h’ etaṃ Bhagavatā ”ti (Đức Thế Tôn thuyết về điều ấy như vầy) thì được xếp vào thể Itivuttaka.

Năm trăm năm mươi Bổn Sanh bắt đầu bằng Bổn Sanh Apannaka được xếp vào thể Jātaka.

Tất cả các bài kinh liên quan đến pháp kỳ diệu phi thường và được giới thiệu như sau: “Này các tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu phi thường ở Ānanda,” được xếp vào thể Abbhūtadhamma.

Tất cả các bài kinh được hỏi và được liên tục ghi nhận trong sự hiểu biết và hoan hỷ như các bài kinh Cullavedalla, Mahāvedalla, Sammādiṭṭhi, Sakkapañhā, Saṅkhārabhājaniya, Mahāpuṇṇama, v.v…được xếp vào thể Vedalla.

Như thế khi đề cập đến Thể thì có chín phần.

Ven Adhiṭṭhāna   @Pāli Việt double like cho phần navaṅgasatthusāsana ^.^

Phạm Doãn Thông tin rất cặn kẽ. Cám ơn Sư  Pāli Việt!

Minh Quang có nhiều người kể cả trong đạo phật, cũng như ngoài đạo phật mong muốn, hoặc tin vào 1 thế giới không thay đổi(thường hằng ở hiện tại hoặc tương lai(sau khi chết).nếu quả thật có 1 nơi như vậy…thì làm sao có thứ gì đó được sinh ra, trưởng thành…làm sao nước có thể chảy, gió có thể thổi hoặc có ngày và đêm…

nếu không có sự thay đổi thì không có sự chuyển trạng thái… nếu ai đang đi thì chỉ vẫn đi, nếu ai đang ngồi thì chỉ vẫn ngồi…ai đang giận dữ thì mãi giận dữ, nếu đang là trẻ con thì mãi vẫn là trẻ con…

tóm lại, chúng ta vui mừng vì sự thay đổi(vô thường) vì chính điều đó mới tạo nên cuộc sống, vì chính điều đó mới có các vị phật, cũng như các vị thánh…được chuyển biến từ chúng sinh

Pāli Việt

ẤN TƯỢNG VỚI ĐOAN KINH NÀY:
. . . Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp. . . . ví như . . . bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. . . . vì sự chấp thủ các pháp sai lạc.

Minh Quang có lẽ học phật có nhiều mức, mq mới đang ở mức muốn phá chấp thường bằng vô thường, còn phật đã phá cả chấp thường lẫn vô thường, nên ngài dạy ” vô thường là khổ”

Hạnh Trương

Vô thường, khổ , vô ngã đâu có liên quan gì tới chấp và phá chấp MQ nhỉ ?

Tại sao HT lại nói vậy, vì nếu đặt vấn đề chấp hay không chấp mới là quan trọng, thì có kẻ sẽ nói là ” ối giời, không chấp thường, thì các ông lại đi chấp vô thường, chấp gì cũng là chấp”.

Thế là rơi vào bẫy của ngoại đạo

Minh Quang  ý MQ nói chấp tức kiến chấp hay chấp thủ tức là nhận thức, kiến giải về vấn đề nào đó rồi dẫn đến niềm tin vào đó. chẳng hạn kinh”Tiểu kinh sư tử hống”có nói đến 4 thứ thủ chấp dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ” trong thuyết duyên khởi cũng nói đến thủ chấp, nếu phá được hết thủ chấp thì đã trở thành thánh

Hạnh Trương  Duyên thủ trong thập nhị nhân duyên có lẽ không đơn giản như MQ nghĩ, người bị bệnh thần kinh cũng chẳng chấp gì, họ chẳng phải là thánh.

Hạnh Trương “Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp”

Đoạn này khó hiểu thật. Nếu người nghe là các vị còn đang tu, thì các vị còn cần cái bè, thì nói việc cái bè sẽ phải bỏ là không cần thiết. Còn người nghe là các vị đã chứng, thì chẳng nhẽ người đã chứng lại không biết chuyện này? mà biết rồi thì nói cũng không cần thiết.

Các đạo hữu có cách hiểu nào hợp lý cho đoạn kinh trong bài kinh này không ạ?



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s