KINH MN 023 – KINH GÒ MỐI (VAMMIKASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 023 – Kinh Gò Mối  (Vammika sutta)

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung23.htm 

2. Bản tiếng Anh của Sister Upalavanna

http://www.metta.lk/tipitaka/2Sutta-Pitaka/2Majjhima-Nikaya/Majjhima1/023-vammika-sutta-e1.html  

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/023.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 023

1. Trích giảng Kinh Gò Mối – TT. Thích Chơn Thiện

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-023.htm

3. Toát yếu Kinh Gò Mối – Thích Nữ Trí Hải

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-03.htm

 

III. THẢO LUẬN

 Phạm Doãn

Bài kinh Trung Bộ MN23 này rất ngắn. Nội dung và ý nghĩa có vẻ “xa lạ” so với các bài kinh khác. Bhikkhu Thanissaro đã bỏ qua không dịch bài kinh MN23 này! Kính mời các thành viên PLCĐ thử tìm hiểu xem có điều gì mới lạ trong bài kinh MN23!

Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumara Kassapa trú tại Andhavana.
Rồi một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ Tôn giả Kumara Kassapa ở, sau khi đến, bèn đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với Tôn…See More

Hạnh Trương Em nghĩ, nếu đó là tưởng thì chắc đức Phật đã không trả lời , nhiều khi còn mắng cho vì hỏi linh tinh , và các vị Trưởng Lão đã không kết tập vào kinh điển. Các vị có thần thông đủ để quay lại chỗ đó, ngày đó, giờ đó để kiểm chứng câu chuyện đã xảy ra.

Phan Minh Nguyet  “gò mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt”
“phấn toái” là gì ạ?
từ bỏ năm thủ uẩn là thế nào ạ?

Pāli Việt Cần chú ý thể chia động từ ở các câu đàm thoại. Nếu viết ra cho đầy đủ thì câu văn sẽ lòng thòng, nhưng sẽ giúp cho việc nhận ra ngữ cảnh một cách dễ dàng hơn.

Pāli Việt Giờ mới nhận ra là bị dấu ngoặc kép đánh lừa. Thật ra, toàn bộ lời nói trên là của vị Thiên Nhân, còn ngài Kumārakassapa không nói lời nào, chỉ nghe. Vì các dấu ngoặc kép để như vậy nên bị lầm tưởng là 1 cuộc đối thoại giữa vị Thiên nhân và ngài Kumārakassapa.

Hai Long Bài kinh này con liên hệ đến cái hang như bài kinh http://www.paliviet.info/VHoc/35/35-02.htm

 

MAHĀNIDDESAPĀḶI – GUHAṬṬHAKASUTTANIDDESO

www.paliviet.info

Satto guhāyaṃ bahunābhichannotiṭṭhaṃ naro mohanasmiṃ pagāḷho,dūre vivekā hi tathāvidho sokāmā hi loke na hi suppahāyā

Hạnh Trương Không like cái vụ bị ngoặc kép lừa của Sư, hehe

Hạnh Trương Nếu chúng ta thấy nội dung bài kinh là bất bình thường, vậy một câu hỏi đặt ra là tại sao một bài kinh bất bình thường lại được kết tập vào chỗ này trong trung bộ , là một bộ kinh hết sức quan trọng.

Thứ nhì, từ xưa tới nay, các vị trưởng lão có coi đây là bất bình thường không, và nếu có thì các vị giải thích như thế nào về chuyện này?

Lại phải nhờ chú giải rồi, hihi.

Pāli Việt Bài Kinh này đâu có gì bất bình thường. Vì cách trình bày làm rối. Toàn bộ tiến trình đều có mặt TUỆ (cây gươm).

Hạnh Trương Vậy đối tượng được thuyết giảng trong bài kinh này là có bình thường không ạ. Không chỉ có mặt tuệ, mà còn là tuệ của bậc thánh nữa :

“Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. Này Tỷ-kheo, đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần”

Vậy là đức Phật đang chỉ cách dùng tuệ cho một vị Thánh ?

Pāli Việt Vậy là đức Phật đang chỉ cách dùng tuệ cho một vị Thánh ?
HOÀI NGHI THÌ XEM LẠI PALI VÀ THAM KHẢO CÁC BẢN DỊCH KHÁC.

Thich Nu Nguyen Huong Có một câu chuyện như thế này, NH. xin dấu tên tác giả của câu chuyện. Vị ấy thường có những giấc mơ báo trước về sự việc chính xác về thời gian, hoàn cảnh, nhân vật và nội dung đã xảy ra y như trong giấc mơ của vị ấy. Đôi khi vị ấy chỉ thấy cảnh tượng gì đó và nghe có tiếng nói vọng đến báo tin chuyện gì đó nhưng lại không xuất hiện hình dạng của mình. Do đó, vị này có khởi lên một niềm tin là chắc chắn có những chúng sanh vô hình đang sống ở ngoài thế giới chúng ta!

Thich Nu Nguyen Huong Trong kinh tạng Pali có nhiều sự kiện như chuyện Thiên Cung, chuyện Ngạ quỹ… nhiều hiện tượng khác đã khiến cho không ít người khi đọc đến bị hoang mang hoặc cho là bất thường, mê tín … Nhất đối với người chưa từng trãi nghiệm tu tập hoặc chứng nghiệm những điều trên!!

Pāli Việt “Vậy là đức Phật đang chỉ cách dùng tuệ cho một vị Thánh ?” Trình độ critical reading của Hạnh Trương sắc sảo thiệt đó. Có được câu hỏi trên là việc khó, còn trả lời câu hỏi đó là việc dễ. Bs. Phạm Doãn, Hiếu Nguyễn, và các học viên khác ở lớp Pali đã có đủ vốn liếng để trả lời.

Phạm Doãn Chư thiên nói với tôn giả Kumara Kassapa:
– Một Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên….”
Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy then cửa lên, cầm gươm đào them….”.
Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy đem con nhái lên, cầm gươm đào thêm…”
v.v…

Tôn giả Kumara Kassapa (cũng như chúng ta) thắc mắc chuyện vị Bà La Môn nói với kẻ trí về cách sử dụng cây gươm. Vậy:
– “Vị Bà La Môn” là biểu tượng ẩn dụ cho cái gì?
– “Kẻ trí” là biểu tượng ẩn dụ cho cái gì?
– “Thanh gươm” là biểu tượng ẩn dụ cho cái gì?
Đức Phật đã trả lời rõ ràng:
– Này Tỷ-kheo, “Bà-la-môn” là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
– Này Tỷ-kheo, “người có trí” là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học.
– Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. …”
Kết luận:
“Kẻ trí” ở đây là vị tỳ kheo hữu học (chưa phải bậc Thánh).
Câu chuyện mà chư thiên nói hàm ý: Đức Phật dạy cho một bậc hữu học cách sử dụng trí tuệ của một bậc Thánh.

Phạm Doãn  @Phan Minh Nguyet:

phấn-toái ( 粉碎): Vỡ nát — Nghiền nhỏ thành bột. Phải chi thày Minh Châu dịch luôn chữ Hán Việt “phấn toái” ra tiếng Việt là “vỡ nát” thì đỡ khổ cái đầu!

Hiếu Nguyễn Ối Sư ơi, mới học mấy cái chia danh từ, động từ thôi. Ngữ pháp cũng chỉ là đơn giản sơ khởi, làm gì mà hoành tráng thế ạ.

Pāli Việt Danh từ nữ tánh Ā học rồi. Vậy là đủ xài. Vấn đề là vận dụng kiến thức đã học vào thực tế như thế nào? Đây là câu Pali:
“Satthan”ti kho bhikkhu ariyāyetaṃ paññāya adhivacanaṃ
ariyāyetaṃ = ariyāya + etaṃ.
etaṃ đi cặp với adhivacanaṃ, bỏ riêng ra.
Vậy còn lại:
ariyāya paññāya (paññā là danh từ nữ tánh, sở thuộc cách. Nên tự hỏi: Tại sao là thứ 6, mà không phài thứ 3, 4, 5, hay 7?)
ariyāya: trích lục từ điển: Có thể là tính từ, có thể là danh từ:
a. cao thượng, quí phái, đặc biệt.
m. người quí phái, bậc thánh nhơn
Chằm chày may rủi chọn một, hay là chỉ có thể chọn một? Tại sao chọn loại từ này, mà không là loại từ kia?
PHẦN GIẢI THÍCH ĐẾN ĐÂY LÀ CHẤM DỨT.

Hiếu Nguyễn   @Vo Thi Huyen Chi: có chỗ áp dụng nè chị Chi hi hi.
Ariyāya paññāya
Cách 3: Trí tuệ “bởi” bậc thánh (không ổn lắm)…See More

Pāli Việt Ở trên là nói về từ paññāya là cách thứ 6 (đối với từ adhivacanaṃ) mà còn chưa giải thích đến từ ariyāya.

ariyāya: trích lục từ điển: Có thể là tính từ, có thể là danh từ:
a. cao thượng, quí phái, đặc biệt.
m. người quí phái, bậc thánh nhơn
Chằm chày may rủi chọn một, hay là chỉ có thể chọn một? Tại sao chọn loại từ này, mà không là loại từ kia?
ariyāya là TÍNH TỪ, có nhiều cách để bảo vệ quan điểm:

Hiếu Nguyễn

Khổ quá Sư nhỉ, ngày xưa mà 8 cách chia khác nhau cả 8, thì ngày nay đỡ phải mày mò. Sanskrit có đẹp hơn không ạ?
(Con mà được chế lại phần danh từ cho mấy tánh này, con đảm bảo với Sư đẹp như mơ hi hi)

Pāli Việt – Nếu chọn ariyāya là danh từ (của bậc Thánh) thì phải viết là ariyapaññā hoặc ariyassa paññā (ariya m. là danh từ nam tánh). Hoặc phải dỉch là trí tuệ của bậc NỮ THÁNH.
– Xem Chú Giải: lokiyalokuttarāya paññāya = trí tuệ hợp thế và siêu thế.
Vì ariyāya là DANH TỪ không hợp lý nên phải là TÍNH TỪ.

Hiếu Nguyễn À đúng rồi nếu định dịch theo trí tuệ của bậc thánh thì phải là ariyassa paññā. Con bị làm ngược, chia từ trí tuệ.

Hạnh Trương Phải dịch khổ thật, không phải dịch là con kết hợp với chữ sekkha ( hữu học) bên dưới là hiểu liền đó là một loại tuệ không phải của phàm phu , hihi.

Pāli Việt Chữ Hữu Học nếu viết hoa thì nói đến 3 tầng Thánh Quả dưới (nếu cần thì cộng thêm 4 Đạo nữa). Theo giải thích của Chú Giải thì có lẽ nên dịch “còn phải học tập” là an toàn nhất, nghĩa là còn phàm phu. Dùng chữ hữu học viết thường cũng có thể gây hiểu lầm là bài Kinh này chỉ dạy riêng cho các bậc Thánh.

Hạnh Trương Trong Pali có phân biệt chữ hoa, chữ thường hả Sư, làm sao biết khi nào là sekkha và khi nào là SEKKHA.

Con nhớ ở MN01, sekkha oai lắm mà, hehe:

7. “Yopi so, bhikkhave, bhikkhu sekkho …

(Vị hữu học)
Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: “Ðịa đại là của ta”, – không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại… hỏa đại… phong đại… Sanh vật… chư Thiên… Sanh chủ… Phạm thiên… Quang âm thiên… Biến tịnh thiên… Quảng quả thiên… Abhibhù (Thắng Giả)… Không vô biên xứ… Thức vô biên xứ… Vô sở hữu xứ… Phi tưởng phi phi tưởng xứ… sở kiến… sở văn… sở tư niệm… sở tri… đồng nhất… sai biệt… tất cả… Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn; vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết-bàn, đã không nghĩ: “Niết-bàn là của ta” – không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết-bàn.

Có gì khác nhau giữa 2 đoạn kinh của hai bài kinh không Sư nhỉ.

Pāli Việt sekkha (hoặc sekha) lấy theo nghĩa bình thường. Thường gặp ở dạng SEKKHA ám chỉ 7 hạng Thánh (trừ A-la- hán = Bậc Vộ Học). Cần phải dựa vào ngữ cảnh, muốn chắc ăn nữa thì phải kiểm tra lại Chú Giải.

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s