KINH MN 024 – KINH TRẠM XE (RATHAVINĪTASUTTAṂ )

I. BẢN KINH MN 024 – Kinh Trạm Xe (Rathavinìta sutta) 

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung24.htm 

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.024.than.html  

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/024.htm

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 024

1. Trích giảng Kinh Trạm Xe – HT. Thích Chơn Thiện

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-024.htm

2. Toát yếu Kinh Trạm Xe – Thích Nữ Trí Hải

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-03.htm 

III. ĐỀ CƯƠNG

–          Tìm hiểu về quan điểm “Bảy giai đoạn thanh tịnh” trong bài kinh.

–          Tìm hiểu về ý nghĩa của từng “giai đoạn thanh tinh”

–          Có thể tìm thấy quan điểm “Bảy giai đoạn thanh tịnh” trong các bài kinh khác hay không?

–          Mối tương quan giữa Kinh Trạm Xe và Thanh Tịnh Đạo Luận

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn Bài kinh này “gay cấn” đây bà con ơi!
Thích Nữ Trí Hải:
– Mặc dù trong Trường Bộ kinh 3, 288, cũng nói đến bảy thanh tịnh và hai thanh tịnh khác nữa là tuệ và giải thoát, có điều lạ là không chỗ nào khác trong Nikàya đề cập Bảy thanh tịnh. Lạ hơn nữa, cả hai vị đại đệ tử này dường như đều thừa nhận Bảy thanh tịnh là một pháp số rất quen thuộc, một giáo điều cố định. Bảy thanh tịnh vả lại, cũng là cái sườn của toàn bộ Luận Thanh tịnh đạo, đã định nghĩa mỗi giai đoạn tu tập bằng cách giảng rộng theo truyền thống, về tịnh chỉ và tuệ quán.

Minh Quang ở trạm xe đầu tiên ”giới thanh tịnh”chúng ta thử xem “Thanh Tịnh Ðạo” nói về giới gồm những gì?
”…(1) Về giới sát sinh: (a) từ bỏ sát sinh là giới (b kiêng sát là giới (c) tư tâm sở (ý chí) là giới (d) chế ngự là giới (e) không phạm là giới
(2) Lấy của không cho: từ bỏ lấy của không cho là giới, v.v.
(3) Từ bỏ dâm dục là giới,…
(4) Từ bỏ nói láo là giới,…
(5) Từ bỏ nói độc ác là giới,…
(6) Từ bỏ nói thô là giới,…
(7) Từ bỏ nói vô ích là giới,…
(8) Từ bỏ tham là giới,…
(9) Từ bỏ sân là giới,…
(10) Từ bỏ tà kiến là giới,…

(11) Với hạnh xuất ly, (a) Từ bỏ tham dục là giới, v.v.
(12) Với vô sân, từ bỏ sân là giới, v.v.
(13) Với tưởng ánh sáng, từ bỏ hôn trầm là giới, v.v.
(14) Với không tán loạn, từ bỏ trạo cử là giới, v.v.
(15) Với trạch pháp, từ bỏ nghi là giới, v.v.
(16) Với tri kiến, từ bỏ ngu si là giới, v.v.
(17) Với hân hoan, từ bỏ chán nản là giới,…

(18) Ở sơ thiền, từ bỏ năm thứ triền cái là giới…
(19) Nhị thiền, từ bỏ tầm tứ là giới…
(20) Tam thiền, từ bỏ hỉ…
(21) Tứ thiền, từ bỏ lạc và khổ…
(22) Không vô biên xứ, từ bỏ sắc tưởng, đối ngại tưởng, sai biệt tưởng là giới…
(23) Thức vô biên xứ, từ bỏ không vô biên xứ tưởng là giới…
(24) Vô sở hữu xứ, từ bỏ thức vô biên xứ tưởng là giới…
(25) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, từ bỏ vô sở hữu xứ tưởng là giới…

(26) Quán vô thường, từ bỏ thường là giới…
(27) Quán khổ, từ bỏ lạc tưởng là giới…
(28) Quán vô ngã, từ bỏ ngã tưởng là giới…
(29) Quán yểm ly, từ bỏ tưởng ưa thích là giới…
(30) Quán ly tham, từ bỏ tham là giới…
(31) Quán diệt, từ bỏ sanh là giới…
(32) Quán xả ly, từ bỏ thủ trước là giới…
(33) Quán hoại, từ bỏ tưởng kết hợp là giới…
(34) Quán (các hành) diệt, từ bỏ tích lũy nghiệp là giới…
(35) Quán biến đổi, từ bỏ tưởng về sự lâu bền là giới…
(36) Quán vô tướng, từ bỏ tướng là giới…
(37) Quán vô nguyện, từ bỏ dục là giới…
(38) Quán không, từ bỏ tà giải (cố chấp) là giới…
(39) Quán các pháp thuộc tăng thượng tuệ, từ bỏ tà giải do chấp thủ là giới…
(40) Với chánh tri kiến, từ bỏ tà giải do si là giới…
(41) Quán nguy hiểm, từ bỏ tà giải do y cứ vào các hành là giới…
(42) Với tư duy, từ bỏ không tư duy là giới…
(43) Với quán “quay đi”, từ bỏ tà giải do trói buộc là giới…

(44) Dự lưu đạo, từ bỏ cấu uế do tà kiến là giới…
(45) Nhất lai đạo, từ bỏ các cấu uế thô là giới…
(46) Bất hoàn đạo, từ bỏ cấu uế còn sót lại (dư tàn) là giới…
(47) A-la-hán đạo, từ bỏ tất cả cấu uế là giới, kiêng giữ là giới, tác ý là giới, chế ngự là giới, không phạm là giới… ”
http://www.daophatngaynay.com/vn/phat-phap/buoc-dau-hoc-phat/nen-tang-gioi/5510-Gioi-la-nen-tang-con-duong-thanh-tinh.html

Phạm Doãn Nội dung bài kinh là cuộc đối thoại giữa Ngài Sariuptta trưởng lão hàng uy tín nhất của Tăng đoàn lúc bấy giờ với một tôn giả cũng nổi tiếng tên là Punna Mantaniputta. Cả hai cùng thống nhất, rằng từ bước đầu tiên là Giới, muốn đi đến đích giải thoát của Đạo Phật, phải tuần tự kinh qua bảy giai đoạn.
Tên kinh “Trạm Xe” là ẩn dụ chỉ các giai đoạn tu tập.
Có bảy giai đoạn:
1. Giới thanh tịnh (sīla-visuddhi)
2. Tâm thanh tịnh (citta-visuddhi)
3. Kiến thanh tịnh (Ditthi-visuddhi)
4. Đoạn nghi thanh tịnh (Kankhàvitarana-visuddi)
5. Đạo-phi đạo tri kiến thanh tịnh (Maggàmagga – Nanadassana – Visuddhi)
6. Đạo tri kiến thanh tịnh (Patipadà – nanadassana – visuddhi)
7. Tri kiến thanh tịnh (Nanadassana-visudhi)

Vấn đề ở đây là:
1. Đây có đúng là bảy giai đoạn tu tập của Đạo Phật hay không? Vì ngoài bài kinh này hình như không có bài kinh nào khác đề cập đến!
(Có người đặt nghi vấn như vậy!)
2. Phải hiểu nội dung của bảy giai đoạn tu tập này như thế nào?
(Hiện có nhiều trường phái Theravada trình bày các Pp tu tập – của bảy giai đoạn này- theo những cách hiểu khác nhau!)
3. Ngài Buddhaghosa đã dựa vào bảy giai đoạn tu tập này, cùng với Phân Tích Đạo, Vi Diệu Pháp, để soạn cuốn luận “Thanh Tịnh Đạo” (mà Theravada đã từng coi như xương sống của mình). Cách hiểu của Ngài Buddhaghosa về “bảy giai đoạn” cũng như “cách thực hành” của từng giai đoạn có đúng hay không?
– Nếu đúng, thì Theravada hiện nay có còn, và có nên tiếp tục truyền thống Thanh Tịnh Đạo nữa hay không?
– Nếu không đúng, thì không đúng ở điểm nào? Xin các comments giải thích và phản biện!
Đây chỉ là một vài gợi ý cho các comments thảo luận về bài kinh “Trạm Xe”. Kính mong các đạo hữu đóng góp!

Hạnh Trương Cảm nhận của HT là không giống những gì được Phật thuyết.

Minh Quang

”… leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm thứ nhất đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, leo lên trạm xe thứ hai, nhờ trạm xe thứ hai đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai… đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba… đến được trạm xe thứ năm, từ bỏ trạm xe thứ tư, leo lên trạm xe thứ năm, nhờ trạm xe thứ năm đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu, leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy đến được Saketa, tại cửa nội thành…”(trích kinh)

ở đây chúng ta hiểu”…nhờ trạm thứ nhất đến được trạm xe thứ hai…nhờ trạm xe thứ hai đến được trạm xe thứ ba…v.v…” nghĩa là nhờ có”giới thanh tịnh’ sẽ giúp tu tập”tâm thanh tịnh”v.v…
Thế nhưng điều khó hiểu là câu”từ bỏ trạm xe thứ nhất…từ bỏ trạm xe thứ hai…v.v…như vậy dễ dẫn đến hiểu lầm rằng từ bỏ ”giới thanh tịnh’ sẽ giúp tu tập”tâm thanh tịnh”từ bỏ ”tâm thanh tịnh’sẽ dẫn đến…v.v..Trong khi đó giới, định, tuệ là phải luôn song hành cùng hỗ trợ thì tu tập mới thành tựu…thật khó hiểu câu”từ bỏ” trong kinh

Hạnh Trương Trích từ Thanh Tịnh Đạo
— Bản dịch của SC Trí Hải —

5. Ở đây, thanh tịnh nên hiểu là Niết bàn. Niết bàn không tất cả cấu uế, nên hoàn toàn thanh tịnh. Thanh tịnh đạo là con đường dẫn đến sự thanh tịnh ấy, cách đến gọi là con đường. Tôi sẽ giải thích con đường đưa đến sự thanh tịnh ấy.

6. Trong vài trường hợp, con đường dẫn đến thanh tịnh được dạy là do tuệ quán (về vô thường, khổ, vô ngã), như khi nói:

Tất cả hành vô thường
Với tuệ quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh. (Dh. 227)
Trong vài trường hợp, được giảng do thiền định và trí tuệ, như khi nói:
Người có thiền có tuệ
Nhất định gần Niết bàn (Dh.372)

Khi thì được giảng là do nghiệp, như khi nói:
Nghiệp, minh và chánh pháp
Giới – tối thượng sanh mạng
Chính nhờ các pháp trên
Khiến chúng sinh thanh tịnh
Không phải do giai cấp
Không phải do tài sản (M. iii, 262)

Khi thì được giảng là do Giới v.v… Như khi nói:
Vị luôn luôn trì giới
Trí tuệ khéo định tĩnh
Chí siêng năng dõng mãnh
Vượt bậc lưu khó vượt

Và có trường hợp, thanh tịnh đạo được giảng là do bốn niệm xứ v.v… như khi nói: “Nầy các tỷ kheo, con đường này là con đường duy nhất để thanh tịnh các hữu tình…. để chứng Niết bàn, đó là bốn Niệm xứ”. (D. ii, 290). Cũng tương tự với bốn chánh cần v.v… Nhưng để trả lời câu hỏi này, thì con đường thanh tịnh được giảng là giới, định và tuệ.

Hạnh Trương Từ trạm xe đầu tiên…

“– Cũng vậy, này Hiền giả, giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh.”

Tâm đã thanh tịnh rồi thì bỏ giới được không? hay là khi tâm thanh tịnh thì giới tự giữ?

Trong khắp chánh tạng, chưa thấy chỗ nào đức Phật nói cái này CHỈ ĐỂ cho cái kia. Đức Phật chỉ nói, sau cái này nên làm cái kia, đó là sự khác biệt quan trọng. Cái này làm duyên cho cái kia và tất cả các pháp đều nhắm tới một mục đích là giải thoát.

Ví dụ, Giới là nền tảng coi như cái móng nhà, nếu cái móng nhà chỉ thiết kế để chịu được tầng 1, thì khi có tầng 2 nó sẽ ra sao?

Có lẽ phải nhờ Sư Indacanda xem lại chỗ dịch đó 1 chút mới rõ hơn được.

Hạnh Trương <<Có bảy giai đoạn:
1. Giới thanh tịnh (Sīla-visuddhi)
2. Tâm thanh tịnh (Citta-visuddhi)
3. Kiến thanh tịnh (Ditthi-visuddhi)
4. Đoạn nghi thanh tịnh (Kankhàvitarana-visuddi)
5. Đạo-phi đạo tri kiến thanh tịnh (Maggàmagga – Nanadassana – Visuddhi)
6. Đạo tri kiến thanh tịnh (Patipadà – nanadassana – visuddhi)
7. Tri kiến thanh tịnh (Nanadassana-visudhi)>>

Rất có thể cần Sư Indacanda xem giùm thêm một chút về mấy từ có chữ visuddhi đi kèm. Nó là trạng thái, cái mốc hay là quá trình Sư nhỉ.

ví dụ như, thế nào là Sīla-visuddhi.

Minh Quang: từ bỏ chỉ với ý nghĩa là rời đi từ trạm này tới trạm kia, không có ý nghĩa là quăng đi, bỏ đi. Ở đây tôn giả chỉ có ý muốn nói là cái trạm đầu đó KHÔNG PHẢI LÀ MỤC TIÊU CUỐI CÙNG, khi đạt tới, người ta sẽ còn nhiều việc phải làm hơn nữa ( ai cha, cái câu này nghe quen quen, hihi )

Phạm Doãn

Đúng như Hạnh Trương nhận xét, bài kinh rõ ràng không phải là lời Phật thuyết mà là mẫu đối thoại “đồng thinh tương ứng” giữa Ngài Sariptta và tôn giả Punna Mantaniputta. Không có sự hiện diện hay sự tán đồng của Đức Phật trong bối cảnh của bài kinh. Vấn đề là tư tưởng của Ngài Sariputta và tôn giả Punna Mantaniputta có tin cậy được hay không? Tại sao mẫu đối thoại này được kết tập vào Nikaya? Kính xin ý kiến của mọi người.

Hạnh Trương Nếu là của ngài Sariputta thì phải tin cậy ạ, hihi.

Minh Quang những giới cấm cơ bản nhất của phật tử gồm: không( sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ,chất gây nghiện…)thì có lẽ nó như ăn cơm uống nước hàng ngày…nghĩa là nó không thể như ai đó nghĩ rằng”hôm qua ăn cơm uống nước rồi hôm nay không cần nữa…”

cũng như vậy, giới dù ngày hôm qua hay những ngày trước đó đều được giữ gìn tốt, nhưng nếu ngày hôm nay phạm giới…phóng dật…thì chắc chắn tu tập định hay tuệ đều chướng ngại…

có lẽ,giữ gìn được giới là do định,tuệ mạnh , hoặc định,tuệ phát triển, lại phải do giữ gìn được giới . tóm lại, 3 thứ đó nó là những nguyên nhân, điều kiện phụ thuộc lẫn nhau tạo duyên cho nhau chứ không thể tách rời độc lập tồn tại được

Minh Quang ở bài kinh này, 7 giai đoạn(giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh, đoạn nghi thanh tịnh, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, đạo tri kiến thanh tịnh, tri kiến thanh tịnh) có lẽ nên hiểu nó cũng như tu tập pháp hành bát chánh đạo(nghĩa là các nhánh cùng song hành tồn tại nâng đỡ hỗ trợ lẫn nhau ) chứ không phải có được nhánh này mới có nhánh khác

Phạm Doãn Do PD tiếp thị không tốt, chắc bài kinh MN 024 này bị “Ế” rồi… id=”.reactRoot[27].[1][2][1]{comment358440337576417_359605087459942}..[1]..[1]..[0].[0][2]..[12]” alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1025″>

Hạnh Trương hehe, bài kinh này khó, vì nó nói tới toàn những giai đoạn thực hành sau Chánh Định, mà chúng ta thì đứng trước trạm xe một .

Hạnh Trương Kết thúc giai đoạn 2, trạm xe 2, Citta-visuddh là xong việc tu tâm, tương đương Chánh Định của Bát Chánh Đạo, xong tứ thiền sắc giới.
Sau đó tới thấy như thật, biết như thật, hiểu như thật,(yathabhuta pajanati và yathabhuta nanadassansa) tương đương 5 trạm còn lại)
“nghề” của các ngài là vi… cho nên các ngài mổ xẻ chi tiết ra với nhau là chuyện bình thường.
bài kinh này em chỉ thắc mắc duy nhất một chỗ , chữ CHỈ ĐỂ ( cho trạm sau ), nó hơi kỳ kỳ.

Hạnh Trương Nếu diễn nôm thì em sẽ bỏ chữ chỉ để đi, vì theo tinh thần của bài kinh, các vị muốn nhấn mạnh ý nghĩa, mục tiêu của các giai đoạn tu tập, đặc biệt nhấn mạnh bất cứ điểm nào trong bảy điểm này đều không phải là cứu cánh.

Hiểu Giới không phải là cứu cánh, chúng ta sẽ bỏ được giới cấm thủ

Hiểu tâm thanh tịnh không phải là cứu cánh, chúng ta sẽ thoát được sự dính mắc vào thần thông

Hiểu tri kiến và hiểu biết không phải là cứu cánh, chúng ta sẽ vượt qua nó mà đạt tới Niết Bàn được. Vì cho dù là tri kiến gì, hiểu biết gì, như thật hay không như thật, nếu bám vào nó, không sử dụng nó để đạt tới mục đích, thì cũng như không?

( thậm chí có là tri kiến về đoạn tận các lậu hoặc , biết cách đoạn tận mà không sử dụng thì lậu hoặc vẫn còn ?, chỗ này chắc mấy vị học VDP sẽ nện HT dữ lắm đây, hehe )

Phạm Doãn Cám ơn Hạnh Trương đã “hâm nóng” cuộc thảo luận một chút. Coi im lìm vậy chứ đụng vào bài kinh là nó… “nổ” đấy!

Hạnh Trương Cho nổ luôn đi BS , hehe

Phan Minh Nguyet “Hiểu Giới không phải là cứu cánh, chúng ta sẽ bỏ được giới cấm thủ”, chữ “giới cấm thủ” này được bàn rất nhiều, có ý kiến là ko nên dùng chữ “giới cấm thủ” vì có thể khiến hiểu sai. Sư Pali Việt dịch chữ này thế nào ạ?

Phạm Doãn Khi đắc quả sa môn đầu tiên (sotātti), vị thánh Nhập Lưu đoạn trừ được ba trong mười kiết sử (trói buộc), đó là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.
– Giới cấm thủ gồm:
Giới+ nghi thức + sự bám víu
Tiếng Pali: Sīlabbataparāmāsa = sīla + vata + parāmāsa
Khoảng hai năm về trước, tôi cũng đã thắc mắc về ý nghĩa của “giới cấm thủ”. Không hiểu “giới cấm” ở đây là giới cấm của Ngoại đạo hay giới cấm của chính Đạo Phật? Sư Pāli Việt đã trả lời: giới cấm ở đây chính là giới cấm của Đạo Phật. Tôi tâm đắc với câu trả lời của Sư.
(Trước đó, trong khi đi tìm câu trả lời ở những nguồn khác, tôi nghe rất nhiều thày đã trả lời rằng “Giới cấm thủ” là chấp giữ giới cấm của ngoại đạo!)
– Mời các đạo hữu cho thêm các thông tin về vấn đề mà đạo hữu Phan Minh Nguyet đã nêu lên.

Chua Nhu Phap Có thể vào link này để mở rộng từ sīlabbataparāmāsa=>http://buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp22.htm

Duong vao Thang phap – Tk Chanh Minh

buddhanet.net

Đáp. Chữ Nīvaraṇa đồng nghĩa với nivāraṇa, xuất nguyên từ ni (vào) + ngữ căn var (cản trở, ngăn).

Hoa Nguyen Tôi nghĩ Giới cấm thủ có liên quan đến ngoại đạo, vì đa số đệ tử Phật xuất thân từ ngoại đạo (ngay như các ngài Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên với hàng ngàn đệ tử riêng). Khi theo đức Thế Tôn, họ rất có thể vẫn giữ nhiều giới, nghi thức của ngoại đạo họ theo từ trước, như ngay ngài Maha Ca Diếp vẫn tu khổ hạnh mặc dù Phât có khuyên nên bỏ vì lý do già yếu, sức khoẻ suy kém. Có lẽ cả ngàn năm sau khi Phật nhập diệt, nhiều người trong đạo Phật còn tu khổ hạnh và cho là cách tu tốt nhất, cho tới ngày nay. Nhiều giới khác có thể đến từ các tôn giáo, phái triết học ở Ấn Độ, nhưng có giới được Phật khuyên giữ, và có giới không theo (như giới khuyên tắm nước sông thiêng để thanh sạch thân tâm). Vẫn có tranh cãi là việc kiêng ăn thịt (ăn chay) có phải giữ theo giới khác Phật giáo ? Riêng về Ngũ giới thì người theo phái Yogacara của Ấn giáo cũng giữ theo giống y hệt, có lẽ họ mô phỏng theo đạo Phât, vì phái này thành hình sau Phật giáo (nhưng cũng có thể họ theo một truyền thống của Bà La môn).

Chua Nhu Phap Có điều nghi vấn là nếu sīlabbataparāmāsa (giới cấm thủ) thuộc về nghi thức tu tập thì vì sao phải đạt tới Sotapanna mới dứt trừ kiết sử này. Nếu xét một khía cạnh nào đó về lý thuyết kinh điển thì những ai chưa bước vào dòng thánh thì vẫn còn đang vướng vào giới cấm thủ. Vậy thì thế nào ạh?

Hoa Nguyen Người theo Phật vẫn còn nghĩ theo nếp cũ của xã hội, còn giữ nhiều tập tục, quy luật của cuộc sống, chỉ nói riêng về mặt đạo lý, tôn giáo, mà họ cho là đúng, nên hay phải giữ. Nhưng có khi những điều theo giữ đó không đúng với chánh kiến của đạo Phật mà họ không biết, cho đến khi có được trí tuệ của bậc Dự Lưu.

Hạnh Trương Khổ hạnh đâu có liên quan gì tới giới cẩm thủ nhỉ?

Hạnh Trương Bị dục chi phối thì giới nào chẳng là khổ hạnh .
Thời khó khăn, cả nhà sống với 1 quả trứng luộc cho 4 người mỗi bữa, đi học mùa đông lạnh chỉ có cái áo khoác mong manh, chẳng thấy là khổ.
Thời nay, thỉnh thoảng lại nghe mẹ than, sao khổ thể! rồi kể chuyện ngày xưa.
Thời nay, ăn cơm nào rau, nào đậu, cơm gạo thơm, chỉ thiếu thịt, cá, cả nhà than, sao khổ thế!
Bữa tối không ăn, sao khổ thế!
Ti vi không xem, bạn bè không gặp, sao khổ thế!
Bia không uống, rượu không ngửi, sao khổ thế!
Chỉ biết cười ngậm ngùi “than ôi, sao sướng thế!”

Hoa Nguyen Đứng một chân lâu như người theo Kỳ Na , chỉ ăn rất ít (nghe nói mỗi ngày ăn 7 hạt mè), hay chỉ sống và tu cô độc trong rừng với thú rừng là những hình thức khổ hạnh. Đi chân không giày dép, hay mỗi ngày ăn một bữa cũng là khổ hạnh. Khi qua TQ còn thêm cách nhất bộ nhất bái mà ngày nay còn thấy ở VN. Có thứ không nên theo.

Pāli Việt Vào Google gõ chữ silabbata paramasa cũng sẽ thấy có 2 lối giải thích: giải thích theo nghĩa của “giới cấm thủ” và giải thích theo ý nghĩa của từ Pali.

Hoa Nguyen Thật ra, giới của Phật giáo cũng dựa vào cách sống và tu khổ hạnh của người xuất gia theo đạo Bà la môn trước đó. Nhưng có nhiều giới, nghi thức, nghi lễ, cách tu tập của BLM Phật giáo không theo, hay còn phê phán. Khất thực là theo BLM, việc mặc áo phấn tảo thì đạo Kỳ Na còn đi xa hơn như không mặc quần áo, chỉ sống ở nghĩa điạ, (và chắc chắn như thế PG cho là giới cấm thủ), nhưng cạo râu tóc hình như chỉ thấy ở Phật giáo.

Kan Trần dạ thưa quý vị trong nhà,
con thấy chúng ta đang nói về “giới cấm thủ”, nhưng thú thực con không thấy bản kinh này liên quan gì tới “giới cấm thủ” cả.
trong bản dịch của Thầy Minh Châu có cụm từ “vô thủ trước Bát-niết-bàn” (anupadaparinibbana). Thầy Minh Châu dịch như vậy chúng ta nghe không quen. Thật ra nó chính là “vô y dư Niết-bàn”.

Ta biết các bộ phái chia Niết-bàn thành 2 loại:

– “hữu y dư Niết-bàn”: nói gọn, giống như lúc Đức Phật giác ngộ dưới cây bồ đề.
– “vô y dư Niết-bàn”: nói gọn, giống như lúc Đức Phật nhập diệt tại Kunishagar.

Ta cũng biết “vô y dư Niết-bàn” được xem là trạng thái giải thoát tối hậu, tuyệt đối.
Tóm lại, theo con, ý nghĩa của bài kinh này là: “bảy thanh tịnh” chỉ là phương tiện giúp đưa tới Niết-bàn tối hậu, chứ tự chúng không phải là Niết-bàn tối hậu.

Phạm Doãn   @Đạo hữu Binh Anson đã sưu tập được một số quan điểm giải thích về “Giới Cấm Thủ”. Có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau! Vậy mới biết Giáo Pháp của Phật không phải dễ hiểu. http://budsas.blogspot.com/2011_07_01_archive.html

Budsas: July 2011

budsas.blogspot.com

Kan Trần bây giờ bàn về tính thẩm quyền của bản kinh này. Có thật là “bảy thanh tịnh” phản ánh đúng tinh thần giáo pháp Đức Phật đã dạy? như con hiểu là chú Phạm Doãn đang “dụ” chúng ta nói ra suy nghĩ của mình về thẩm quyền của Thanh Tịnh Đạo Luận, heheh! cá nhân con thì thấy bài kinh này có 1 chỗ kỳ kỳ, đó là 2 loại Niết-bàn, vô y dư & hữu y dư, được nhắc tới. Suy nghĩ của con là: thời Đức Phật thì các vị không phân biệt 2 loại Niết-bàn như vậy, mà đó là cách làm của các luận sư A-tì-đàm sau này. Cho nên, cá nhân con đặt dấu hỏi về thẩm quyền của bản kinh này.

Về vấn đề “bảy thanh tịnh”, con không biết gì nên xin phép không bàn. Kính.

Phạm Doãn Hi Hi …vấn đề sắp “nổ” rồi đó Kan Trần . Tiếp đi. Ai cũng có quyền nghi vấn một bài kinh là original hay là fake. Vấn đề là chứng minh được hay không? Cái này ai có công lực, muốn chứng minh… thì chứng. Không ai dụ ai đâu nghe!

Hạnh Trương Giới cẩm thủ hay chứ, nên bàn alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1029″>

Đức Phật có nói , đại ý “Khi ta đã tuyên bố một học giới cho các đệ tử, các đệ tử ta kông được vượt qua học giới ấy, dù có phải mất mạng.” (Tăng Chi iv,201).

Như vậy không thể nói rằng việc tuân thủ tuyệt đối, cho dù có mất mạng đi nữa, gọi là giới cấm thủ. Ý là việc giữ giới tuyệt đối không phải nghĩa của cụm từ này.

Vậy nó chỉ có thể liên quan tới nghi thức, hình tướng, bề ngoài của một số giới chăng?

Nói giới có nghi lễ thì chưa hiểu, các đạo hữu có ai có thể chỉ ra giới nào có nghi lễ đi kèm không?

Kan Trần: Thanh Tịnh Đạo quá hay còn gì, mà hay tới đâu thì cũng không phải Kinh Phật ( như người tìm lõi cây, hihi ..), kệ xác chuyện thẩm quyền đi, ta cứ “đào” kinh thôi.

Kan Trần chú Phạm Doãn: hình như chúng ta ai cũng thích “chứng ngộ” hơn “chứng minh” mà chú, heheh!

anh Hạnh Trương: mình “đào kinh” từ ao nhà ra biển Niết-bàn coi bộ lâu quá anh Hạnh ơi! heheh!

Hạnh Trương Kan Trần, đâu thấy nói gì vô dư y và hữu dư y. Kinh chỉ có từ anupādāparinibbānanti, trong đó chữ parinibbāna là một chữ rất phổ biến.

Hạnh Trương Kiṃ nu kho āvuso sīlavisuddhi anupādāparinibbānanti.
No hidaṃ āvuso.

Đề nghị Kan Trần ra tay dịch kỹ câu này cho bà con, hihi

Kan Trần dạ anh Hạnh,
2 chữ đó nghĩa như nhau đó anh. Anh chờ chút xíu em lật sách Pali ra học rồi trả lời anh ngay ạ, heheh! alt=”:D” aria-label=grin title=”:D” v:shapes=”_x0000_i1030″>

Hoa Nguyen Có lẽ sau đây là “giới cấm thủ” theo quan điểm ở Bắc tông:
Giới cấm thủ: sīlavata-upādāna (grasping of rules and customs): Chấp thủ các giới cấm ngoại đạo – không phải giới luật của bậc Thánh. (– Hòa thượng Chơn Thiện, 2002)
Giới cấm thủ: nghĩa là làm theo lời răn cấm của ngoại đạo tà giáo. Nhưng sự răn cấm nầy nhiều khi thật vô lý, mê muội, dã man, không làm sao đưa người ta đến sự giải thoát được, thế mà vẫn có nhiều người tin và làm theo. Chẳng hạn như ở Ấn Độ, có phái ngoại đạo lấy đá dằn bụng, đứng một chân giữa trời nắng, nằm chỗ bẩn thỉu, leo lên cao nhảy xuống, gieo mình vào lửa, hay nhảy xuống sông trầm mình để được phước. Có đạo, mỗi năm lại bắt tín đồ giết một người để tế thần, hay như đạo của anh chàng Vô Não, phải giết một trăm người lấy một trăm ngón tay xâu làm chuỗi hạt mới đắc đạo. (– Hòa thượng Thiện Hoa, Phật học phổ thông)
Giới cấm thủ kiến: Giới đây là những kiêng cử, những cấm kỵ, những hình thức nghi lễ, những giáo điều hoặc những tín điều mà mình bị kẹt vào. Ví dụ mình tin rằng con bò là vật linh thiêng và mình không dám động tới nó. Hoặc tin rằng ông táo hay bình vôi là những vật thiêng liêng.

Kan Trần

1) trích PTS Dict.
anupādā (for anupādāya) in meaning “not taking up any more (fuel, so as to keep the fire of rebirth alive)”, not clinging to love of the world, or the kilesas q. v., having no more tendency to becoming; in phrases a. parinibbānaŋ “unsupported emancipation” M
(hết trích)

Kan:   nghĩa là: anupādāparinibbānaṃ là loại Niết-bàn không còn dính mắc (chấp thủ), nó chính là Vô y dư Niết-bàn (nirupadhisesa nirvana). Vậy, “Vô y dư Niết-bàn” và “vô thủ trước Niết-bàn” đồng nghĩa.

2) trích trang Pali-Việt: http://paliviet.info/VHoc/13/024.htm

258. Sīlavisuddhiṃ ce āvuso Bhagavā anupādāparinibbānaṃ paññapeyya (Paññāpessa – Sī, Syā; evamaññatthapi), sa-upādānaṃyeva samānaṃ anupādāparinibbānaṃ paññapeyya (Paññāpessa – Sī, Syā; evamaññatthapi).

Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn.
(hết trích)

Kan: đoạn này có mặt cả “Vô y dư Niết-bàn” (vô thủ trước Niết-bàn) lẫn “hữu thủ trước Niết-bàn”(upādānaṃyeva) vốn nghịch nghĩa với từ kia . Theo đó, “hữu thủ trước Niết-bàn” đồng nghĩa với “Hữu y dư Niết-bàn”.
Về ý nghĩa đoạn văn vừa trích, xin phép được giải thích sau.
anh Hạnh Trương: em làm sao dịch được anh, em không dám múa rìu đâu ạ! alt=”:D” aria-label=grin title=”:D” v:shapes=”_x0000_i1031″>

024. RATHAVINĪTASUTTAṂ – KINH TRẠM XE

paliviet.info

‎(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli – Việt)

Pāli Việt – Hữu dư Niết-bàn: chứng A-la-hán quả và vẫn còn sống (còn thân ngũ uẩn).
– Vô dư Niết Bàn: Khi thân ngũ uẩn của vị A-la-hán không còn tồn tại (nói nôm na là khi vị A-la-hán chết).

Phạm Doãn Như vậy tóm lại các comments Kan Trần muốn nói:
1. “ý nghĩa của bài kinh này là: “bảy thanh tịnh” chỉ là phương tiện giúp đưa tới Niết-bàn tối hậu, chứ tự chúng không phải là Niết-bàn tối hậu.”.
Nhưng:
2. Thày Thích Minh Châu thay vì dịch Vô Dư Niết Bàn (tức Vô Y Dư Niết bàn) lại dịch Vô Thủ trước Niết Bàn (làm cho khó hiểu? Có phải ý Kan Trần là như vậy không?

Thich Nu Nguyen Huong

Hạnh Trương! Trong bài kinh này nếu ví dụ về 7 Trạm xe để mô tả cho mối quan hệ của 7 thanh tịnh có chổ nào khó hiểu thì HT cũng có thể hình dung hay lấy ví dụ cái cầu Trường Tiền bắc qua con sông Hương thay vì có 6 vài thì ở đây mình có thể dụ cho 7 vài chì cho 7 thanh tịnh bổ sung và nối tiếp để giúp hành giả qua đến bờ bên kia, ở đây chỉ cho Niết Bàn. Một khi hành giả đã đến được bờ bên kia, chỉ cho Niết Bàn thì hành giả đó ở trong thế giới bên kia rồi, thế giới tịch tịnh Niết Bàn đâu còn cảnh sanh tử luân hồi, tham sân si…; ở đó 7thanh tịnh không còn là vấn đề luyện tập cho một bậc đã vào Niết bàn. Nếu trong kinh, luật, luận có chỗ nào khó hiểu khiến chúng ta có chỗ nghi, chỗ khó hiểu thì chúng ta có thể nhìn lại lịch sử của cuộc đời Đức Phật để minh chứng cho những điều còn tối nghĩa trong các bản dịch tam tạng. Ví dụ trong bài kinh này, chúng ta có thể lập luận như thế này dựa trên sử liệu đa số đáng tin cậy của cuộc đời đức Phật và đặc câu hỏi là: Sau khi thành đạo cho đến lúc nhập niết Bàn, trong suốt thời gian 49 năm hành đạo, Đức Phật Ngài có duy trì giới, định, tuệ, giải thoát… hay không? NH. nghĩ rằng với ví dụ cái cầu bắt ngang qua một con sông và bằng chứng lịch sử đức Phật về 49 năm hành đạo còn lại của đời Ngài sẽ làm sáng rõ phẩn nào về nội dung có chỗ hơi trừu tượng của bài kinh Trạm Xe này!

Hạnh Trương Theo ý sư cô NH là đức Phật trong từng ấy năm hành đạo ngài không duy trì giới, định, tuệ?
Cô nói “Một khi hành giả đã đến được bờ bên kia, chỉ cho Niết Bàn thì hành giả đó ở trong thế giới bên kia rồi, thế giới tịch tịnh Niết Bàn đâu còn cảnh sanh tử luân hồi, tham sân si…; ở đó 7thanh tịnh không còn là vấn đề luyện tập cho một bậc đã vào Niết bàn. ”
Còn nếu nói PARInibbāna thì e rằng ở đó các pháp hữu vi không có, cho nên không có chuyện gì để nói, cũng không có người nào ở đó để nói cả.
Hay ý cô là Đức Phật chưa tới bờ bên kia, vì trong 49 năm hành đạo ngài còn giới, còn định, còn tuệ? Và ngài chỉ thực sự tới bờ bên kia khi nhập Niết Bàn Vô Dư Y?

HT chưa hiểu ý Kan Trần về chữ vô thủ được hiểu là vô dư y.
Trong kinh hay gặp hai chữ, đó là nibbāna là Niết Bàn, và parinibbāna là Niết Bàn Hoàn Toàn, Trọn Vẹn, có thể đó chính là Vô Dư Y Niết Bàn?

Đã có pari~ để phân biệt, hà cớ chi hai vị phải thêm anupādā vào làm chi cho phức tạp, chưa hiểu lắm, hihi.

Thich Nu Nguyen Huong

Niết bàn có 2 loại: hữu dư y và vô dư y. Trong 49 năm thuyết pháp, đức Phật đang chứng hữu dư y, nên Ngài vẫn không từ bỏ giới, định, tuệ hay nói cho đủ Ngài thực hành đủ 7 thanh tịnh. Như một cái cầu bắc qua một dòng sông, một hành giả muốn qua được bờ bên kia, dụ cho Vô Dư Y Niết Bàn, thì không thể bỏ qua giới hoặc định hoặc tuệ. Cũng như 1 người muốn qua bên kia cái cầu thì không thể không bước qua 7 vài của cái cầu, cũng không thể chặt đứt hay hủy bỏ vài một khi tiến qua vài 2 hoặc khi tiến đến vài 3 chặt đứt vài 2… Nếu như thế thì người đó không thể qua được bên kia cầu. Và khi hành giả đạt Vô dư y niết bàn thì không có chi để mà luận bàn ở đó nữa. Vô dư y niết bàn, ở đó không còn mang thân sanh tử. Trong khi, một hành giả chứng Hữu dư y niết bàn, chỉ cho 1 vị A la hán còn đang mang thân ngũ uẩn đang chịu sự sanh tử từng sát na thì 7 thanh tịnh được vị ấy hành trì cho đến khi vị A la hán đó từ bỏ thân ngũ uẩn, tức pass away!Bằng chứng lịch sử cuộc đời của Đức Phật cũng như các thánh đệ tử A la hán của Ngài đã minh chứng điều đó!

Hạnh Trương Ví dụ về cái cầu của cô là cầu treo thôi, chứ cầu trụ bê tông thì chặt bỏ mấy khúc đã đi qua không ảnh hưởng tới việc sẽ qua bờ bên kia.

Hơn nữa, đức Phật có nói, “pháp còn phải bỏ huống hồ phi pháp”, cho nên chuyện nếu không cần có thể bỏ là bình thường.

Ngoài ra, các vị A- La -Hán cũng thốt lên một câu khi chứng đắc, trong đó có mấy chữ ” những gì cần làm đã làm”. Vậy “nên Ngài vẫn không từ bỏ giới, định, tuệ hay nói cho đủ Ngài thực hành đủ 7 thanh tịnh.” theo HT là không hợp lý.

Minh Quang ở bài kinh này các vị trưởng lão không thấy bàn về pháp hành,ở bài kinh(Sonadanda)đức phật dạy rõ hơn
”…Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh; người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời…

22. – Thật như vậy, này Bà-la-môn . Này Bà-la-môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời. Nhưng này Bà-la-môn, thế nào là giới hạnh, thế nào là trí tuệ ?

– Tôn giả Gotama, chúng tôi chỉ biết có vậy là tột bực về vấn đề này. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama giải thích ý nghĩa của câu nói ấy !

23. – Này Bà-la-môn, vậy hãy nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói.
– Tôn giả, xin vâng. Bà-la-môn Sonadanda trả lời đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn thuyết như sau:
– Này Bà-la-môn, ở đây đức Thế Tôn ra đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… (giống như kinh Sa-môn Quả, chương 40)… Này Bà-la-môn, như vậy vị Tỷ-kheo đầy đủ giới hạnh. Này Bà-la-môn, đó là giới hạnh.

… vị ấy chứng và trú sơ thiền… chứng và trú đệ nhị thiền… đệ tam thiền… chứng và trú đệ tứ thiền… tâm hướng đến tri kiến… Này Bà-la-môn như vậy là trí huệ [như kinh Sàmannaphala (Sa-môn Quả), từ chương 40 đến 63, và từ chương 75 đến chương 98]…”
http://quangduc.com/file_chinh/view_detail.php?ID=1134&bk_id=137&kind=kinh_pali

Trang nhà Quảng Đức – 4. Kinh Sonadanda

Phạm Doãn Ngài Sariputta đã nhìn toàn bộ sự tu tập đi đến Giác Ngộ chỉ như là các giai đoạn thanh tịnh (thanh tẩy) các ô nhiễm của TÂM.
Ý nghĩa chữ Thanh-Tịnh trong bài kinh, theo tôi, như ví dụ sau:
– Tôi đang giữ Giới, nhưng Giới của tôi chưa thanh tịnh- tôi phải “Thanh Tịnh Giới”. Điều này đồng nghĩa với tu tập Giới
– Tôi đang tập ly dục ly ác pháp nhưng Tâm chưa thanh tịnh – Tôi cần phải làm “Thanh Tịnh Tâm”. Điều này đồng nghĩa với tu tập ly dục ly ác pháp để có Định
– Tôi đã có quan điểm gần đúng về Vô Ngã, nhưng tôi chưa hoàn toàn thấy rõ sự thực về Vô Ngã – Tôi cần phải “Thanh Tịnh Kiến”. Điều này đồng nghĩa với tu tập về sự phân biệt Danh-Sắc,
Tương tự như vậy, tiếp theo là bốn giai đoạn Thanh Tịnh nữa. Cần có tất cả bảy giai đoạn để làm Thanh Tịnh toàn bộ tâm phàm phu trên con đường đi đến Niết Bàn.

Sau khi giác ngộ (đạt Hữu Dư Niết Bàn) Đức Phật và các vị A La Hán thường nói:
– “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm v.v…”
Việc tu tập đã xong, mọi thứ đều đã thanh tịnh hết, vậy đâu cần Bảy Thanh Tịnh nữa!
“Bảy Thanh Tịnh” là các giai đoạn tu tập cho những vị chưa thanh tịnh, chưa giác ngộ hoặc giác ngộ chưa hoàn toàn.

Đúng là cũng chưa hiểu hết ý cô Thich Nữ Nguyên Hương khi cô nói rằng:
“Trong 49 năm thuyết pháp, đức Phật đang chứng hữu dư y, nên Ngài vẫn không từ bỏ giới, định, tuệ hay nói cho đủ Ngài thực hành đủ 7 thanh tịnh.”

Vô Vô Không MA. ii. 156 nói, theo quan điểm của những vị cho rằng chấp thủ là do một nhân duyên, thì vô chấp thủ Bát Niết Bàn không do nhân duyên gì. Nếu vô vi bất tử không khởi lên do một nhân duyên, thì vô vi bất tử được xem là vô chấp thủ Bát niết bàn. Đó là mục đích tối hậu, tối cao (nitthà).
Kinh Àgama tương đương : Thất Xa Kinh (Đại 1.429c)
Nnarama Mahathera

Phạm Kim Khánh chuyển dịch
Trong trường hợp của bảy giai đoạn thanh lọc, “làm cho trong sạch” có nghĩa là loại bỏ những yếu tố bất thiện đối nghịch. Thanh Lọc Giới Ðức (giới tịnh) hàm ý là làm cho giới đức trong sạch bằng cách kiêng cữ, không để phạm những lỗi lầm bằng thân, khẩu và trong lối làm ăn sinh sống. Thanh Lọc Tâm (tâm tịnh) là làm cho tâm trong sạch bằng cách gội rửa tham dục, oán ghét, hôn trầm, phóng dật và xung đột hoài nghi không nhất quyết. Thanh Lọc Quan Kiến (kiến tịnh) là làm cho sự nhận thấy của mình trong sạch bằng cách đánh tan những quan kiến sai lầm méo mó. Thanh Lọc bằng cách Khắc Phục Hoài Nghi (đoạn nghi tịnh) là tiến đạt đến trạng thái trong sạch bằng cách chinh phục tất cả mọi hoài nghi về những sự việc trong những kiếp sinh tồn của vòng luân hồi. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy thế nào là Con-Ðường và thế nào là Không-Phải-Con-Ðường (đạo, phi đạo, tri kiến tịnh) là trạng thái trong sạch thành đạt bằng cách vượt qua khỏi những tình trạng mê loạn ảo huyền phát sanh trong khi hành thiền, hiểu biết và thấy rõ thế nào là Con-Ðường, và thế nào là Không-Phải-Con-Ðường. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy Con Ðường (đạo tri kiến tịnh) là trạng thái trong sạch sau khi đã tạm thời loại trừ những ô nhiễm ngăn trở Con Ðường Hành Thiền. Và cuối cùng, Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy (tri kiến tịnh) là tình trạng hoàn toàn trong sạch thành đạt bằng cách tận diệt mọi ô nhiễm cùng với những khuynh hướng ngủ ngầm của nó do những Con Ðường Siêu Thế (Thành Ðạo). Tri kiến tịnh bao gồm sự hiểu biết và nhận thấy bốn Con Ðường — Con Ðường Nhập Lưu (Tu Ðà Hườn Ðạo), Con Ðường Nhất Lai (Tư Ðà Hàm Ðạo), Con Ðường Bất Lai (A Na Hàm Ðạo) và Con Ðường A La Hán (A La Hán Ðạo).

Vô Vô Không D. iii. 214 Giải thích về Giới và Kiến thanh tịnh. MA. ii. 157 Dù tâm thanh tịnh là gì, đó là mục tiêu (attha), đó là tột đỉnh, đó là mục tiêu tối cao của giới thanh tịnh.
Chú thích Trung Bộ Kinh M24

Vô Vô Không Kính Bạch Sư Pāli Việt cho con hỏi: nisidàna: được các Sư dịch là tọa cụ, vậy thì nó có giống tọa cụ bây giờ người ta vẫn hay dùng kê ngồi thiền cho giảm bớt chèn ép chân không ạ? Con cám ơn Sư!

Kan Trần anh Hạnh Trương: ” HT chưa hiểu ý Kan Trần về chữ vô thủ được hiểu là vô dư y.
Trong kinh hay gặp hai chữ, đó là nibbāna là Niết Bàn, và parinibbāna là Niết Bàn Hoàn Toàn, Trọn Vẹn, có thể đó chính là Vô Dư Y Niết Bàn?

Đã có pari~ để phân biệt, hà cớ chi hai vị phải thêm anupādā vào làm chi cho phức tạp, chưa hiểu lắm, hihi. ”
(hết trích)
dạ đúng anh,
anupadaparinibbana = anupada + pari + nibbana = không dính mắc (chấp thủ) + trọn vẹn (hoàn toàn) + niết-bàn = niết bàn trọn vẹn, không có dính mắc.
cho nên nó chính là Vô dư Niết-bàn đó anh.
trong comment trên anh có nhắc lại chuyện “cái bè” (pháp còn phải bỏ nữa là phi pháp), chỗ này em thấy rất lý thú, sẽ còm sau anh ạ!

Kan Trần   @chú Phạm Doãn: ” Như vậy tóm lại các comments Kan Trần muốn nói:
1. “ý nghĩa của bài kinh này là: “bảy thanh tịnh” chỉ là phương tiện giúp đưa tới Niết-bàn tối hậu, chứ tự chúng không phải là Niết-bàn tối hậu.”.
Nhưng:
2. Thày Thích Minh Châu thay vì dịch Vô Dư Niết Bàn (tức Vô Y Dư Niết bàn) lại dịch Vô Thủ trước Niết Bàn (làm cho khó hiểu? Có phải ý Kan Trần là như vậy không? ”
(hết trích)
dạ thưa chú,
con không biết là tại thời điểm Thầy Minh Châu dịch bài kinh này thì từ nào trong hai từ trên được dùng phổ biến hơn? hay “vô thủ trước Niết-bàn” là 1 từ mới do Thầy dịch ra?
hiện nay thì rõ ràng chúng ta quen thuộc với từ Vô dư Niết-bàn hơn, nên con nhắc lại ở đây. con nghĩ 2 chữ này đều cùng 1 nghĩa, như con đã trao đổi với anh Hạnh phần trên.

Pāli Việt Nisīdanaṃ nt. việc ngồi xuống, tọa cụ, chỗ ngồi, vải, vật trải ngồi. Theo nhiều ngữ cảnh được thấy ở Tạng Luật, nisīdanaṃ dùng cho tỳ khưu được ghi nhận là một tấm vải, có đường viền, dùng đễ lót ngồi, và là 1 trong những dụng cụ thiết thân của vị tỳ khưu (nếu nặng và cồng kềnh quá làm sao vác theo khi đi bộ đường xa). Theo nghĩa của từ thì các tọa cụ ở thiền đường cũng đươc gọi là nisīdanaṃ.

Vô Vô Không Cảm ơn Sư! Con hỏi vì trước đây cũng có nghe bàn về chuyện cái bồ đoàn, có lẽ do nhu cầu phát triển và thực tiển nên có thay đổi từ cỏ Kusa sang tấm vải và tới bồ đoàn. _()_

Pāli Việt

NÊN XEM LẠI ĐOAN VĂN NÀY:
258. Sīlavisuddhiṃ ce āvuso Bhagavā anupādāparinibbānaṃ paññapeyya, sa-upādānaṃyeva samānaṃ anupādāparinibbānaṃ paññapeyya.
— Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn.
NHẬN XÉT:
CỤM TỪ CUỐI <hữu thủ trước Bát-niết-bàn> CHỈ LÀ TỪ <sa-upādānaṃyeva> (KHÔNG CÓ Bát-niết-bàn Ở ĐÂY)
TẠM GHI LẠI LỜI DỊCH TIẾNG VIỆT NHƯ SAU:
— Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là Niết Bàn không còn chấp thủ thì Ngài cũng tuyên bố <CHÍNH CÁI VẪN CÒN CHẤP THỦ> là đồng đẳng với Niết Bàn không còn chấp thủ.

Kan Trần  @Sư cô Thich Nu Nguyen Huong: “Niết bàn có 2 loại: hữu dư y và vô dư y. Trong 49 năm thuyết pháp, đức Phật đang chứng hữu dư y, nên Ngài vẫn không từ bỏ giới, định, tuệ hay nói cho đủ Ngài thực hành đủ 7 thanh tịnh… ”

dạ thưa Sư cô,

con không nghĩ rằng Đức Phật “vẫn không từ bỏ giới, định, tuệ hay nói cho đủ Ngài thực hành đủ 7 thanh tịnh” như SC viết ạ.

vấn đề chính là ở chỗ phân biệt Hữu dư – Vô dư Niết-bàn. Như đã đề cập ở trên, con không cho rằng Đức Phật phân biệt như vậy, mà là các luận sư đời sau đã làm việc này. Bởi việc phân chia như vậy làm nảy sinh những vấn đề sau đây:

Vô dư được phân biệt với Hữu dư ở chỗ không còn tàn dư, không còn dính mắc chấp thủ nào. Cụ thể ở đây là không còn dính mắc vào thân ngũ uẩn, hay cụ thể hơn nữa là không dính vào Sắc nữa. Tuy nhiên:

– NGAY tại thời điểm Đức Phật giác ngộ hay nhập diệt, thì đều còn Sắc thân hiện diện. Vậy Vô dư khác Hữu dư chỗ nào?

– BÂY GIỜ sau 2500 năm, chúng ta vẫn còn được nhìn thấy Sắc thân Phật, đó chính là các xá-lợi, nghĩa là Sắc thân Phật vẫn hiện diện. Vậy Vô dư khác Hữu dư chỗ nào?

– Tại thời điểm Đức Phật thành đạo cũng như chuyển pháp luân, ta không hề thấy Ngài nói gì tới Hữu dư và Vô dư Niết-bàn cả. Chỉ có Niết-bàn mà thôi.

Mặt khác, nếu Ngài đã giác ngộ mà Ngài vẫn “tác ý” không từ bỏ giới định tuệ hay “bảy thanh tịnh” v.v. thì khác nào Ngài vẫn còn dính mắc vào chúng? chưa hết, từ ý kiến của SC, SC nghĩ sao nếu con suy luận rằng: Ngài vẫn giữ bởi vì nếu Ngài không tiếp tục giữ, hành trì pháp XYZ v.v. thì Ngài sẽ “tụt” khỏi trạng thái giác ngộ chăng?
Kính.

Thich Nu Nguyen Huong đúng rồi!

Thuận Pháp Dhammiko Theo TP biết “Vô thủ trước Niết-bàn” không dính dáng gì đến Hưu dư y Niết-bàn hay Vô dư y Niết-bàn!!! Nghĩa đại khái là tư kiến cho rằng đây là NIết-bàn hay kia là Niết-bàn nhưng nó không phải là Niết-bàn trong đạo Phật.

Kan Trần dạ thưa Sư Pāli Việt: nhận xét vừa rồi của Sư hay quá Sư ơi! alt=”:-)” aria-label=smile title=”:-)” v:shapes=”_x0000_i1033″>

Hạnh Trương Nếu gán chữ dính mắc vào Niết bàn, coi nó là một thuộc tính của Niết Bàn thì không ổn. Thứ Niết Bàn gì lạ vậy, hihi.
Có hợp lý hơn khi hiểu là ” A dính mắc, chấp thủ vào B” không?

Hạnh Trương <<Kan Trần : SC nghĩ sao nếu con suy luận rằng: Ngài vẫn giữ bởi vì nếu Ngài không tiếp tục giữ, hành trì pháp XYZ v.v. thì Ngài sẽ “tụt” khỏi trạng thái giác ngộ chăng?
Thich Nu Nguyen Huong đúng rồi! >>
Cô nói đúng có phải là cho ý trên của Kan không ?

Thich Nu Nguyen Huong Lấy lịch sử Đức Phật ra mà đối chiếu với nội dung của kinh xem có chỗ nào mâu thuẫn không? Nếu hay hơn nữa là lấy trãi nghiệm tu tập của mình đem ra mà xác chứng! Ví dụ: Trước khi ngồi thiền, hành giả uống một chai rựu thí nghiệm xem mình có vào được tầng Định thứ mấy ,.. thì biết liền à?! …

Hạnh Trương Vụ này lạ nha, hành giả nào mà thí nghiệm vậy ta, hehe

Hạnh Trương Ý của cô NH về lấy lịch sử đức Phật để đối chiếu là không có cơ sở, lý do là lịch sử đức Phật chỉ có rải rác trong một số cuốn của tạng kinh và tạng luật là những thứ khả tín. Ngoài ra, tất cả các lịch sử khác đều có thể và nên nghi ngờ tính xác thực của nó.
Đức Phật từng nhiều lần tuyên bố về mình, từng nhiều lần rống lên tiếng rống sư tử… và chúng ta nghĩ rằng ngài còn cần phải tu tập abc?
Về chuyện tại sao ngài lại không làm chuyện bất thiện thì kinh cũng đã nói rồi. Như một người vừa nhảy lên từ hố phân, liệu người đó có nhảy lại vào nó nữa không? Chỉ đơn giản vậy thôi. Những gì cần làm đã làm. Hết việc của các vị. Việc các vị còn tồn tại với thân ngũ uẩn, chỉ là như ngài Sariputta nói ” như người làm công chờ tới ngày nhận lương”.

Hạnh Trương Pāli Việt <<TẠM GHI LẠI LỜI DỊCH TIẾNG VIỆT NHƯ SAU:
— Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là Niết Bàn không còn chấp thủ >>
Con thấy khái niệm “Niết bàn không còn chấp thủ” không phù hợp với ý chính của bài kinh Sư ạ.
Niết bàn là Niết bàn, không có lý khi gán cho Niết Bàn bất cứ tính chất nào cả.

Pāli Việt Không thích dịch thì giữ nguyên cụm từ anupādāparinibbānaṃ là xong chuyện.

Thich Nu Nguyen Huong Tùy hạnh nguyện của vị ấy! Một vị tu tập thành công có thể làm chủ được sanh tử, nếu vị ấy muốn phát nguyện tái sanh để hóa độ, vị ấy cũng có thể làm được!

Hạnh Trương Giữ nguyên thì dễ mà Sư, vấn đề là hiểu nghĩa nó thế nào. Chữ anupādā là tính từ hay là gì khác ở đây ạ?

Pāli Việt CŨNG CẦN XEM LẠI ĐOAN CHUYỂN TIẾP NÀY:
Aññatra ce āvuso imehi dhammehi anupādāparinibbānaṃ abhavissa, puthujjano parinibbāyeyya. Puthujjano hi āvuso aññatra imehi dhammehi.
Hiền giả, và nếu Thế Tôn tuyên bố cái gì ngoài các pháp ấy là vô thủ trước Bát-niết-bàn, thì kẻ phàm phu có thể Bát-niết-bàn, vì này Hiền giả, phàm phu là ngoài các pháp ấy.

TẠM DỊCH LẠI NHƯ SAU:
Này hiền giả, nếu anupādāparinibbānaṃ (Niết Bàn không còn chấp thủ) có thể thành tựu không cần các pháp ấy (giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, v.v…), thì phàm phu có thể thành tựu anupādāparinibbānaṃ (Niết Bàn không còn chấp thủ). Này hiền giả, bởi vì phàm phu là không có các pháp ấy.

Hạnh Trương puthujjano parinibbāyeyya, con không thấy chữ anupādā ở đây ạ.

Thuận Pháp Dhammiko Có vị đạt được sự an lạc do giữ giới rất nghiêm mật nên cho đạt được sự an lạc đó là đắc Niết-bàn rồi. Có vị niệm Phật có thể thấy cảnh giới thanh tịnh như cảnh tiên cũng cho là thấy cảnh Niết-bàn rồi. Cũng có vị sống trong tầng định mà mình đắc được cũng rất an lành nên cho đó là trạng thái của Niết-bàn. Và có vị do tu tập Vipassanā mà có thời gian giữa được chánh niệm rất sâu cũng cho là đắc đạo và Niết-bàn rồi. Có thể cho đó là “Hữu thủ trước bác Niết-bàn”!

Thich Nu Nguyen Huong Một người viết lịch sử của đức Phật thành công không phải chỉ dựa vào tam tạng Pali mà còn dựa vào các cơ sở chứng cứ khác một cách có khoa học nữa. Như trụ đá vua A dục, nguồn gốc chữ Pali…?

Pāli Việt THÊM ĐOAN VĂN NÀY NỮA:
… sīlavisuddhi yāvadeva cittavisuddhatthā. Cittavisuddhi yāvadeva diṭṭhivisuddhatthā …
… giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh …

… purity in terms of virtue is simply for the sake of purity in terms of mind. Purity in terms of mind is simply for the sake of purity in terms of view. … (Ven. Thanissaro)
… purification of virtue is for the sake of reaching purification of mind; purification of mind is for the sake of reaching purification of view; … (Ven. Bhikkhu Bodhi)

Hạnh Trương “Nếu có pháp nào khác ngoài các pháp ấy ( n thanh tịnh pháp) có thể khiến không upādāparinibbānaṃ thì phàm phu (đã ) có thể parinibbānaṃ, vì phàm phu (có các pháp) ngoài các pháp ấy”

Con hiểu như thế có bị sai chữ trong pali không ạ?

Phạm Doãn Như vậy, có hai cách hiểu về Tâm của một vị sau khi đã giác ngộ quả vị A La Hán:
1. Vị A La Hán ấy vẫn tiếp tục thanh tịnh tâm, tiếp tục giữ giới, tiếp tục thiền định, tiếp tục tu tập.v.v…
2. Vị A La Hán là vị đã hoàn toàn “xong việc”. Tâm vị ấy không còn lậu hoặc. Vị ấy không cần sợ phạm giới nữa vì Qui trình Tâm vị ấy đã vận hành khác đi (không còn trong Dục Giới nữa) kể từ thời khắc giác ngộ, tức thời điểm xuất hiện sát na tâm chuyển tộc (gotrabhu)
Hiện thời trên PLCĐ có hai quan điểm khác nhau như thế, nhưng chưa biết chính xác quan điểm nào là đa số!

– Tôi đồng ý thiền Định thì có thể mất đi (như cô TN. Nguyên Hương lấy ví dụ lúc uống rượu v.v…). Tôi nghĩ, thậm chi không cần uống rượu, mà chỉ cần tranh cãi căng thẳng trên PLCĐ, thì vẫn có thể mất thiền định dễ dàng.
– Nhưng tôi không tin rằng một Bậc Thánh có thể phạm giới hay vì không tu tập nữa, mà quay lại trạng thái phàm phu.
– Không kể Bậc A La Hán, ngay một vị thánh Nhập Lưu có MUỐN thế nào đi nữa, cũng không thể quay lại trạng thái tâm phàm phu được nữa. Đã “nhập lưu”, đã “theo dòng” là cứ PHẢI trôi (thêm vài kiếp nữa) đến Niết Bàn. Đã “lỡ” nhập lưu rồi thì phải ráng chịu! Không cách nào quay ngược trở lại nữa! Như đường một chiều vậy alt=”:P” aria-label=tongue title=”:P” v:shapes=”_x0000_i1034″>

Thuận Pháp Dhammiko Quả đã chín muồi và rụng xuống rồi thì không thể bắt nó trở lại dính trên cành cây được. Một bậc Thánh A-ra-hán dù có ở trên thế gian này một mình cũng không phạm vào một lỗi dù nhỏ nhất, bởi vậy nên gọi là “bậc Vô học”, còn nếu Ngài còn giữ giới thì chưa phải là bậc Vô học.

Vô Vô Không Hữu dư niết-bàn (有餘涅槃; sa. sopadhiśeṣa-nirvāṇa, pi.savupadisesa-nibbāna): Niết-bàn còn tàn dư, Niết-bàn trước khi tịch diệt. Niết-bàn này là trạng thái của các bậc thánh nhân đã dứt bỏ mọi Phiền não, không còn tái sinh. Các vị này còn sống trên đời nên vẫn còn Ngũ uẩn, còn có nhân trạng nên gọi “hữu dư”. Trong Hữu dư niết-bàn hành giả còn khổ vì còn chịu nghiệp cũ. Có lúc hành giả thoát được cái khổ đó một cách tạm thời trong một số tình trạng thiền định nhất định. Từ quan điểm Hữu dư Niết-bàn này của Tiểu thừa mà phát sinh khái niệm Niết-bàn vô trụ (sa. apratiṣṭhita-nirvāṇa) của Đại thừa.

Vô dư niết-bàn (zh. 無餘涅槃, sa. nirupadhiśeṣa-nirvāṇa, pi. anupadisesa-nibbāna): là Niết-bàn không còn ngũ uẩn (sa. pañca-skandha), mười hai xứ (sa., pi. āyatana), mười tám giới (sa., pi. dhātu) và các Căn (sa., pi. indriya). Niết-bàn vô dư đến với một vị A-la-hán sau khi chết, không còn tái sinh. Loại Niết-bàn này cũng được gọi là Bát-niết-bàn (般涅槃, sa. parinirvāṇa), là Niết-bàn toàn phần.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ni%E1%BA%BFt-b%C3%A0n

Pāli Việt

THỂ THỤ ĐỘNG – VÌ SAO ? VÌ SAO ? VÌ SAO ?
– Ngay từ đầu mỗi bài Kinh: Evaṃ me sutaṃ thì đã được ghi lại ở thể thụ động = Như vầy đã được nghe bởi tôi (tại sao Pali không diễn tả là: “Tôi đã nghe như vầy”).
– Kāḷiyā dāsiyā etadahosi = điều này đã khởi đến nữ tỳ Kali (nói theo tiếng Việt là “Nữ tỳ Kali đã suy nghĩ rằng”)
– Giờ câu Pāli dưới đây cũng vậy: brahmacariyaṃ vussati = Phạm hạnh được sống … cũng ở thể thụ động (không ghi là “… sống Phạm hạnh” như lối diễn tả của tiếng Việt).
— Kiṃ nu kho āvuso sīlavisuddhatthaṃ Bhagavati brahmacariyaṃ vussatīti (xem ở #257)
— “And is the holy life lived under the Blessed One for the sake of purity in terms of virtue?” (Ven. Thanissaro)
— “But friend, is it for the sake of purification of virtue that the holy life is lived under the Blessed One?” (Ven. Bhikkhu Bodhi)
— Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh? (HT. Thích Minh Châu)

Phạm Doãn Sau “Giới Thanh Tịnh”
đến “Tâm Thanh Tịnh”.
Sau đó, thì còn nhiều giai đoạn tu tập, tức nhiều “trạm xe” nữa …mới đến mục đích thực sự của Chánh Pháp.
Năm “trạm xe” sau Tâm Thanh Tịnh (tức Bốn Thiền) gồm:
– Kiến Thanh Tịnh
– Đoạn Nghi Thanh Tịnh
– Đạo-Phi Đạo Tri Kiên Thanh Tịnh
– Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh
– Tri Kiến Thanh Tịnh
– Năm “tram xe” là một quy trình tu tập hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi không thống nhất !!!
– Lý do: không có bài kinh nào mô tả “chi tiết” năm giai đoạn thanh tịnh này phải được thục hành “cụ thể” như thế nào!

Khi Đức Phật thực hiện Đại Giác Ngộ, ngài chỉ kể lại “diễn tiến đi đến sự giác ngộ” vắn tắt như trong các bài kinh Trung Bộ MN 004, MN 036, MN 039, MN 085…
Sự mô tả qui trình đi từ Tứ thiền đến lúc đạt được Ba Minh (theo mô tả của ngài Sariputta là năm trạm xe cuối)
như sau:
“Xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Bà-la-môn, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Ðây là khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.

Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Bà-la-môn trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.”

Mời quí đạo hữu (từ nhiều quan điểm tu tập khác nhau) đóng góp thông tin và comments về BÍ ẨN của giai đoạn Thực Hiện Tam-Minh (Tivijjā). Người tu cần phải có sẵn năng lực gì? Thực hiện các minh theo phương cách nào? hoặc thứ tự nào?

Kan Trần dạ anh Hạnh Trương,
như em có nói anh hồi chiều, bản kinh Trạm xe này có phần kết như sau:
“Tôi đang luận bàn với bậc đệ tử được xem là NGANG HÀNG (Kan viết hoa để nhấn mạnh) với bậc Ðạo Sư mà không được biết là Tôn giả Sariputta…”
và Sư Chơn Thiện có còm như sau:

– Điểm thứ nhất: Tôn giả Mãn Từ Tử tán thán Tôn giả Xá Lợi Phất với lời tán thán đặc biệt. Khó tìm thấy ở các bản kinh Nikàya, A Hàm và Phát triển, rằng: “Tôi đang luận bàn với bậc đệ tử được xem là ngang hàng với Bậc Đạo Sư mà không được biết là Tôn giả Sàriputta”. Thế là kinh đã tiết lộ Tôn giả Xá Lợi Phất ở cận kề quả vị Phật, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đây hẳn là thời điểm gần thời điểm nhập Vô dư y Niết bàn của Tôn giả Xá Lợi Phất vào cuối cuộc đời. Đây cũng là điểm xác nhận Tôn giả Xá Lợi Phất đã vượt qua giới hạn của một A la hán Thanh văn đệ tử.

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-024.htm
(hết trích)

Ý kiến của em về lời bình của Sư Chơn Thiện:
– Đúng là hồi giờ em đọc kinh em chưa thấy sự “so sánh ngang hàng” như được chép trong kinh này lần nào.
– Có hay không việc các nhà biên tập đã “đẩy” Ngài Sariputta lên địa vị ngang hàng Phật để nhấn mạnh rằng, quả A-la-hán là tương đương quả Phật?
– Sư Chơn Thiện bình “tôn giả Xá Lợi Phất đã vượt qua giới hạn của một A la hán Thanh văn đệ tử” là không chính xác, bởi ta biết trong hệ kinh điển Agama/Nikaya thì không có khái niệm Thanh văn (sravaka) là 1 A-la-hán. Chữ “thanh văn” là do các vị Đại thừa đưa ra và gán quả A-la-hán cho nó, với mục đích hạ thấp quả vị này.

Trung Bo giang giai – Kinh so 24

Kan Trần dạ chú Phạm Doãn,
như con đã nói lần trước, dấu vết về “Vô dư Niết-bàn” cộng với vấn đề “Phật – Ngài Sariputta ngang hàng” làm con nghĩ rằng bản kinh này có dấu hiệu biên tập hiệu chỉnh khá mạnh.
về vấn đề “tam minh”, con sẽ coi lại các tài liệu xem có thông tin gì đáng chú ý, con sẽ đưa lên đây chú tham khảo ạ. Kính.

Hạnh Trương Việc ngài Sariputta được đánh giá cao có nhiều trong kinh Pali, từ việc ngài là bậc trí tuệ bậc nhất ( đã là nhất thì phải hơn các vị A-La-Hán khác về trí tuệ), ngoài ra, ngài còn có khả năng chân chánh vận chuyển pháp luân, sau đức Phật, có thể vì khả năng này mà vị Mãn Tử Từ nói như đã dẫn. ( ngang hàng về năng lực vận chuyển pháp luân )
Nếu tách rời trạng thái giải thoát ra khỏi năng lực thì sẽ có thể rõ hơn chăng ?

Phạm Doãn Kan Trần “…bản kinh này có dấu hiệu biên tập hiệu chỉnh khá mạnh. “. Kan Trần cố gắng trình bày vấn đề này một cách rõ ràng nhé! Nhiều người trông ngóng sự giải thích lắm đó!

Hoa Nguyen Tóm lược lời dạy của Tôn giả Sariputta:
” giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh; kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đoạn nghi thanh tịnh; đoạn nghi thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo tri kiến thanh tịnh; đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tri kiến thanh tịnh; tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) vô thủ trước Bát-niết-bàn. Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn”.
Măc dù được giải thích lời kinh trên bao gồm cả Giới Định Tuệ, nhưng Giới chỉ nói tới ở thanh tịnh 1, và Định cũng chỉ ở Tâm thanh tịnh (2), còn các “thanh tịnh ” khác đều thuộc Tuệ. Như vây có quân bình không ? Hay vì ngài XLP là bậc trí tuệ đệ nhất trong các đệ tử Phật, nên trong bài pháp thiên về Trí Tuệ nhiều hơn ?
NI sư Thích Nữ Trí Hải viết:
– Mặc dù trong Trường Bộ kinh 3, 288, cũng nói đến bảy thanh tịnh và hai thanh tịnh khác nữa là tuệ và giải thoát, có điều lạ là không chỗ nào khác trong Nikàya đề cập Bảy thanh tịnh”.
Vậy có câu hỏi là lời dạy của ngài Xá lợi Phất có phù hợp (sít sao) với lời Phật dạy từ trước không, hay là “sáng kiến” riêng của ngài. Dùng Thanh Tịnh đạo viết ở thế kỷ 5 công nguyên (900 năm sau) để giải thích kinh này tôi thấy không thích hợp (tuy có thể giúp làm sáng tỏ ý kinh).Kan Trần Dạ anh Hạnh,

Em ghi chú chỗ này, đó là “phân biệt trí tuệ giữa các vị A-la-hán”, em ghi cho khỏi quên rồi mai anh em mình bàn tiếp. Giờ em không viết trên pc nên chậm lắm anh ạ.

Kan Trần Dạ chú Phạm Doãn,

Con sẽ cố gắng tập hợp các thông tin rồi trình bày lần lượt, theo cái con biết trong khả năng của mình ạ.

Hoa Nguyen   @Phạm Doãn :”Vấn đề là tư tưởng của Ngài Sariputta và tôn giả Punna Mantaniputta có tin cậy được hay không?”.

  • Chú thích trong bản kinh tiếng Anh bên dưới (lấy trên trang nhà BuddhaShasana) cho biết “Bảy Thanh Tịnh” nguyên thủy có thể từ các giáo phái Phi-Phật giáo được các đệ tử Phật chấp nhận hay đưa vào Phật giáo. Đây là hình thức đạo Phật mở rộng nếu không phải là phát triển. Không phải là “…bản kinh này có dấu hiệu biên tập hiệu chỉnh khá mạnh ” (Kan Trần). Các dẫn chứng nêu lên không cho thấy rõ Thanh Tịnh Đạo chịu ảnh hưởng bởi cách phân chia các bước tu (đạo lộ) thành 7 thanh tịnh thế này. Như đã viết, ở đây Tuệ chiếm một vị thế và thành phần cao, vượt trội trong cách phân biệt, đánh giá, khi so với Giới và Định, vì vậy mà thiếu tương xứng, cân bằng, ?( Ven. Sariputta and Ven. Punna speak of this list of seven purities — purity in terms of virtue, mind, view, the overcoming of perplexity, knowledge and vision of what is and is not the path, knowledge and vision of the way, and knowledge and vision — as if it were a teaching familiar to both of them, and yet nowhere else is it mentioned as a Buddhist teaching in the discourses. The Atthaka Vagga (Sn IV), however, mentions various non-Buddhist sectarians who spoke of purity as the goal of their teaching and who variously defined that purity in terms of virtue, view, knowledge, and practice. Perhaps the seven types of purity listed in this discourse were originally non-Buddhist teachings that were adopted by the early Buddhist community and adapted to their own purpose for showing that these seven forms of purity functioned not as a goal of practice but as stages along the path to that goal. At any rate, this list of the seven purities formed the framework for Buddhaghosa’s Visuddhimagga (The Path of Purity), the cornerstone of his Pali commentaries, in which the seven purities cover all three parts of the threefold training in virtue, concentration, and discernment).

Phạm Doãn

–          Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga) không phải chỉ là tri kiến riêng của ngài BUDDHAGHOSA.
– Trước đó các giai đoạn tu tập để đạt giải thoát Niết Bàn đã được Ngài UPATISSA giải thích theo một mô hình giống như vậy trong Giải Thoát Đạo Luận (Vimutti-magga).
– Và cả hai vị đã căn cứ vào cách giải thích của Phân Tích Đạo (tức Vô Ngại Giải Đạo) và Vi Diệu Pháp.
(Chú ý: Trung Bộ kinh, Vi Diệu Pháp, Phân Tích Đạo là những tư liệu có liên quan mật thiết đến Ngài Sariputta)

– Upatissa Thera: Sometimes called Arahā Upatissa, author of the Vimuttimagga (P.L.C. 86). He probably lived about the first century B.C. J.P.T.S. 1919, pp.69ff; see also NidA. (P.T.S.); introd. vi f.
– Giải Thoát Đạo Luận (Vimutti-magga) đã mất bản Pali (?) chỉ còn bản Hán tạng. Bản dịch Việt:

–          http://phathoc.net/thu-vien/luan/luan-tang-nam-truyen/774643_giai_thoat_dao_luan_vimutti_magga.aspx

–          Phật Học Online – Thư Viện – Giải thoát đạo luận Vimutti Magga

–          phathoc.net

–          Người muốn thoát các khó khăn, muốn cởi được mọi ràng buộc, muốn thành tựu…See More

Phật Học Online – Thư Viện – Giải thoát đạo luận Vimutti Magga

Hoa Nguyen Mối liên quan giữa Thanh Tịnh Đạo và Giải thoát đạo rất lạ lùng, đáng quan tâm tìm hiểu. Cả hai tác giả đều từ Ấn Độ đến Tích Lan. Riêng ngài Buddhaghosa (Trung Quốc dịch là Phật Âm hay Giác âm) được cơ duyên đọc biết (gần hết) Tam tạng kinh điển tại Tích Lan, nên tác phẩm Thanh Tịnh đạo dày hơn, với rất nhiều trích dẫn kinh Phật, Vi Diệu pháp để chứng minh từng chi tiết (nhờ thế đọc Thanh Tịnh đạo cũng đọc biết được nhiều kinh luận Nam tông). Đó là chỗ khác nhau đáng nói nhất. Có thể cả hai dựa trên một nguồn nào trước đó (mà nay không còn), và Thanh Tịnh đạo phát triển thêm nhiều. Nếu muốn đọc bản luận ngắn gọn thì tìm Giải Thoát đạo, còn bản đầy đủ hơn thì ở Thanh Tịnh Đạo. Có điều rất đáng tiếc là Giải thoát luận trước đây không được nghe nhắc tới nhiều trong thiền giới Trung Hoa, và gần đây mới được “khám phá” tại Trung Quốc bởi các nhà nghiên cứu tây phương và Tích Lan.

Ba Nguyen  @ Phạm Doãn: Năm “trạm xe” là một quy trình tu tập hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi không thống nhất !!! Lý do: không có bài kinh nào mô tả “chi tiết” năm giai đoạn thanh tịnh này phải được thục hành “cụ thể” như thế nào! — Tôi thấy nhận xét này khách quan và chính xác, không có bài kinh nào mô tả chi tiết, cụ thể cách thực hành như thế nào. Nhiều lời giải thích, nói thay Sariputta suốt 26 thế kỷ. Liệu có thể đáng tin cậy những lời nói thay ngài Sariputta này không?
Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga) không phải chỉ là tri kiến riêng của ngài BUDDHAGHOSA. — Tôi thấy nhận xét này đúng, đa số người ta nhầm Thanh Tịnh Đạo là tri kiến của ngài Buddhaghosa, người Âu Mỹ cũng nhầm như vậy. Riêng người theo PG Bắc Tông có thể đọc được chữ Hán, có điều kiện tiếp xúc tác phẩm Giải Thoát Đạo Luận của Upatissa này nhiều hơn.

Hoa Nguyen Thử hỏi ngài Buddhaghosa viết Thanh Tịnh đạo cho ai đọc ? Có phải là để cho các sư (hay Phât giáo) Tích Lan, nên ngài phải dành phần lớn tác phẩm ghi chép những trích dẫn để chứng minh các “pháp hành” trình bày là đúng với kinh diển và Vi Diệu pháp ? Xét ra, một bản luận dạy hành thiền không cần đến nhiều dẫn chứng kinh điển như thế (khiến cho Thanh Tịnh đạo không phải dễ đọc).

Hai Long Con cảm nhận bài kinh này lạ lạ, cũng có nhiều từ con chưa hiểu như “vô thủ trước niết bàn”, vô thủ là gì?

Pāli Việt Hạnh Trương ơi, đã tìm ra ý nghĩ của “vô thủ trước niết bàn” (anupādāparinibbānaṃ) chưa? Có Hai Long hỏi nè.

Ba Nguyen Hai Long: HL đọc comment của các anh và của Sư phía trên, tìm chỗ giải thích chữ anupādāparinibbāna.

Kan Trần Trích ý kiến của Thầy Minh Châu về “Vô thủ trước Niết-bàn”

2. Bảy thanh tịnh:
Bảy thanh tịnh được đề cập trong NC20 như sau:
C9: (12a,38): Tôn giả Xá-lợi-tử vào buổi chiều ra khỏi thiền định đi đến nơi Tôn giả Mãn Từ Tử, chào hỏi rồi ngồi xuống một bên và hỏi Tôn giả Mãn Từ Tử : Này hiền giả, có phải hiền giả đang sống đời phạm hạnh dưới Sa-môn Cù Đàm? – Thưa vâng. Hiền giả, có phải hiền giả sống đời phạm hạnh dưới Sa-môn Cù Đàm để được giới thanh tịnh? – Không. Có phải vì tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh, đoạn nghi thanh tịnh, tri kiến thanh tịnh, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì dĩ đạo tích đoạn trí tịnh (sự thanh tịnh khởi lên do trí tuệ đoạn trừ lậu hoặc để đi sâu vào đạo) mà hiền giả sống đời phạm hạnh dưới Sa-môn Cù Đàm? – Không. Hiền giả, tôi đã hỏi, có phải hiền giả sống đời phạm hạnh dưới Sa-môn Cù Đàm, hiền giả trả lời phải. Khi tôi hỏi có phải vì giới thanh tịnh, vì tâm thanh tịnh….. mà hiền giả sống đời phạm hạnh dưới Sa-môn Cù Đàm, hiền giả đều trả lời không. Vậy hiền giả vì mục đích gì sống đời phạm hạnh dưới Sa-môn Cù Đàm? – Thưa hiền giả, vì mục đích Vô dư Niết-bàn.

P24: (147, 11-37): Gần giống, với vài dị biệt nhỏ.

C: vì để thanh tịnh chướng ngại hoài nghi = P: kankhàvitaranavisuddhattham, đoạn nghi thanh tịnh.

C: vì thanh tịnh khởi lên do tri kiến đoạn tận đi sâu vào đạo = P: nànadassanavisuddhattham, vì sự thanh tịnh tri kiến.

C: vì Vô dư Niết-bàn = P: anupàdà parinibbànattham, vì Niết-bàn vô thủ trước.

Như vậy bảy thanh tịnh giống nhau trong hai bản, chỉ hơi khác nhau về danh từ.

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-sosanh-trung/sosanh24.htm
(hết trích)
như vậy, ta có thể nói là Thầy MC xem Vô dư Niết-bàn = Vô thủ trước Niết-bàn.

anh Hạnh Trương có thể cho mọi người biết ý kiến của mình về Vô thủ trước Niết-bàn không ạ? còm của bác hồi sáng em thấy rồi nhe bác ơi, heheh!Trung A-ham & Trung Bo – 24
Hạnh Trương HT nghĩ cái chỗ C hiểu đó là Vô Dư Niết Bàn có thể là kết luận quá sớm. Cần đọc lại cái câu trúc trắc mà ông mắc dịch chỉ ra :

NÊN XEM LẠI ĐOAN VĂN NÀY:
258. Sīlavisuddhiṃ ce āvuso Bhagavā anupādāparinibbānaṃ paññapeyya, sa-upādānaṃyeva samānaṃ anupādāparinibbānaṃ paññapeyya.
— Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn.
NHẬN XÉT:
CỤM TỪ CUỐI <hữu thủ trước Bát-niết-bàn> CHỈ LÀ TỪ <sa-upādānaṃyeva> (KHÔNG CÓ Bát-niết-bàn Ở ĐÂY)
Hạnh Trương Ba Nguyen đâu rồi, vào giúp 1 tay kìa!!!!

Kan Trần dạ đúng anh Hạnh,

khi xem bản Pali em đã thấy nghi chỗ đó, nhưng không dám chắc chắn. khi Sư Pali Viet nhấn mạnh thì em thấy sáng tỏ hơn. anh chờ chút xíu em moi cái này ra coi thử.

Hạnh Trương Còn chữ này cũng cần phải hiểu nghĩa thực sự, các chữ có visuddhi. Thế nào là Sīlavisuddhiṃ ? Là trạng thái hay là tiến trình hay là hành động ???

Kan Trần Trích: bản A-hàm số 9 = MN 24

Đáp rằng:
“Này Hiền giả: Nếu vì giới thanh tịnh mà Thế Tôn, Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn, thì đó là lấy hữu dư mà gọi vô dư. Nếu vì tâm thanh tịnh, vì tri kiến thanh tịnh, vì nghi cái thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh mà Đức Thế Tôn Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn, thì tức là lấy hữu dư mà gọi là vô dư[21].

[21] So sánh bản Pāli: sīlavisuddhiñ ce āvuso Bhagavā anupādā parinibbānaṃ paññāpessa, sa-upādānaṃ yeva samānaṃ anupādā parinibbānaṃ paññāpessa, … “Nếu Thế Tôn thiết lập (thi thiết) giới thanh tịnh là Vô dư Niết-bàn thì Ngài cũng thiết lập Vô dư Niết-bàn bình đẳng với Hữu dư…”

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham009.htm
(hết trích)
như vậy, thầy Tuệ Sỹ dịch bản Hán cũng chỉ có mặt “hữu dư” không thôi chứ không có “hữu dư Niết-bàn”! theo em thì Sư Pali Viet đã lưu ý đúng, và có thể là Thầy Minh Châu đã dịch không chính xác chỗ này.
Dường như cả 2 bản Pali và Hán chỉ nói “hữu dư” và “vô dư” chứ không có gắn với Niết-bàn trong này. Nếu là như vậy, em nghĩa là anupadaparinibbana = nibbana, đơn giản vậy thôi! Chứ mà nói là có “hữu dư Niết-bàn” nghe rất buồn cười.

Trung A Ham – Thich Tue Sy dich

Hạnh Trương <<anupadaparinibbana = nibbana ??
kỳ, anh vẫn chưa hiểu chỗ này, có cảm giác nó phải là [ anupādā+ pari + nibbāna ]
Giả sử có ai sửa, thì chẳng nhẽ trong từng ấy năm lưu truyền, không có vị nào sửa lại cho đúng , chỉ là nibbana?
Đoạn này cũng căng nữa , Kan Trần có ý kiến gì không?

Pāli Việt CŨNG CẦN XEM LẠI ĐOAN CHUYỂN TIẾP NÀY:
Aññatra ce āvuso imehi dhammehi anupādāparinibbānaṃ abhavissa, puthujjano parinibbāyeyya. Puthujjano hi āvuso aññatra imehi dhammehi.
Hiền giả, và nếu Thế Tôn tuyên bố cái gì ngoài các pháp ấy là vô thủ trước Bát-niết-bàn, thì kẻ phàm phu có thể Bát-niết-bàn, vì này Hiền giả, phàm phu là ngoài các pháp ấy.

TẠM DỊCH LẠI NHƯ SAU:
Này hiền giả, nếu anupādāparinibbānaṃ (Niết Bàn không còn chấp thủ) có thể thành tựu không cần các pháp ấy (giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, v.v…), thì phàm phu có thể thành tựu anupādāparinibbānaṃ (Niết Bàn không còn chấp thủ). Này hiền giả, bởi vì phàm phu là không có các pháp ấy.

Hạnh Trương Giải thích được thấu đáo hai đoạn kinh này, chắc sẽ mò được nghĩa của anupādāparinibbānaṃ

Kan Trần dạ anh Hạnh, bữa trước em có viết:

Vô dư được phân biệt với Hữu dư ở chỗ không còn tàn dư, không còn dính mắc chấp thủ nào. Cụ thể ở đây là không còn dính mắc vào thân ngũ uẩn, hay cụ thể hơn nữa là không dính vào Sắc nữa. Tuy nhiên:
– NGAY tại thời điểm Đức Phật giác ngộ hay nhập diệt, thì đều còn Sắc thân hiện diện. Vậy Vô dư khác Hữu dư chỗ nào?

– BÂY GIỜ sau 2500 năm, chúng ta vẫn còn được nhìn thấy Sắc thân Phật, đó chính là các xá-lợi, nghĩa là Sắc thân Phật vẫn hiện diện. Vậy Vô dư khác Hữu dư chỗ nào?
– Tại thời điểm Đức Phật thành đạo cũng như chuyển pháp luân, ta không hề thấy Ngài nói gì tới Hữu dư và Vô dư Niết-bàn cả. Chỉ có Niết-bàn mà thôi.

em nghĩ thế này ạ:
– việc tồn tại khái niệm “Hữu dư Niết-bàn” là không hợp lý bởi một số ý em nêu trên. Nhiều vị hay giải thích là bởi vì Đức Phật còn sắc thân, còn nghiệp cũ v.v. nên gọi là “Hữu dư Niết-bàn”, em thấy giải thích như vậy không chính xác. Cái quan trọng là chính Đức Phật có còn chấp thủ vào sắc thân hay không, chứ không phải người khác vẫn nhìn thấy cái Sắc thân của Ngài thì nghĩa là Ngài “chưa Niết-bàn tối hậu”.
– Nếu đã loại bỏ được “Hữu vi Niết-bàn”, thì em nghĩ anupadaparinibbana = nibbana có thể hiểu theo nghĩa sau được chăng?
anupada (không chấp thủ) + pari (hoàn toàn) + nibbana = anupadapari-nibbana = niết-bàn (mà ở đó hoàn toàn không có chấp thủ). Cụm “anupadapari” xem như bổ nghĩa, làm rõ nghĩa cho từ Niết-bàn.

Em chỉ nghĩ đơn giản vậy thôi, nếu có sai sót xin mời anh quý vị trong nhà chỉ giúp.

Hạnh Trương Vấn đề là bài kinh này không có nói gì tới hữu dư y và vô dư y Niết Bàn cả Kan ạ.

Hạnh Trương nếu hiểu Niết Bàn là DANH TỪ, còn Pari-Niết Bàn là ĐỘNG TỪ thì điều gì sẽ xảy ra nhỉ ?

Kan Trần dạ đúng anh, bây giờ thì em nghĩ là bài kinh này không bàn gì tới Hữu dư NB hay Vô dư NB gì cả.
Ở trên là ý em nói em không thấy cái khái niệm “Hữu dư Niết-bàn” nó hợp lý chút nào, chứ em không nói tới HDNB hay VDNB trong phạm vi MN 24 anh ạ.

Pāli Việt Để 2 cái ôn ni loay hoay thấy cũng ngứa nghề, khiến máu mắc dịch cũng nổi lên. Giờ sẽ phát biểu theo trí nhớ, nghĩa là không có “cầu chứng tại tòa án” đó nghe.

Hạnh Trương Bravo , chờ Sư từ chiều tới giờ, hihi

Pāli Việt Nibbāna (Niết bàn, ngầm hiểu là hữu dư NB, tức là chứng NB, và còn sống trên đời, cũng còn khổ vì ngũ uẩn) là danh từ.
Parinibbāna (NB trọn vẹn, ngầm hiểu là Vô dư NB, là lúc ra đi lần cuối) là danh từ.

Pāli Việt Nibbāpeti, parinibbāpeti là động từ.

Pāli Việt cụm từ anupādāya (+ nibbāpeti / parinibbāpeti ) hoặc
(+ nibbānaṃ / parinibbānaṃ + chứng đắc, chứng đạt, chứng đạt) nếu tra từ điển thì có thể hiểu theo 2 cách:
– danh từ thì dịch là: NB do không còn chấp thủ
– động từ: sau khi không còn chấp thủ thì chứng ngộ NB.
Các bản dịch đã đọc thì chọn cách 1.

Hạnh Trương động từ, động từ, nên là động từ, hihi

Pāli Việt Ở bản văn này thì viết liền: anupādāparinibbānaṃ chứng tỏ cách 1 hợp lý hơn. Và ở Chú Giải (hay là Chú Thích của Ven. Bhikkhu Bodhi) có ghi anupādā = anupādāya. Có nghĩa là trở lại phần ở trên. Nhưng với vị trí này thì chỉ có thể ghi nhận anupādā là danh từ (không thích thì tính từ cũng xuôi).

Kan Trần con cũng nghĩ như anh Hạnh, nên hiểu như là động từ, thưa Sư!
anh Hạnh Trương: anh thật giỏi mổ xẻ, em nghĩ anh “tác ý” để kiếp sau làm bác sĩ phẫu thuật đi, hehe! đấy là em khích tướng bác đấy, heheh!

Kan Trần dạ thưa Sư,

nếu anupada là tính từ thì cũng được ạ. anupadaparinibbana = niết-bàn là cái có tính chất “hoàn toàn không chấp thủ”. Như vậy được không Sư?

Pāli Việt Thì chỉ có thể hiểu như vậy thôi. Khi gặp chữ này thì Sư cũng viết vậy thôi <vị ấy chứng đắc NB không còn chấp thủ> hoặc <vị ấy NB không còn chấp thủ>

Kan Trần dạ thưa Sư,

con vẫn không nghĩ là nibbana là niết-bàn hữu dư. Bởi nếu phân biệt Hữu dư – Vô dư như vậy thì khác nào ta nói:

Cái chết làm duyên cho Niết-bàn vô dư tối hậu?? Hơn nữa, trạng thái “pending” của moksa cho tới lúc chết khác nào một sự thụ động?? Sự giải thoát tối hậu sao lại ở thể thụ động?

và nếu quan niệm của đạo Phật về moksa tối hậu là ở thời điểm chết thì sẽ giống y chang như đạo Jain!!

Nirvāṇa means final release from the karmic bondage. When an enlightened human, such as, an Arhat or a Tirthankara extinguishes his remaining aghatiya karmas and thus ends his worldly existence, it is called nirvāṇa. Technically, the death of an Arhat is called nirvāṇa of Arhat, as he has ended his wordly existence and attained liberation. Moksa, that is to say, liberation follows nirvāṇa. However, the terms moksa and nirvana are often used interchangeably in the Jain texts.[7][8] An Arhat becomes a siddha, the liberated one, after attaining nirvana.

http://en.wikipedia.org/wiki/Moksa_(Jainism)

vừa rồi là vài băn khoăn của con, thưa Sư!

Moksa (Jainism) – Wikipedia, the free encyclopedia

en.wikipedia.org

Mokṣa(Sanskrit:मोक्ष, liberation) orMokkha(Prakrit : मोक्ख ) means liberation, s…See More

Pāli Việt Cái gì xảy ra sau khi Vô Dư NB thì đức Phật không trả lời. Những khác biệt về sau này cũng bắt nguồn từ những vấn đề mà đức Phật không trả lời. Còn muốn hiểu trạng thái Hữu dư NB thì có thể đọc tâm trạng của các vị Thánh ở Trưởng Lão Kệ và Trưởng Lão Ni Kệ. Sư không đồng ý với lối diễn giải của wikipedia ở trên.

Kan Trần dạ không Sư ơi, cái nirvana con trích ở trên là quan niệm của đạo Kỳ-na Jainism Sư ạ!

Pāli Việt Đừng nói gì đến Niết Bàn. Hiện tượng Định cũng gây tranh cãi nhiều. Trong lúc nhập định, thì biết hay không biết ? Biết thì biết cái gì ? Giờ muốn hiểu một cái gì tận tường của Pali cũng phải làm research, làm essay, hoặc luôn cả thesis nữa, không làm nổi. Cái gì phiên phiến được thì cho nó qua.

Hạnh Trương Ngài Sariputta nói đó là trạng thái của người làm công ( xong việc ) chờ ngày nhận lương.

Khác nhau chỉ tí xíu chỗ còn hành uẩn thôi, pari niết bàn thì hành uẩn cũng diệt nốt, giải thoát hoàn toàn.

( hành uẩn còn vì còn thân xác, nên còn cái để cái thân đó nó đi đứng nằm ngồi, độ sanh …) chết là xong, xả thọ hành là hết việc.

theo lý luận như vậy của con, thì Bát Niết Bàn là động từ .

Là động từ nên kinh mới nói, phàm phu ( cũng ) bát niết bàn ( được ) vì họ không có các pháp ấy ( nếu ngoài 7 sự thanh tịnh đó mà có sự vô thủ trước việc nhập niết bàn toàn diện thì phàm phu có thể nhập niết bàn toàn diện. Phàm phu (có) những pháp ngoài ( các pháp ấy).

Tại sao lại dùng vô thủ trước sự việc bát niết bàn?

vì khi một vị đã chứng ngộ Niết Bàn rồi ( như hai vị đang nói với nhau trong kinh), thì vấn đề còn lại CÒN LẠI, chính là KHÔNG DÍNH MẮC vào bước CUỐI CÙNG, KHÔNG CHẤP THỦ bước cuối cùng , là bát niết bàn.

Cho nên các vị mới nói : Sống phạm hạnh là để cho cái đó, để thậm chí tới việc nhập Niết Bàn hoàn toàn ( là giải thoát hoàn toàn), cũng không có một xíu dính mắc nào.

Lý luận này có cái chướng ở chỗ, Thực sự giải thoát chỉ tới khi nhập niết bàn, ( và hóa ra nó y giáo lý của Jainism)

Xin được phản biện

Hoa Nguyen Mokkha (Prakrit : मोक्ख ) means liberation, salvation or emancipation of soul. It is a blissful state of existence of a soul, completely free from the karmic bondage, free from samsara, the cycle of birth and death.
Niết bàn mà Kỳ na giáo đạt tới là khi giải thoát được linh hồn (soul). Như vậy đó là (trú xứ hay) tình trạng tự do của “tiểu ngã” hiểu theo ngôn từ Bà La môn. Ở đây thấy được Jainism tuy chối bỏ Đại ngã của BLM (chủ trương không đấng sáng tạo), nhưng còn vướng với tiểu ngã. Phật giáo đi xa hơn chối bỏ cả tiểu ngã (với quan điểm vô ngã).

Ba Nguyen   @Hạnh Trương: Xin bổ sung vào ý kiến của bạn để đầy đủ hơn: Chú ý upādāna là một duyên trong chuỗi các nhân duyên, do duyên taṇhā sanh ra. Nếu nói “Niết bàn hoàn toàn nhờ không còn upādāna”, tôi e là quá mạo muội. Niết bàn hoàn toàn không những không còn upādāna, mà không còn duyên taṇhā sanh upādāna, không còn các duyên khác trên nó, cho đến duyên hành cũng không còn.

Ba Nguyen   @Hạnh Trương: Khi một vị đã chứng ngộ Niết Bàn rồi ( như hai vị đang nói với nhau trong kinh), thì vấn đề còn lại CÒN LẠI, chính là KHÔNG DÍNH MẮC vào bước CUỐI CÙNG, KHÔNG CHẤP THỦ bước cuối cùng , là bát niết bàn. — Tôi thấy giải thích này đúng rồi.

Hạnh Trương nếu anh Hoa Nguyen thay chữ soul bằng chữ citta, anh sẽ thấy …hehe

Ba Nguyen   @Hạnh Trương: Ngài Minh Châu không dịch “Vô thủ niết bàn”. Ngài dịch “vô thủ TRƯỚC niết bàn”. Xem ra là “không chấp thú trước một điều gì đó”. Bạn giải thích như trên tôi thấy đúng và đủ rồi.

Hoa Nguyen Niết bàn của Phật giáo không phải là cõi hư vô, hoàn toàn không có gì, không còn gì. Cái tâm thanh tịnh của Phật gíáo phải là cái còn lại sau cùng. Trong kinh Nguyên Thủy tôi đọc thấy Phật nhiều lần nhấn mạnh đến cái tâm đó. Nhưng Tâm thanh tịnh không phải là linh hồn, theo quan điểm Thiên chúa giáo hay là tiểu ngã theo quan điểm Bà la môn , nhưng là cái gì thì tôi không biết chắc. Tâm khi ô nhiễm thì vô ngã đã đành (vì vô thường, luôn thay đổi). Tâm thanh tịnh được hiểu là không còn thay đổi theo cảnh, theo kích dộng bên ngoài hay bên trong. Nhưng thực chất tâm thanh tịnh là thế nào có lẽ chỉ biết được khi chứng niết bàn.

Phan Minh Nguyet HT Minh Châu dịch là “vô thủ trước Bát-niết-bàn”. Các đạo hữu bỏ mất chữ “Bát” hay sao vậy? Tôi ko biết bỏ chữ “Bát” này có khác gì ko nhưng hình như chữ “Bát” này ý là động từ giống như trong cụm từ “Đại Bát Niết Bàn”

Ba Nguyen Phan Minh Nguyet: Bát – Pari – hoàn toàn, completely. Các bạn không bỏ mất, chỉ viết ngắn gọn khi nhắc về Bát Niết bàn.

Phạm Doãn   @Kan Trần & Hạnh Trương và các đạo hữu nào có thông tin về cách hiểu Nibbana cứ mạnh dạn trình bày đi. Kể cả quan điểm về Nibbana của Jainism (một Đạo rất gần với Đạo Phật). Nếu không biết chút lý luận gì về Nibbana thì khó nói chuyện với các vị ngoại đạo lắm (có những lúc phải nói một chút, dù không phải là do mình chủ ý đi tranh luận). Hai nữa, nếu một người nổ lực tu hành mà không nắm vững nơi mình đến nó là cái gì (?) thì cũng hơi run…run..

Hoa Nguyen Ở Bắc tông nói đến cái tâm thanh tịnh hay chân tâm khi giác ngộ (tôi không dùng từ niết bàn), và đây là chủ trương của phái Duy thức hay Du-già : chân tâm khi chứng ngộ là tình trạng tịnh hóa, “thăng hoa” của thức thứ 8, tức Alaya. Nhưng chính ở Bắc tông cũng có trường phái Bát nhã chống lại quan điểm này, cho là chủ trương “hữu ngã” khi cho cái tâm ở trạng thái thường hằng Thiền tông Trung Hoa chấp nhận cả hai quan điểm trên (vừa Duy thức vừa Bát Nhã), cho khi tâm ô nhiễm là vô ngã, và khi tâm thanh tịnh là chân ngã (không thay đổi theo trần cảnh). Sự tranh luận về Tâm thanh tịnh đã có từ thời bộ phái.Bottom of Form



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s