KINH MN 026 – KINH THÁNH CẦU (PĀSARĀSISUTTAṂ)

Chú thích về tên bài kinh:

Tên Pali của kinh THÁNH CẦU (MN 026) có hai nguồn khác nhau;

  • Pāsarāsisuttaṃ (Miến Điện và Thái Lan)
  • Ariyapariyesanasuttaṃ (Tích Lan và PTS)

I. BẢN KINH MN 026 – (Ariyapariyesanà sutta) 

1.Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung26.htm

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.026.than.html

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/026.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 026

1. Trích giảng Kinh Thánh Cầu – HT. Thích Chơn Thiện

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-026b.htm

2. Trích Giảng Kinh Thánh Cầu – Ht Thich Minh Châu

 http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-026.htm

3. Toát yếu Kinh Thánh Cầu – Thích Nữ Trí Hải

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-03.htm

 

III. ĐỀ CƯƠNG

  • Tìm hiểu các khái niệm trong các từ :

Y tánh Duyên khởi: Idappaccayatà paticcasamuppàdo

Bị sanh: jātidhamma

Bị Già: jarādhamma

Năm dục trưởng dưỡng: pañca kāmaguṇe

V.v…

  • Tìm hiểu nội dung bài kinh
  •  Suy nghĩ về giả thuyết cho rằng bài kinh này được thuyết sớm hơn các bài kinh khác (cùng nói về diễn tiến trên con đường dẫn đến giác ngộ của Đức Phật) 

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn Một số học giả cho rằng, trong các phần tự thuật về sự giác ngộ của Đức Phật, trình bày trong kinh điển Pali, phần tự thuật trong bài kinh này là được thuyết sớm nhất. Từ giả định đó, họ đã tiếp tục đặt giả thuyết xa hơn rằng: Vì bài kinh này không đề cập đến Tứ Diệu Đế, hoặc để liên hệ đến sự giác ngộ, hoặc để Đức Phật hướng dẫn cho các môn đệ đầu tiên của mình, vì thế Tứ Diệu Đế phải là một học thuyết phát sanh về sau này.

Tuy nhiên, rất ít lý do để chấp nhận các giả thuyết này. Để bắt đầu, bài kinh không kể lại thời kỳ của Đức Phật khổ hạnh trước khi ngài giác ngộ, cũng không nói như thế nào về việc năm tu sĩ cùng ở với ngài và sau đó đã rời bỏ ngài khi ngài từ bỏ khổ hạnh. Về phần cuối của bài kinh, Phật đề cập gián tiếp đến sự kiện đó, bằng cách cho rằng họ là người nghe rất quen thuộc . Vì vậy, bất cứ bài kinh nào, các phần tự thuật rõ ràng có liên quan các sự kiện đó – chẳng hạn như bài MN 36 – phải là có trước.

Thứ hai, thiếu sự đề cập đến Tứ Diệu Đế cũng không chỉ ra rằng Tứ Diệu Đế đã không thực sự tham gia vào sự Giác Ngộ, hoặc đó là bài thuyết pháp đầu tiên. Giống như là các trường hợp tự thuật của Đức Phật, bài kinh này được thiết kế để truyền tải một bài học. Bài học rất rõ ràng và nằm ở phần đầu của bài kinh: sự khác biệt giữa tìm kiếm cao quý và tìm kiếm đê tiện. Phần sau đó diễn tả sự tìm kiếm cao quý của Đức Phật và sự nghiệp giảng dạy sau này của Phật bằng các thuật ngữ đã giới thiệu trong bài học như: Sự tầm cầu “chưa sinh, lão hóa-ít, bệnh-ít, bất tử, buồn ít, thuần khiết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách” . Đặc biệt, tất cả các sự kiện được đề cập trong bài kinh xoay quanh các vấn đề của Bất Tử: sự khám phá ra Bất Tử, việc giảng dạy về Bất Tử, và sự thành công trong việc giúp đỡ những người khác để đạt được bất tử của Đức Phật. Nếu bài học của bài kinh liên quan đến Tứ Diệu Đế, nó có lẽ sẽ được đề cập trong phần tự thuật. Như vậy có ít lý do để coi bài kinh này như “bằng chứng” cho rằng Tứ Diệu Đế đã được giảng dạy về sau này.

Ngoài việc đề cập đến một vài sự kiện trong cuộc đời của Đức Phật, được kể ở các bài kinh khác, bài kinh này cung cấp nhiều bài học Phật Pháp tuyệt vời.
(Những dòng bên trên là lời nói đầu của Bhikkhu Thanissaro trong bản dịch của bài KINH THÁNH CẦU)

Phạm Doãn

“Bị Sanh – jātidhamma”
– Đa số mọi người đều không bao giờ thắc mắc về sự có mặt (hiện hữu) của mình trong cuộc đời. Vì đó là lẽ tự nhiên! Bất cứ ai cũng đều nghĩ, tôi sinh ra năm đó, tháng đó, ngày đó…vậy thôi! Tôi có mặt trong cuộc đời cũng như bao nhiêu người khác… vậy thôi! Và mọi người đều sống “tự nhiên”, “không thắc mắc”, cho đến …hết cuộc đời.

Nhưng dù rất ít, vẫn có một số người lại đặt ra những câu hỏi rất “ lạ lùng” và “khốc liệt”:
– Tại sao tôi lại có mặt trong thế giới này?
– Tại sao tôi lại bị sanh ra?
Nếu không phải là cùng một trạng thái tâm đó, rất khó hiểu được tại sao câu hỏi kỳ lạ này lại được đặt ra? Tại sao một người lại có thể thắc mắc về chính sự hiện hữu của mình?
– Có lẽ khi tái sanh hầu hết mọi người đều đã có một khát vọng được sống hay nói cách khác bởi vì có khát vọng được sống nên một người mới tái sanh.
– Đã sanh ra thì ai cũng luôn yêu quý mạng sống của mình. Đã sanh ra, thì cơ thể và tâm trí của ta luôn luôn có một “bản năng sanh tồn” để bảo vệ sanh mạng đó. Có lẽ chính cái “bản năng sanh tồn” đó đã ngăn cấm hầu hết mọi người đặt ra câu hỏi: Tại sao tôi lại bị sanh ra!

Ngày xưa nhà nghèo. Có lúc không còn gì để xoay sở. Tôi nói với mẹ:
– Con đâu muốn bị sanh ra!
Mẹ nói:
– Mẹ cũng đâu muốn sanh chúng mày ra!
Nói xong, hai mẹ con đều khóc.

Thực sự là có những trường hợp, mà con người phải trăn trở, phải tự hỏi về cái hiện hữu của mình, tại sao mình lại có mặt trong thế giới này, tại sao mình bị sanh ra?
Nhưng dường như không có triết lý nào của thế gian đặt ra câu hỏi như vậy! Chỉ có Đức Phật là người dám đặt ra và cũng là người duy nhất tìm ra câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi: Tại sao ta lại bị sanh ra? Đức Phật cũng là người đầu tiên trong thế gian này chỉ ra con đường chấm dứt sự “sanh ra”. Nghĩa là người đầu tiên biết cách chấm dứt trò chơi ảo tưởng của Mara!

Hạnh Trương Em rất hay bị đứa em gái nó gí, mặc dù nó lớn, có 2 con rồi, mà cứ gặp mình là nó hỏi đủ thứ, như trẻ con, cái gì cũng hỏi tại sao. Tại sao anh thế này, tại sao anh thế kia, tại sao anh ăn chay ( tao ăn cho nó lành), tại sao ăn chay lại lành ( bắt đầu hơi cú rồi, nhưng vẫn trả lời, vì nó không có độc tố của con vật khi bị giết), tại sao con vật khi bị giết lại có độc ( bực rồi đó, vì nó bị sân khi nguy hiểm , a há, tao cũng bắt đầu sân rồi đây), tại sao khi nguy hiểm nó lại sân? ( cái con này…, ai mà chẳng thế), tại sao ai cũng thế….( thôi, mày biến đi cho tao nhờ ), hehe

Cái câu hỏi tại sao được hỏi nhiều lần như vậy, nếu biết thêm lý duyên khởi, giúp chúng ta lần ra nhiều chuyện lắm? từ khổ lần tới thọ, xúc ….

Varacāritto Nguyễn “Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ.”

Hai Long Con có khởi lên câu hỏi như sau: Ở trong bài kinh Đức Phật có nói về kinh nghiệm khi học theo 2 vị Thầy, liệu trên đường đi nhất thiết chúng ta phải tu 2 Định này ko ( Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ). Tại sao thứ tự các Định thì 2 định này đặt sau Sơ thiền – Tứ thiền?

Phan Minh Nguyet Cháu cũng có câu hỏi y như bác Phạm Doãn. Năm 10 tuổi, hoàn cảnh khó khăn, có lúc mẹ bực mình mắng là “của nợ”, cháu cãi “con có muốn sinh ra đâu, bố mẹ sinh con ra đấy chứ”. 15 tuổi đọc cuốn sách đầu tiên về đạo Phật nói về Tứ Diệu Đế, mừng ko thể tả

Pāli Việt CÂU PALI NÀY NGÓ VẬY MÀ KHÓ DIỄN ĐẠT BẰNG TIẾNG VIỆT:

Ayaṃ vuccati bhikkhave bhikkhu andhamakāsi māraṃ apadaṃ, vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato (MN 025, 026).

Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác ma, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi lối về (025. KINH BẪY MỒI).

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma (026. KINH THÁNH CẦU).

Phạm Doãn
Khi đi tìm con đường giải thoát, Đức Phật có hai vị thày đầu tiên (có lẽ là những du sĩ (sa môn). Ngài tu tập theo hai vị này và đạt hai định (Samadhi) cao nhất trong bốn định vô sắc.
– Có bốn định vô sắc lần lượt: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ rồi đến vô sở hữu xứ và phi tưởng và phi phi tưởng xứ định là cao nhất.
Hai Long hỏi:
– Liệu trên đường đi nhất thiết chúng ta phải tu 2 Định này ko ( Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ). Tại sao thứ tự các Định thì 2 định này đặt sau Sơ thiền – Tứ thiền?
Trả lời:
– Trong các bài kinh MN 004, MN 036, MN 039, MN 085, MN100 v.v.…các đoạn tự thuật của Đức Phật khi ngài thực hiện giác ngộ cuối cùng, cho thấy ngài không sử dụng bốn định vô sắc như đã nêu trên. Bắt đầu từ tứ thiền, xuất ra khỏi tứ thiền:
– “…Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về…”
Nghĩa là về CƠ BẢN có thiền hữu sắc (sơ thiền hoặc cận định) là một người đã có thể thực hiện thiền quán hướng tới Tam Minh.
– Sau khi tu tập thành công bốn thiền hữu sắc thì mới có thể tu tập bốn định vô sắc lần lượt như đã liệt kê ở trên

Có người còn thắc mắc:
– Nếu có dư ra bốn định “vô sắc” nữa thì sao?
– Thì để đó “xài” khi cần thiết, ví dụ khi muốn an trú trong tĩnh lặng, và trong bài kinh này là để làm mù mắt ác ma.v.v..
– Bốn định vô sắc có “độc hại” không?
– Trong kinh chỉ nói đến sự lợi ích. Không có nói đến sự độc hại.

Thien Nguyen Ba “- Sau khi tu tập thành công bốn thiền hữu sắc thì mới có thể tu tập bốn định vô sắc lần lượt như đã liệt kê ở trên”

Dạ Chú Phạm Doãn ơi! như vậy là Đức Phật trước khi tu tập với vị Alara Kalama và Uddaka Ramaputta để tự tri tự chứng Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ đã chứng được bốn thiền hữu sắc và 02 định vô sắc?

Phạm Doãn Tôi chưa đọc được trong kinh nói về chuyện trước khi gặp hai thày dạy Định Vô Sắc thì Đức Phật đã học với ai về các loại thiền. “- Sau khi tu tập thành công bốn thiền hữu sắc thì mới có thể tu tập bốn định vô sắc lần lượt như đã liệt kê ở trên” là thông tin từ các thày dạy thiền của trường Pa Auk.

Hà Lý Băng Con thấy ở Đại Kinh Saccaka (MN.36), Đức Phật đầu tiên tu tập thiền 2 thiền Vô Sắc là Vô Sở Hữu Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Sau đó Đức Phật nhớ lại lúc bé nhập Sơ Thiền, từ duyên đó Đức Phật mới nhập Sơ Thiền, rồi sau đó Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền. Có thể hiểu là đến lúc đấy, Đức Phật mới biết đến Tứ Thiền Hữu Sắc được không chú Phạm Doãn? Như thế thì không nhất thiết phải nhập Thiền Hữu Sắc xong mới đến Thiền Vô Sắc.

Hiếu Nguyễn Vụ này hay quá hi hi. Vai trò của Thiền Vô Sắc và trình tự tu tập?

Nếu chứng được Thiền Vô Sắc thì không biết kiếp sau có lơ tơ mơ ở mấy cõi Vô Sắc như mấy ông thầy của Đức Phật không nhỉ (Đức Phật khi thành đạo có thần thông xịn mà lúc đó hình như cũng chịu không độ được mấy vị ở cảnh giới Vô Sắc này).

Vo Trong Phi <<Đức Phật khi thành đạo có thần thông xịn mà lúc đó hình như cũng chịu không độ được mấy vị ở cảnh giới Vô Sắc này>> Vô Sắc tức là không có sắc thân. Không có sắc thân tức là không có tai. Không có tai thì không nghe được Pháp của Đức Phật thuyết.

Hiếu Nguyễn Vậy ai mà tu Thiền Vô Sắc thì nguy hiểm quá nhỉ ???

Phạm Doãn Thứ tự tu tập của các bậc Thiền hữu săc và Vô sắc được mô tả tỉ mỉ trong Thanh Tịnh Đạo Luận. Bắt đầu từ sự chán ghét và biết các Sắc là nguy hiểm, hành giả mới chuyển qua tu tập các Định Vô Sắc. Sự tu tập các Định Vô Sắc có lẽ là có rất lâu trên đất Ấn Độ trước thời Đức Phật. Vấn đề PLCĐ nên suy nghĩ và thảo luận là Đức Phật có phủ định các định Vô Sắc hay không? Tại sao phải phủ định. Tại sao không cần phủ định? http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-thanhtinh-dao/ttd-10.htm

Thanh Tinh Dao – 10

Phạm Doãn Trước khi Đức Phật tuyên thuyết Giáo Pháp của ngài, thì tại Ấn Độ mức giác ngộ cao nhất là ở những tu sĩ đạt được Phi Tưởng-phi Phi Tưởng xứ Định. Vo Trong Phi ơi! Không có Sắc Thân thì tôi tin là vẫn xịn hơn là có Sắc thân! Một vị trên cõi trời “phi tưởng phi phi tưởng xứ” không phải là “bế tắc” đâu. Các vị ấy hạnh phúc với thọ mạng rất rất lâu dài. Chỉ không được là giải thoát tuyệt đối như Đức Phật. Nếu muốn nghe cái gì đó (ví dụ nghe Giáo Pháp) thì các vị ấy cứ tụt xuống cõi trời thấp hơn là nghe được. Hi Hi…

Thien Nguyen Ba Trong kinh trên, Đức Phật nói về Phi tưởng phi phi tưởng xứ định như sau:
“Như vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.”

“Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma.”

– Như vậy, Pháp Phi tưởng phi phi tưởng xứ này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn. Nhưng kết quả vị nào chứng và trú pháp này cũng đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma
– Mức độ “không hướng đến ly tham” của Phi tưởng phi phi tưởng xứ và mức độ “ly dục” của Sơ thiền khác nhau như thế nào?
– “Ly dục, ly bất thiện pháp” của Sơ thiền có bao gồm “ly tham” không?

Vo Trong Phi “Không có Sắc Thân thì tôi tin là vẫn xịn hơn là có Sắc thân!” Cái này thì hợp lý đó bác Doãn. Vì muốn đạt được thiền Vô Sắc thì phải trải qua thiền Hữu sắc trước đã.

Vo Trong Phi Các vị chưa đắc quả Dự Lưu (phàm nhân) thì phải làm người ở cõi Dục hoặc cõi Sắc để nghe được Pháp của Đức Phật. Vị nào đã đắc quả (Sơ Quả đến Tam Quả) rồi thì sanh lên cõi Vô Sắc tu tiến tiếp cũng được.

Hà Lý Băng:  @Vo Trong Phi không đọc comment của tôi à, Đức Phật vẫn đạt được thiền Vô Sắc trước khi đạt Thiền Hữu Sắc.

Hà Lý Băng:  @Chú Phạm Doãn: ” Bắt đầu từ sự chán ghét và biết các Sắc là nguy hiểm, hành giả mới chuyển qua tu tập các Định Vô Sắc.”.

Do nhàm chán các Sắc nên tầm cầu Định Vô Sắc có vẻ không hợp lý? Theo con, nhàm chán Sắc thì dẫn hành giả đến đoạn diệt Thân Kiến Kiết Sử thôi.
Ngoài ra con thấy có 1 số điểm:

1. Trong kinh, chỉ có từ Tứ Thiền, hành giả hướng tâm vào Tam Minh (rất nhiều). Liệu có chỗ nào nói từ Phi Tưởng Xứ vào Tam Minh không? Nếu không có thì cần gì đạt Phi Tưởng Xứ?
2. Nếu đạt đến Tứ Thiền rồi, nhàm chán các Sắc rồi, tại sao Thanh Tịnh Đạo không dạy hành giả vào thẳng Tam Minh như trong kinh, mà lại dạy vào Thiền Vô Sắc để làm gì? Vì vào Vô Sắc rồi cũng phải quay lại Hữu Sắc như Đức Phật thôi.
Túm lạ: khi đạt Tứ Thiền, hành giả có 2 đường:
1 – Hướng Tâm đến Tam Minh (theo NHIỀU BÀI KINH – là xong, hết),
2 – Vào Định Vô Sắc, rồi đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng (theo Thanh Tịnh Đạo). Nhưng con không hiểu vào đến đó để làm gì (không thấy bài kinh nào nói từ PPT vào được Tam Minh, và Ngoại Đạo cũng vào được)?
3 – Tại sao không nhắm vào Tứ Thiền Hữu Sắc?

Hạnh Trương Hà Lý Băng :<<Do nhàm chán các Sắc nên tầm cầu Định Vô Sắc có vẻ không hợp lý? Theo con, nhàm chán Sắc thì dẫn hành giả đến đoạn diệt Thân Kiến Kiết Sử thôi.>>
Trong bài kinh đâu có dùng chữ ĐỊNH đi với VÔ SẮC nhỉ ? Dùng chữ khác đó, và cái chữ khác đó có thể là đầu mối chăng?

Hà Lý Băng HT: À, em dùng lại từ Định Vô Sắc trong comment của chú Phạm Doãn thôi. Ý chính vẫn là do nhàm chán Sắc nên tìm đến thiền Vô Sắc là không hợp lý.

Hoàng Lan Hà Lý Băng <<nhàm chán Sắc thì dẫn hành giả đến đoạn diệt Thân Kiến Kiết Sử thôi>> Có đoạn kinh nào nói về chỗ này ko?

Phạm Doãn Cái nhìn của Hà Lý Băng là rất hợp lý đó.
Nhưng comment trên đã nói rồi mà:
“Sự tu tập các Định Vô Sắc có lẽ là có rất lâu trên đất Ấn Độ trước thời Đức Phật. Vấn đề PLCĐ nên suy nghĩ và thảo luận là Đức Phật có phủ định các định Vô Sắc hay không? Tại sao phải phủ định. Tại sao không cần phủ định?”

Ngoài ra:
Các Pp tu tập thiền định tại Ấn Độ, trước thời Đức Phật chắc chắn có ảnh hưởng đến quan điểm của luận Thanh Tịnh Đạo – Ai tìm ra được điều này thì xác định được Đạo Phật nguyên thủy rõ hơn!

Phạm Doãn Tôi muốn nhấn mạnh “Tại sao chúng ta <không cần> phủ định các Định Vô Sắc”. Ngày xưa chính Đức Phật đã thấy không cần phủ định rồi mà. Không có bài kinh nào mà Đức Phật phê phán hay phủ định các Định Vô Sắc này cả. Ngài luôn nói nó dùng có lợi cho người tu sĩ. Còn Các bước dẫn đến thực hiện Giải Thoát là …khác nữa. Ta có thể tách hai vấn đề này ra như vậy dễ cho sự tìm hiểu.

Hà Lý Băng :  @Hoàng Lan: Mình không biết, chỉ tư duy vậy thôi. Hoàng Lan thử tham khảo Tiểu Kinh Phương Quảng xem sao (MN.44).
-Do nhàm chán Sắc, dẫn đến tự sát thì không hợp lẽ (Trong thời Đức Phật có việc này).
-Do nhàm chán Sắc, tầm cầu thiền Vô Sắc cũng không hợp lẽ (Ý mình là thế).
-Vậy nhàm chán Sắc dẫn đến cái gì ???? Ôi, mình chỉ đoán bừa …

Phạm Doãn Đoán bừa mà đúng đó!

Hạnh Trương Muốn thấy được nước thì người ta phải ở ngoài nước, muốn nhàm chán được Sắc thì người ta phải ở Vô Sắc,

Vô sắc là XỨ để từ đó người ta làm gì đó thì hợp lý hơn, và như vậy nó là chỗ rất quan trọng.

Còn tại sao đức Phật đã tập thiền vô sắc mà ngài lại bỏ đi? vì căn bản của Ngài chưa vững, nên Ngài cho dù ở trong đó, hoặc là không thể đủ lâu, hoặc là ngài không biết cần phải làm gì khi đã ở trong đó.

Nếu không phải là vô sắc là xứ để trú lợi hại như vậy, thì cớ sao hai người đầu tiên mà đức Phật khới ý muốn giảng pháp lại là hai vị Thầy “vô sắc”

Phạm Doãn Vấn đề này rất lớn. Đó là xác định lại ranh giới giữa Đạo Phật thực sự nguyên thủy và Đạo Phật về sau này (cái cũng được coi là gần nguyên thủy). Trình bày online (với tôi) là không thể. Vừa không đủ tay, đủ mắt, đủ sức để viết ào ào các comments, vừa không thể đủ thời gian tra tìm các bằng chứng để thỏa mãn các nghi vấn, các tranh luận, các xung đột sẽ xảy ra. Tôi nghĩ cứ từ từ học, cứ từ từ đi, rồi sẽ có lúc tự mình tìm ra vấn đề. Tuy nhiên, lúc cần thiết tôi cũng cố gắng đưa một vài quan điểm của tôi vào PLCĐ.

Phạm Doãn Trước tiên muốn giải quyết được mối bòng bong này (sự trộn lẫn giữa giáo pháp của Đức Phật với các pháp tu của các vị ngoại Đạo) thì ta phải cố đặt mình vào thời điểm lúc Đức Phật đi tu, thành Đạo, Thuyết pháp. Rồi sau đó cũng phải cố hình dung điều gì sẽ xảy ra sau khi Đức Phật nhập diệt. Thực là khó cho chúng ta làm sao có cái nhìn đúng qua phỏng đoán về hoàn cảnh của 2500 năm trước. Chỉ còn cách đọc lại lịch sử triết học Ấn Độ, nghiên cứu thêm các tôn giáo đồng hành với Đạo Phật nguyên thủy vào lúc đó. Sau đó suy luận về mối tương tác giữa các triết lý, các tôn giáo, các Pp tu tập v.v…Việc này tôi nghĩ tự mỗi người phải làm thôi, vì khi nhận ra một vài sự thực nào đó thì chưa chắc có người thứ hai đồng ý với quan điểm của mình! Nhất là khi mình không phải là một tu sĩ, hoặc là tu sĩ chưa có đủ chức sắc và uy tín!

Pāli Việt Chuyện 4 thiền sắc giới, 4 thiền vô sắc giới lâu nay cứ thấy đơn giản như là 1 + 1 = 2. Giờ có người hỏi vì sao 1 + 1 = 2 thì chẳng biết sao để nói nữa!

Minh Quang có lẽ các tầng thiền hữu sắc hay vô sắc thuộc về thiền định, dù cao siêu nhưng không đưa đến giải thoát

khi đã có thiền định, có lẽ phải tu tập thiền tuệ do chính đức phật sáng tạo ra(tứ niệm xứ:thân, thọ, tâm, pháp) còn gọi là thiền quán, thiền minh sát(Vipassana)hay như lai thiền…thì mới đưa đến các bậc thánh,(diệt 10 kiết sử) và giải thoát khỏi phiền não

Hạnh Trương Có thời ….
Thì rõ ràng là mặt trời quay quanh trái đất, thấy rõ bằng mắt luôn, giờ ai hỏi tại sao, thì cũng chẳng biết sao để trả lời, ấy thế mà cũng có những người cứ hỏi tại sao, hihi.
Tóm lại là cứ hỏi tại sao tiếp nha Sư Pāli Việt alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1026″>

Hạnh Trương Minh Quang à, đức Phật không có sáng tạo ra cái đó, ngài chỉ tìm lại ra nó thôi. ” Có con đường mà các đức Phật ngày xưa đã đi qua, đi theo con đường ấy ta thấy ….”

Hạnh Trương <<có lẽ các tầng thiền hữu sắc hay vô sắc thuộc về thiền định, dù cao siêu nhưng không đưa đến giải thoát >>
Không đưa tới giải thoát thì mắc mớ gì mà Phật chỉ cho chúng ta

Phạm Doãn Bài kinh nào cũng nói đến chư thiên nói đến cõi giới … mà có thày lại phủ định tuốt luốt. Bài kinh nào cũng nói đến các Định Vô Sắc mà cũng có thày phủ định các loại Định này! Cứ có cái gì đó liên hệ với “Bà La Môn ngoại đạo” là dường như một số người bị kích động!
– Vậy thì vấn đề có lẽ nằm ở sự “phản kháng ngoại đạo”.
Tinh thần phản kháng này thấy nhiều ở những người có tinh thần tôn giáo, giáo phái quá khích. Điều này sẽ khác đi, nếu chúng ta xem việc tu tập giải thoát như nổ lực thực hiện tiến hóa tâm linh của nhân loại nói chung. Tinh thần phản kháng này sẽ giảm thiểu nếu ta hiểu rõ về “văn hóa tâm linh” của người Ấn Độ ngày xưa và ngay cả trong hiện tại.
– Thử search Wiki về thế nào là Ấn Độ Giáo (Hindouism)? Ta mới thực sự ngạc nhiên vì họ định nghĩa tất cả các tôn giáo trên đất Ấn Độ (với một số điều kiện quy định) đều là …Ấn Độ giáo. Định nghĩa này được tòa án tối cao Ấn Độ phán quyết bằng luật, chứ không phải là chỉ của giới học giả. Nếu tìm hiểu Đạo Phật, bằng cách đứng xa ra khỏi vị trí của một tín đồ hay một người sùng bái, chắc chắn ta sẽ thấy vấn đề rõ hơn.
– Nhớ lại vài hôm trước, có comment của sư –Pāli Việt về sự tu tập “hòa hợp” của các trường phái Đạo Phật khác nhau tại Nalanda. Đây là một sự kiện có thực. Mọi người thử suy nghĩ xem, tại sao nó lại có thể như thế?
PLCĐ đụng phải rắc rối rồi!!! Thế nào là Nội Đạo? Thế nào là Ngoại Đạo?

Hạnh Trương em xung phong trả lời, trong đạo nào có bát chánh đạo là đạo, không có bát chánh đạo là ngoại đạo alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1028″>

Hạnh Trương Chính xác hơn có lẽ là ” Đạo là Bát Chánh Đạo, ngoài Bát Chánh Đạo là Ngoại đạo” hihi

Hoàng Lan Con nghĩ như ngay trong bài kinh này (MN26) Đức Phật kể về quá trình tu tập và Ngài nói đã vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhưng nó không có giải thoát chân thực: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn”. Trong Bát Chánh Đạo có Chánh Định, tuy nhiên, theo như trên thì loại thiền đưa đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ sẽ là không phải CHánh Định rồi, do đó, nếu nói Thiền vô sắc không phải cái mà Phật muốn dạy cho chúng sanh là có cơ sở.

Thien Nguyen Ba Vậy theo quan điểm của bạn Hoàng Lan, những loại thiền nào thuộc về Chánh Định?
Trong kinh MN052 Kinh Bát Thành, có đề cập:

“Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị này suy tư và được biết: “Vô sở hữu xứ định này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất, do Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát, được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt.”

Vô sở hữu xứ định cũng có lợi ích mà alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1029″> : “do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này”

Đào Trọng Trác Trong bài kinh Sa Môn Quả chỉ nói đến tứ thiền được tư trợ bảy chi phần trong Bát Chánh Đạo :
81. Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

82. Này Ðại vương, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.

83. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc……………..

Và đạt đến Chánh Trí…..không nhắc đến các loại thiền khác……Thien Nguyen Ba có cho là 4 tầng thiền thế Tôn nói ở bài này là Chánh Định không ? Và trong bài này cũng không nói đến thêm về các loại thiền khác. Xin lỗi ở đây chưa đắc được tầng nào nên chỉ lấy ý kinh mà đàm luận, nếu có gì chưa rõ xin được góp ý, cảm ơn các vị đạo hữu và các quí Sư.

Pāli Việt THẮC MẮC VỀ CỤM TỪ “KHÔNG TÔN KÍNH PHÁP NÀY” (liên quan đến 2 tầng thiền vô sắc):
analaṅkaritvā –> analaṅkaroti –> an+alaṅkaroti –> không alaṅkaroti . Kiểm tra ở từ điển từ <alaṅkaroti >

Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi. (026. KINH THÁNH CẦU)

So kho ahaṃ bhikkhave taṃ dhammaṃ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṃ. (MN 026)

So, dissatisfied with that Dhamma, I left. (Ven. Thanissaro)
Not being satisfied with that Dhamma, I left it and went away (Ven. Bhikkhu Bodhi)

Phan Minh Nguyet Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!”

tôi hơi thắc mắc sao lại có đoạn Đức Phật suy nghĩ “Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta”. Không phải là Đức Phật đã hết phiền não, làm gì còn cái gì có thể khiến cho Ngài bực mình, khổ não?

Pāli Việt thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!
So mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā”ti.
that would be tiresome for me, troublesome for me.’ (Ven. Thanissaro)
that would be wearying and troublesome for me (Ven. Bhikkhu Bodhi)

Hạnh Trương Thêm 1 cái nữa Sư ơi, con tìm không ra trong chánh tạng khi nói tới Vô sắc có chỗ nào có chữ ĐỊNH, hoặc chữ THIỀN đi kèm.

Nếu chúng chỉ là các XỨ, thì câu chuyện có thể hoàn toàn khác chăng?

Hạnh Trương Hoan hô Phan Minh Nguyet với câu hỏi như vậy, hehe. KHÓ RỒI, KHÓ RỒI các Sư ơi …

Hiếu Nguyễn Em xin trả lời bằng lập luận:

(1) Vậy là Đức Phật còn phiền não
(2) Đoạn này bị sửa thêm vào. Đức Phật làm sao mà phiền não được?

Nếu là (1) thì đạo Phật sai từ gốc, vì ngài giáo chủ mà không chứng được như ngài nói. Một điều sai thì rất có thể nhiều điều khác cũng không đúng.

Nếu là (2) thì tại sao lại thêm vào đoạn này? Dụng ý của người thêm vào là gì?

Phạm Doãn Đúng vậy. Bát Chánh Đạo là một trong những tinh hoa thuộc về “Chánh Đạo” của Đạo Phật. Nhưng có những cái khác của Đạo Phật, mà đồng thời cũng là của nền triết học Ấn Độ đương thời. Nếu trung thực, không sợ các cấm kỵ từ truyền thống, sẵn sàng tiếp thu sự thực, thì ta sẽ hiểu rõ về ĐẠO PHẬT hơn, hiểu về CHÁNH PHÁP hơn là cứ bảo thủ những quan điểm cho rằng Đạo Phật là một giáo pháp hoàn toàn độc lập, do Đức Phật ngộ ra và giảng dạy, không có bất kỳ mối liên hệ nào với xung quanh!
Tôi nghĩ, chính quan điểm bảo thủ (vì lòng tin yêu Chánh Pháp), như vừa nói trên đây, lại làm cản trở cho sự duy trì Chánh Pháp. Nhưng bây giờ ai là người có đủ uy tín và đủ can đảm để nói ra những thông tin cần thiết!!!
Chẳng hạn, nếu bấy giờ mà nói là ở Ấn Độ thời Đức Phật, Tứ Diệu Đế đã có “mô hình” giống như vậy (chỉ khác nội dung), thì chắc là sẽ rắc rối lắm và sau đó, bản thân người phát biểu cũng chẳng biết nơi nào để… trốn!

Tôi nghĩ, sở dĩ Đạo Phật là đỉnh cao trí tuệ của loài người là vì nó đứng trên vai một “người khổng lồ” thế thôi! Không có nền văn minh Vệ Đà, cùng với những triết lý trước đó được phát triển đầy đủ, thì Đức Phật chưa ra đời để thực hiện Đại Giác Ngộ. Có ai đó tò mò thử so sánh Đạo Phật với các tôn giáo xung quanh Đạo Phật, với các triết lý tồn tại trên đất Ấn, thì thấy rất nhiều manh mối về sự hình thành Đạo Phật. Ý muốn nói các điều kiện cần và đủ để làm tiền-đề cho sự xuất hiện một “Đại Giác Ngộ” trong nhân loại. Nói cách khác, Đại Giác Ngộ xuất hiện vì cái NHÂN của nó đã tròn đầy! Trình bày về chủ đề này rất dễ bị vướng vào các cấm kỵ của quan điểm truyền thống, rất dễ gây hiểu lầm. Nên xin tạm dừng lại.

Về vấn đề đang thảo luận, nếu có thể, các đạo hữu nên tìm hiểu mối liên hệ của Đạo Phật với các trường phái triết học trước và đồng thời với Đạo Phật. Các thông tin này sẽ giúp tìm hiểu xác định các THIỀN nào mà Đạo Phật có sử dụng hoặc không sử dụng. Nếu có sử dụng, thì sử dụng trong trường hợp nào! Nếu chưa có những thông tin này, thì mọi tranh luận sẽ khó đi đến một sự nhất trí. Bài kinh này có thể mâu thuẫn với bài kinh kia (nếu không được hiểu đúng). Hai quan điểm khác nhau cùng lấy dẫn chứng từ kinh điển thì làm sao kết luận được!

Hoàng Lan Thien Nguyen Ba Với cách lý giải của Hoàng Lan ở trên thì bài kinh MN26 có những mâu thuẩn. Tương tự như vậy, bài kinh Bát Thành cũng có mâu thuẩn khi Tựa bài kinh là Bát Thành mà trong kinh là Thập Nhị Thành, nếu bỏ đi 4 Định vô sắc thì đúng Bát Thành. ==> Ko nên tin 100% vào kinh điển

Hạnh Trương Hiếu Nguyễn, có thể đoạn kinh được dịch chưa đúng

Hạnh Trương Trời, Hoàng Lan ơi, bát thành là cái Thành có tên là số 8 ạ, và chỉ có 11 cái pháp trong đó thôi, là thập nhất thui, hihi.

Cần thận giùm khi đánh giá kinh điển

Hoàng Lan Cái ý của anh Hạnh là rất hay, em đang suy nghĩ theo huớng này để xem sao alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1032″> <<Nếu chúng chỉ là các XỨ, thì câu chuyện có thể hoàn toàn khác chăng?>>

Hạnh Trương Hoàng Lan đọc lại kinh Bát Thành, có sự đổ vỡ gì thì lỗi không phải tại HT nha, dặn trước rồi đó alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1033″>

Hạnh Trương Bs Phạm Doãn trốn luôn vào Vô Sắc Xứ, đố ai tìm ra, hehe

Pāli Việt Còn có tầng thiền thứ 9 nữa: DIỆT THO TƯỞNG ĐỊNH. Muốn nhập thiền Diệt Thọ Tưởng thì phải thành tựu 4 thiền hữu sắc và 4 thiền vô sắc. Thấy ở Tạng Kinh đề cập nhiều trường hợp các vị A-la- hán đã trú 7 ngày đêm trong trạng thái định này.

Kan Trần dạ thưa quý vị trong nhà,

vấn đề các thiền quả thật là gây rất nhiều khó khăn cho chúng ta khi muốn tìm hiểu. xin trích lại 1 đoạn khi Đức Phật bát-niết-bàn trong kinh Trường bộ số 16:

” 8. Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.

Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:

– Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.

– Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.

9. Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ. ”

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm

Có rất nhiều dấu hỏi cần đặt ra chỗ này. Nhân mọi người đang cho rằng “thiền Vô Sắc” cao hơn “thiền Sắc Giới”, con muốn hỏi là nếu như vậy thì tại sao Đức Phật lại diệt độ từ Tứ thiền ạ?

Truong Bo: 16. Kinh Dai Bat Niet Ban

www.buddhanet.net

Phạm Doãn Có những đạo hữu chưa tìm hiểu về kinh Bát Thành (một danh từ riêng chỉ địa phương), nên có thể bị kẹt trong lý luận của những vị thày nào đó. Post lại tài liệu này đi đạo hữu Hạnh Trương. Post xong rồi, nếu có rắc rối, nếu có người cầm gậy đi tìm, thì cứ trốn vào Vô Sắc xứ! hi hi…

Hạnh Trương Kan Trần ơi, trổ tài Pali, xem hộ đoạn này có chữ định nào đi với vô sắc không nhé , hehe

219. atha kho bhagavā paṭhamaṃ jhānaṃ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṃ jhānaṃ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṃ jhānaṃ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṃ jhānaṃ samāpajji. catutthajjhānā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṃ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṃ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṃ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā saññāvedayitanirodhaṃ samāpajji.

♦ atha kho āyasmā ānando āyasmantaṃ anuruddhaṃ etadavoca — “parinibbuto, bhante anuruddha, bhagavā”ti. “nāvuso ānanda, bhagavā parinibbuto, saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno”ti.

♦ atha kho bhagavā saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṃ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṃ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṃ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā catutthaṃ jhānaṃ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṃ jhānaṃ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṃ jhānaṃ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā paṭhamaṃ jhānaṃ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṃ jhānaṃ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṃ jhānaṃ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṃ jhānaṃ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā samanantarā bhagavā parinibbāyi.

October 26 at 7:31pm · Like · 2

Thien Nguyen Ba Hoàng Lan: bạn đọc kỹ lại bài Kinh Bát Thành xem có giống như bạn viết không?
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung52.htm

52. Kinh Bat Thanh

www.buddhanet.net

Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản đi…See More

October 26 at 7:32pm via mobile · Like · Remove Preview

Hạnh Trương Kan Trần <<Có rất nhiều dấu hỏi cần đặt ra chỗ này. Nhân mọi người đang cho rằng “thiền Vô Sắc” cao hơn “thiền Sắc Giới”, con muốn hỏi là nếu như vậy thì tại sao Đức Phật lại diệt độ từ Tứ thiền ạ?>>

Nếu Vô sắc chỉ là Xứ, không phải thiền, chẳng phải định,thì việc so sánh tứ thiền sắc giới và các vô sắc xứ có lẽ không ổn nhỉ, ai lại đi so sánh cái xe hơi với cái gara bao giờ chứ alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1036″>

October 26 at 7:33pm · Like · 6

Thien Nguyen Ba Hay quá! Vấn đề mới đây, em chờ ý kiến của quý Sư và các Anh chị để học hỏi đây alt=”:)” aria-label=smile title=”:)” v:shapes=”_x0000_i1038″>

October 26 at 7:38pm via mobile · Like · 2

Varacāritto Nguyễn Chỗ “không tôn kính pháp này” và “khổ não” với “bực mình” xem phần tiếng Anh là đã thấy khác rồi:
“ta không tôn kính pháp này” được thấy là—->”ta thấy pháp này không thuyết phục” (dịch theo đại ý) hoặc “không thoả mãn” (dịch theo từ ngữ).
“khổ não” với “bực mình” được thấy là —->”mệt mỏi” và “đem lại rắc rối”.

October 26 at 10:46pm · Like

Kan Trần dạ anh Hạnh,

em thử dịch đoạn đầu xem sao.

219. atha kho bhagavā paṭhamaṃ jhānaṃ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṃ jhānaṃ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṃ jhānaṃ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṃ jhānaṃ samāpajji. catutthajjhānā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṃ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṃ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṃ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā saññāvedayitanirodhaṃ samāpajji.

Rồi Thế Tôn tiến tới thiền thứ nhất (sơ thiền); làm tăng trưởng bởi thiền thứ nhất Thế Tôn tiến tới thiền thứ hai; làm tăng trưởng bởi thiền thứ hai Thế Tôn tiến tới thiền thứ ba; làm tăng trưởng bởi thiền thứ ba Thế Tôn tiến tới thiền thứ tư. Làm tăng trưởng bởi thiền thứ tư Thế Tôn tiến tới “āyatana không gian vô tận”. Làm tăng trưởng bởi được an trú “āyatana không gian vô tận” Thế Tôn tiến tới “āyatana thức vô tận”. Làm tăng trưởng bởi được an trú “āyatana thức vô tận” Thế Tôn tiến tới “āyatana không còn cái gì hết”. Làm tăng trưởng bởi được an trú “āyatana không còn cái gì hết” Thế Tôn tiến tới “āyatana không có Tưởng cũng không có Phi Tưởng”. Làm tăng trưởng bởi được an trú “āyatana không có Tưởng cũng không có Phi Tưởng” Thế Tôn tiến tới “chấm dứt Thọ và Tưởng”.

– āyatana tạm thời em chưa biết dịch thế nào cho phải. bởi dịch là “Xứ” dễ gây hiểu nhầm là một cái gì đó bên ngoài mình.

– trong các vô sắc cái chữ samāpatti (attainment; an enjoying stage of meditation theo Concise Pali English Dictionary) có lẽ được Thầy Minh Châu dịch là “định”. Bhikkhu Thanissaro dịch là “dimension” (5. a level of existence or consciousness theo Merriam-Webster).

October 27 at 12:07am · Like · 4

Nguyễn Khoa Văn mời anh Nguyễn Đức Long

October 27 at 12:14am · Like · 2

Kan Trần dạ anh Hạnh Trương,

có 1 vấn đề cũng thú vị là: trong suốt quá trình Đức Phật trải qua các thiền cho đến khi Ngài diệt độ thì tại sao các vị Ananda và Anuruddha lại biết Ngài từ sơ thiền sang nhị thiền, sang tam thiền, tứ thiền v.v. ?? Có những dấu hiệu gì của Ngài khiến 2 vị kia biết?

October 27 at 12:19am · Like · 4

Phạm Doãn ———————–

PHỎNG ĐOÁN VỀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA “TÁM THIỀN” trong Giáo Pháp của Đức Phật, bằng một giải thích vắn tắt:

Đức Phật không hài lòng với sự giải thoát của loại hai định này (Vô Sở Hữu Xứ và Phi Tưởng-Phi phi Tưởng Xứ), nhưng Đức Phật không hề phủ nhận sự ích lợi của hai bậc định này. Tức không hề nói hai bậc định này, hay cả bốn định vô sắc nói chung, là độc hại, là cản trở sự tu tập! Chứng cứ là trong suốt kinh tạng Pali rất nhiều bài kinh Đức Phật đề cập đến, khuyên về sự tu tập hoặc an trú tâm trong tám loại định (bốn hữu sắc và bốn vô sắc).

Khi Đức Phật tuyên thuyết Chánh Pháp thì những đệ tử của ngài như những ngài Sariputta, Maha Kassapa, Maha Moggalana v.v… đều là những người tu tập theo Ngoại Đạo với trình độ rất cao. Các trưởng lão này đều có nhiều thiền định, nhiều thần thông. Và chính ở những vị đắc thiền định (ngoại đạo) này, theo kinh điển Pali, là những vị có khả năng giác ngộ cao nhất và nhanh nhất!

Như vậy, chính là nhờ các thiền định này mà các ngài thực hiện Tuệ quán (tức thực hiện Tam Minh) thành công nhanh chóng.
– Suy ra, nếu đúng là ĐịNH thì bất cứ Định nào cũng là trạng thái tâm vắng lặng, ngoại đạo hay nội đạo cũng vậy. (Đừng tin Ngoại Đạo là những vị không biết đến ly dục ly ác pháp!) Do đó cũng đều có lợi ích cho sự tu tập, sự an trú tâm khi cần thiết!
Đức Phật không phủ nhận các loại THIỀN ĐỊNH mà các đệ tử của ngài đang có (cũng như chính ngài đang có). Trái lại Ngài biết rõ hơn ai hết, rằng vị nào có Định Lực cao vị ấy sẽ thực hiện Tam Minh nhanh nhất!

– ĐỊNH là phương tiện của Ngoại Đạo, tài sản của nền văn minh Ấn Độ cổ xưa
– Quy Trình Thực Hiện Tam Minh (TUỆ QUÁN-VIPASSANA) là phát hiện sáng tạo thuộc về Giáo Pháp của Đức Phật.
Phỏng đoán:
Trong giai đoạn đầu, Tăng Đoàn rất nhiều vị có đủ tám Định, Đức Phật thuyết giảng Chánh Pháp của ngài kèm theo các nhắc nhở về Tám Thiền như những phương tiện có ích trên con đường tu tập. Càng về sau thì có lẽ càng ít người tu tập đầy đủ tám thiền hơn vì chỉ cần tu Bốn thiền là có thể thực hiện Tam Minh được (theo hướng dẫn của Đức Phật)

Khi suy nghĩ như vậy, tôi chỉ có trình bày với một vị (có lẽ đang ở Pa Auk) về vấn đề này. Dĩ nhiên vị ấy phản đối quyết liệt. Tôi cũng chưa dám đưa quan điểm này ra với ai. Tôi cảm thông rằng: vì lòng yêu mến và kính ngưỡng, mọi phật tử đều muốn hình ảnh của Đạo Phật phải là tuyệt đối hoàn mỹ. Đạo Phật phải hoàn toàn độc lập với các tôn giáo khác!
(Về sau, tôi đi tìm thông tin thì chỉ tìm thấy có duy nhất một nguồn gọi là “đồng cảm”)

– Comment này chỉ là góp phần thảo luận cho bài kinh.
Tôi không chủ ý thuyết phục các đạo hữu ở đây bằng quan điểm riêng của mình. Do đó tôi sẽ không biện minh gì cả, nếu có các comments phản đối quan điểm này.

October 27 at 1:03am · Like · 8

Phạm Doãn Nguồn gọi là “đồng cảm” vừa nói ở trên, tôi post ở đây nguyên bản tiếng Anh và dịch Việt (có tách rời các câu cho dễ đọc trên FB)

Absorption concentration is also called jhana.
There are eight types of jhana:
the four fine-material jhanas(rupa•jjhana),
and the four immaterial jhanas(arupa•jjhana).
They are also called the eight attainments( attha samapatti).
– The eight attainments are not unique to a Buddha’s Dispensation. Outside the Dispensation of a Buddha, they are taught by ascetics and wanderers, by Bodhisattas bound for Full Enlightenment, and by Wheel-Turning Kings. For example, our Bodhisatta learned the four material jhanas and first three immaterial jhanas from Alara Kalama, and then he learned also the fourth immaterial jhana from Uddaka Ramaputta. This is called round-basis jhana(vatta•padika•jhana): developing jhana in order to attain a higher rebirth, to continue the rebirth round. Outside a Buddha’s Dispensation, there are also those who use their jhana to develop psychic powers(abhiñña) : flying, walking on water, etc.
Developing insight-basis jhana(vipassana•padaka•jjhana) (developing jhana in order to penetrate to ultimate truth for practising insight meditation), however, is unique to a Buddha’s Dispensation

Source: The Workings of Kamma, by Pa Auk Sayadaw, PDF, page 81

Sự tập trung đến mức hòa nhập được gọi là Jhana
Có tám loại Jhana
Bốn định hữu sắc
Và bốn định Vô sắc
Được gọi chung là tám định chứng (attha sammapatti).

Tám Định Chứng không phải là chỉ trong Giáo Pháp của Đức Phật mới có.
Ngoài Giáo Pháp của Đức Phật, các loại Định được dạy bởi các tu sĩ Khổ hạnh và Du sĩ, bởi các Bồ Tát hướng tới Giải thoát trọn vẹn và bởi các Chuyển Luân Thánh Vương. Ví dụ, Đức Bồ Tát của chúng ta tu học bốn Định Hữu Sắc và ba Định Vô Sắc đầu tiên (trong bốn) với ngài Alara Kalama, sau đó đã học Định Vô Sắc thứ tư với ngài Uddaka Ramaputta. Đây được gọi là các Định “còn trong luân hồi” (vatta padika jhana): tức Định được phát triển nhằm có được tái sanh trong cõi cao hơn để tiếp tục vòng luân hồi.
Ngoài Giáo Pháp của Đức Phật có người còn dùng Thiền Định (Jhana) để phát triển năng lực tinh thần như: để bay, để đi trên nước.v.v…

Phát triển Định “có căn gốc Tuệ” (Vipassana padika Jhana) tức phát triển Định với mục đích xuyên thấu sự thực cùng tột nhằm thực hành Thiền Tuệ. Như vậy, đó mới chính là cái đặc thù duy nhất của Giáo Pháp Đức Phật.

Phạm Doãn

GÓP Ý VỀ VẤN ĐỀ NGOẠI ĐẠO
– Chưa bao giờ Đức Phật chê bai nền minh triết Veda, cái nôi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo cao thấp khác nhau trên đất Ấn Độ. Dù có tranh luận về quan điểm hay có bài bác về triết lý lẫn nhau, nhưng với văn hóa Ấn Độ, tất cả các tu sĩ tại Ấn Độ đều thấy họ cùng là những cành lá sinh ra chung từ một gốc rễ. Đó là nền minh triết Vệ Đà.

Vệ Đà không phải là một tôn giáo! Nó chỉ là một bộ sách ghi lại kiến thức cao siêu của tiền nhân. Nó sẵn sàng để phát triển thành các triết lý khác nhau. Triết lý nào mạnh, cần thiết cho con người thì triết lý ấy tồn tại. Nó giống như một nơi để góp chung vốn trí tuệ. Nói cho dễ hiểu, nó gần giống như trang Wiki ai có kiến thức thì góp vào. Sau một thời gian, Wiki trở thành một “kho tàng” mà ai tìm thông tin cũng phải ghé qua (Một loại hình web 2.1)

– Ngay khi Đức Phật thành Đạo với suy nghĩ rằng Giáo Pháp này “rất khó” để truyền đạt được. Nhưng ngài đã chọn ai là những người có khả năng hiểu biết và có khả năng tiếp thu cao nhất, để truyền pháp?
– Đó là hai vị thầy “Ngoại đạo”. Kế đó là năm tôn giả Kiều Trần Như (cũng là ngoại đạo).
Vậy còn ai nữa! Chính các vị gọi là “Ngoại đạo” lại là candidats đầu tiên khi Chánh Pháp được bắt đầu truyền cho nhân loại!
Ngoại đạo (Khổ hạnh, Sa Môn, Bà La Môn) không phải tất cả đều là những tu sĩ thấp kém. Ngược lại, theo kinh điển, ta thấy các vị ấy có khi là người chỉ cần nghe sơ qua là có thể giác ngộ (ví dụ các Ngài Xá Lợi Phất, Maha Ca Diếp v.v.).
– Khi Đức Phật muốn tuyên bố con đường đi tới Giác Ngộ tối hậu, thì người hiểu biết con đường đó duy nhất là chính ngài! Điều đó đồng nghĩa là các học trò của Đức Phật (hầu hết Tăng Đoàn) tất cả phải là Ngoại đạo (Khổ Hạnh, Du sĩ và Bà La Môn).
– Còn lâu… ta mới “với” tới Đức Hạnh và Trí Tuệ của các vị “ngoại đạo” đó, như đã được mô tả trong kinh, thời xưa ấy!

Chỉ riêng trong trường hợp các vị ngoại đạo (ở Ấn Độ và sau đó là Trung Quốc) thay đổi giáo pháp của Đức Phật thành một học thuyết khác với Chánh Pháp, rồi lại gán ép cho đó là giáo pháp của Đức Phật thì mới thực đáng phê bình. Nếu các ngài Mã Minh, Long Thọ v.v… tuyên bố các luận thuyết của các ngài là một con đường (ĐẠO) riêng biệt khác, thì đã không có tranh cãi nào xảy ra.

Khi Đạo Phật nguyên thủy ở VN được nhiều người biết đến (qua sự phổ biến kinh điển Pali) thì có một phản ứng chống lại Đạo Phật phát triển, tức chống lại các luận sư ngoại đạo đó. Nhưng vì có sự chống đối chỉ theo cảm xúc mà thiếu phân biệt, khiến dẫn tới quan điểm cho rằng, hễ cứ ngoại đạo là thấp kém, là sai lầm, là không trí tuệ, là không đức hạnh.v.v…

– Comment này là để góp phần “giải độc” cho một số người rơi vào quan điểm chống đối Ngoại đạo một cách quá khích! Cứ nghe tới chữ “Ngọai đạo” hay “Bà La Môn Ngoại Đạo” là phản kháng tưng bừng và quyết liệt!

Kan Trần dạ thưa chú Phạm Doãn,

– về vấn đề “ngoại đạo”, con cũng suy nghĩ như chú. Chỉ có chỗ sư Long Thọ là con không cùng suy nghĩ như chú. Tinh thần của sư Long Thọ con nghĩ là rất gần với tinh thần Đức Phật từng dạy, nhưng chuyện này không thể gói gọn trong vài comment.

– về “tám thiền” (tám định), con không biết gì nhiều để bàn. Chỉ là như con đã dẫn từ kinh đại bát-niết-bàn DN 16: sau tám định còn tới Diệt Thọ Tưởng Định (chấm dứt Thọ và Tưởng) rồi trở lui về tới sơ thiền, rồi lại từ sơ thiền tới tứ thiền rồi diệt độ. Tại sao lại có 1 quá trình tới lui như vậy? Tại sao lại từ tứ thiền mà diệt độ? Đây là những thắc mắc chưa có lời giải của con.

– về “tuệ quán”, con không biết đích xác nó là quán cái tuệ gì! nhưng nếu diễn giải như Thanh Tịnh Đạo hay Abhidhamma thì con hoàn toàn không đồng ý. Kính.

Phạm Doãn “…đích xác nó là quán cái tuệ gì?”. Thanh Tịnh Đạo có mô tả chi tiết mà alt=”:P” aria-label=tongue title=”:P” v:shapes=”_x0000_i1048″> . Không có quán cái gì khác hơn là Danh, Sắc, Tứ Diệu Đế và Lý Duyên Khởi. Thấy được Lý Duyên Khởi khi tâm vận hành là có tuệ rồi, gần tới đích rồi hi hi… alt=”:P” aria-label=tongue title=”:P” v:shapes=”_x0000_i1049″

Kan Trần dạ thưa chú,

Ý con muốn nói là Tuệ như Thanh Tịnh Đạo mô tả và diễn giải con thấy còn nhiều chỗ cần phải xem lại ạ. Cũng như Abhidhamma và các bộ luận liên quan mô tả tuệ giải thoát con thấy nó kỳ kỳ.

Con nhớ con còn “nợ” chú 1 phân tích về Abhidhamma, không biết con có đủ sức trả không đây chú ơi! alt=”:P” aria-label=tongue title=”:P” v:shapes=”_x0000_i1051″>

Hoàng Lan @Anh Hạnh, Thien Nguyen Ba: Em cảm ơn 2 anh nhiều, em đọc lại rồi! Em khá ẩu, em xin lổi 2 anh nhiều.

Vô Vô Không Trước khi xem Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Trí Di và đặc biệt là ngài Bồ Đề Đạt Ma (bodhidharma) có phải ngoại đạo hay không thì trước tiên chúng ta cần xem lại các quan điểm, tác phẩm của các vị ấy có giống với cách mà Phật dạy cho các đệ tử sống độc cư trong kinh(đặc biệt là Tăng Chi Bộ), luật hay không, con đường mà chúng ta rút ra khi xem toàn bộ kinh điển, cuộc đời và thành đạo của các vị đệ tử Phật…
Điều thứ 2 là con đường thực hiện tam minh và vipassana là khác nhau theo 5 pháp chủ : Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ.
Điều thứ 3 là 5 pháp chủ trong đó có định thì chi phần nào khởi lên nhanh, mạnh, thuần thục thì hành giả sẽ giải thoát theo con đường đó.
Định, tuệ có khi chỉ là hổ trợ cho giải thoát, phần nhiều trong kinh điển nhắc đến các vị giải thoát nhanh hay chậm là dựa vào nghiệp và ba la mật của vị ấy.
Ngày nay không ai hiểu đạo mà đi ôm vào mình bát thiền là của riêng đạo Phật, các vị thầy không khuyến khích vì đơn giản là khó để chứng phi tưởng phi phi tưởng xứ để có lục thông ngay trong kiếp sống này.
Điều cuối cùng là mong chúng ta hãy rút ra những điểm tốt tương đồng, không nên vội kết luận nếu đó chỉ là cảm tính.

Hạnh Trương Kan Trần ơi, chữ samāpajji lặp đi lặp lại ở các câu, thế mà có lúc không thấy nó được dịch, hoạc dịch là nhập, có lúc được dịch là định. Lạ quá.

atha kho bhagavā paṭhamaṃ jhānaṃ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṃ jhānaṃ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṃ jhānaṃ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṃ jhānaṃ samāpajji

samāpajji: entered upon; engaged in. (aor. of samāpajjati)

hơn nữa, chữ định nếu có, nó có từ riêng, đứng cạnh chữ samāpajji:

488. “atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu tathārūpaṃ <<samādhiṃ samāpajji>>, yathāsamāhite citte devayāniyo maggo pāturahosi. atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena cātumahārājikā devā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā cātumahārājike deve etadavoca — ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ — pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?

Anh thực sự là chưa thấy chỗ nào trong Nikay dùng chữ jhana hay samadhi cùng với 4 Vô sắc xứ cả.

Về từ Xứ thì đây :

Āyatana (nt.)

[Sk. āyatana, not found in the Vedas; but freq. in BSk. From ā + yam, cp. āyata. The pl. is āyatanā at S iv.70. — For full definition of term as seen by the Pāli Commentators see Bdhgh’s expln at DA i. 124, 125, with which cp. the popular etym. at KhA 82 “āyassa vā tananato āyatassa vā saŋsāradukkhassa nayanato āyatanāni” and at Vism 527 “āye tanoti āyatañ ca nayatī ti ā.”]

1. stretch, extent, reach, compass region; sphere, locus, place, spot; position, occasion (corresponding to Bdhgh’s definition at DA i.124 as “samosaraṇa”) D iii.241, 279 (vimutti˚); S ii.41, 269; iv.217 v.119 sq., 318. sq.; A iii.141 (ariya˚); v.61 (abhibh˚ q. v.) Sn 406 (rajass˚ “haunt of passion” = rāgādi — rajassa uppatti — deso SnA 381); J i.80 (raj˚). Freq. in phrase araññ˚; a lonely spot, a spot in the forest J i.173; VvA 301; PvA 42, 54.

2. exertion, doing, working, practice performance (comprising Bdhgh’s definition at DA i.124 as paññatti), usually — ˚, viz. kamm˚; Nd1 505; Vbh 324 353; kasiṇ˚; A v.46 sq., 60; Ps i.28; titth˚; A i.173 175; Vbh 145, 367; sipp˚; (art, craft) D i.51; Nd2 505 Vbh 324, 353; cp. an˚; non — exertion, indolence, sluggishness J v.121.
3. sphere of perception or sense in general, object of thought, sense — organ & object; relation order. — Cpd. p. 183 says rightly: “āyatana cannot be rendered by a single English word to cover both sense — organs (the mind being regarded as 6th sense) and sense objects”. — These āyatanāni (relations, functions reciprocalities) are thus divided into two groups, inner (ajjhattikāni) and outer (bāhirāni), and comprise the foll.: (a) ajjhatt˚;: 1. cakkhu eye, 2. sota ear, 3. ghāna nose, 4. jivhā tongue, 5. kāya body, 6. mano mind (b) bāh˚;: 1. rūpa visible object, 2. sadda sound, 3 gandha odour, 4. rasa taste, 5. phoṭṭhabba tangible object, 6. dhamma cognizable object. — For details as regards connotation & application see ;Dhs trsl. introduction li sq. Cpd. 90 n. 2; 254 sq. — Approximately covering this meaning (3) is Bdhgh’s definition of āyatana at DA i.124 as sañjāti and as kāraṇa (origin & cause i. e. mutually occasioning & conditioning relations or adaptations). See also Nd;2 under rūpa for further classifications — For the above mentioned 12 āyatanāni see the foll. passages: D ii.302 sq.; iii.102, 243; A iii.400 v.52; Sn 373 (cp. SnA 366); Ps i.7, 22, 101, 137; ii. 181, 225, 230; Dhs 1335; Vbh 401 sq.; Nett 57, 82 Vism 481; ThA 49, 285. Of these 6 are mentioned at S i.113, ii.3; iv.100, 174 sq.; It 114; Vbh 135 sq., 294 Nett 13, 28, 30; Vism 565 sq. Other sets of 10 at Nett 69; of 4 at D ii.112, 156; of 2 at D ii.69. — Here also belongs ākāsɔ ānañcɔ āyatana, ākiñcaññ˚ etc. (see under ākāsa etc. and s. v.), e. g. at D i.34 sq., 183; A iv.451 sq.; Vbh 172, 189, 262 sq.; Vism 324 sq. — Unclassified passages: M i.61; ii.233; iii.32, 216, 273; S i.196; ii.6 8, 24, 72 sq.; iii.228; iv.98; v.426; A i.113, 163, 225 iii.17, 27, 82, 426; iv.146, 426; v.30, 321, 351, 359 Nd1 109, 133, 171, 340; J i.381 (paripuṇṇa˚); Vbh 412 sq. (id.).
— uppāda birth of the āyatanas (see above 3) Vin i.185 — kusala skilled in the ā. M iii.63. — kusalatā skill in the spheres (of sense) D iii.212; Dhs 1335. — ṭṭha founded in the sense — organs Ps i.132; ii.121.

Pāli Việt giúp một tay đi ạ, nếu Sư nói các Vô sắc xứ được dịch là Định, là Thiền là đúng, thì Sư nói con biết để con kiểm tra lại cái biết của con ạ. Còn nếu quả là không có thì xác nhận giùm để con tiếp tục “đào”

Hạnh Trương Nguyễn Khoa Văn thấy mời hoài vậy, tự mình tham gia trao đổi đi chứ

Nguyễn Khoa Văn dạ, đang xem & lắng nghe trước bác ạ

Pāli Việt Dùng lệnh search ở CSCD xem thế nào:
– arūpajhānāni = các thiền vô sắc (Dhammasaṅganī – Tạng Abhidhamma) KIỂM TRA LẠI THÌ THẤY Ở ĐẦU ĐỀ NÊN KHÔNG TÍNH.
– arūpasamādhi = định vô sắc (chỉ thấy ở bản Chú Giải của Visuddhimagga – Thanh Tịnh Đạo)
– arūpasamāpattiyo = các sự chứng đạt / thể nhập vô sắc (chỉ thấy ở Chú Giải và ở 1 vài tập Tiểu Bộ được kết tập sau này)

Hạnh Trương Thế này thì quả thật là căng rồi đây , từ Xứ tới Thiền và Định , hihi

Pāli Việt Nhưng ở tài liệu giáo khoa Abhidhamma thì ghi rõ 5 tâm thiền sắc giới (tính thành 5 vì tầm và tứ ở sơ thiền được chia làm 2, ở Tạng Kinh thì chỉ tính là 4, nghĩa là tứ thiền ở Tạng Kinh tương đương ngũ thiền ở Tạng Abhidhamma) và 4 tâm thiền vô sắc giới.

Hạnh Trương Abhidhamma thì con biết là có, hihi, nhưng nó có cũng lâu lâu sau thời Phật rồi .

Phan Minh Nguyet cháu rất đồng ý với những comment của chú Phạm Doãn về mối liên hệ giữa bối cảnh lịch sử Ấn Độ và sự ra đời,giác ngộ của Đức Phật. Chú có thể giới thiệu 1 số sách/tài liệu lịch sử để mọi người cùng tham khảo ko ạ? Hay chú mở 1 doc tài liệu tham khảo về lịch sử Ấn Độ thời Đức Phật đi ạ?

Vô Vô Không:  Sao Hạnh Trương không xem Abhi có từ thời đức Phật xem như là truyền tâm ấn.

Hạnh Trương Vdp hở nhiều chỗ, nó không thể là từ trí của một vị Phật TOÀN GIÁC được.

Phạm Doãn Trong hoàn cảnh này, tự mỗi người lần mò thôi Phan Minh Nguyet ạ. Kiếp sau, nếu chú có may mắn thành Sư, thành học giả, có bằng cấp và uy tín, thì chú sẽ lại vào Pali Chuyên Đề để mở một Document như cháu đề nghị!

Kan Trần bạn Vô Vô Không vui tính quá đi ạ!

nhấn “lai” ngay còm vừa rồi của bác Hạnh cho nó nóng, hehe!

– Chú Phạm Doãn ơi, mấy điều kiện kia thì để kiếp sau, con kiếp này ta làm đại 1 doc đi ạ!

Kan Trần dạ anh Hạnh,

samāpajji là “nhập” anh ạ; còn samāpatti mới được dịch là “định” (attainment). Anh để ý trong 4 vô sắc luôn có chữ này đi kèm. Còn chuyện nó có đồng nghĩa với samadhi hay không thì em hoàn toàn mù tịt ạ!

Vô Vô Không Vậy theo Hạnh Trương nếu HT tu thiền thấy ánh sáng, HT đi hỏi Phật nó là cái gì? Phật nói gọi là tưởng ánh sáng, là tùy phiền não, dạy xong Phật bảo: từ nay thắc mắc cứ tra VDP, thế thì VDP gọi cái này là gì? Về bản chất chúng có khác nhau không? VVK nhớ có đọc một tài liệu nói ở Ấn chỉ riêng từ “cái tô” mà có tới 9 cách gọi khác nhau theo tên địa phương trong cùng một ngôn ngữ nói, nếu mà trình bày theo ngôn ngữ viết được thời đức Phật gọi là ngôn ngữ bọn thương buôn, thì ôi thôi không biết đâu mà mò! Theo HT VDP bao nhiêu phần không hở?

Hà Lý Băng   @Anh Hạnh Trương: ” Muốn thấy được nước thì người ta phải ở ngoài nước, muốn nhàm chán được Sắc thì người ta phải ở Vô Sắc,”
Em không đồng ý với anh điểm này. TTĐ nói do nhàm chán Sắc mới vào Vô Sắc, chứ không phải vào Vô Sắc để nhàm chán Sắc. Em thấy m…See More

Ba Nguyen   @Kan Trần: samāpajji là “nhập” anh ạ; còn samāpatti mới được dịch là “định” (attainment). — Sư Pāli Việt đã viết: arūpasamāpattiyo = các sự chứng đạt / thể nhập vô sắc. — Chữ samāpatti nằm trong arūpasamāpattiyo có nghĩa là sự chứng đạt / thể nhập (Sư Pāli Việt). Attainment dịch là sự đạt được, đạt tới. Chưa thấy nghĩa là “định”.

Nhân đây xin cảm ơn Sư Pāli Việt đoạn Sư tổng hợp các kết quả tìm kiếm. Xin tóm tắt lại kết quả tìm kiếm của Sư: chữ jhānā, samādhi, samāpatti gắn với chữ arūpa chỉ có trong: Đầu đề của Abhidhamma, Chú giải của Visuddhimagga, Chú giải và 1 vài tập Tiểu Bộ được kết tập sau này.

Ba Nguyen   @Vô Vô Không: Vậy theo Hạnh Trương nếu HT tu thiền thấy ánh sáng, HT đi hỏi Phật nó là cái gì? Phật nói gọi là tưởng ánh sáng, là tùy phiền não, dạy xong Phật bảo: từ nay thắc mắc cứ tra VDP. — Tôi chưa đủ may mắn thấy bài kinh nào đức Phật dạy về điều này như bạn, vậy mong bạn trích bài kinh này ra giúp tôi. Rất mong.

Ba Nguyen   @Kan Trần: Có rất nhiều dấu hỏi cần đặt ra chỗ này. Nhân mọi người đang cho rằng “thiền Vô Sắc” cao hơn “thiền Sắc Giới”, con muốn hỏi là nếu như vậy thì tại sao Đức Phật lại diệt độ từ Tứ thiền ạ? — Tôi tìm Kinh Du Hành trong Hán Tạng đối chiếu với Kinh Đại Bát Niết Bàn, tôi thấy đức Phật cũng diệt độ sau khi xuất tứ thiền, nhưng tôn giả Anuruddha nói với Ananda câu này: “Chưa, A-nan. Thế Tôn hiện đang ở trong định diệt thọ tưởng. Tôi lúc trước được thân nghe từ Phật rằng, khi Phật từ tứ thiền xuất mới vào Niết-bàn.” Thế thì, thắc mắc của bạn tuy chưa được giải thích nhưng đã được Hán Tạng củng cố thêm: đức Phật nói với Anuruddha: “Tứ thiền xuất mới vào Niết-bàn.”

Vô Vô Không : À cái này là mình đặt giả sử cho HT thôi, nếu HT hỏi được Phật chắc phải hơn A La Hán. Còn trong kinh giảng cho ngài A Nậu Lâu Đà có nhắc tới tưởng ánh sáng một trong 10 tùy phiền não, theo các luận sư thì đó là về mặt chế địnhcòn về mặt chân đế là sắc do tâm sinh nên không là phiền não. Từ đây cũng nãy sinh vấn đề là khi đạt tứ thiền và nhất tâm (cittass’ekaggatā? Ekaggatā cetasika?) hướng tới các kiếp sống quá khứ và vị lai thì chúng có thật xãy ra như chúng là… mắt, tai… ta chứng kiến??? Abhidhamma = các pháp vi diệu thì có nhắc trong 1 vài bài kinh, bạn có thể search trên Pali Canon.

Hà Lý Băng <<Anh Hạnh Trương: ” Muốn thấy được nước thì người ta phải ở ngoài nước, muốn nhàm chán được Sắc thì người ta phải ở Vô Sắc,”
Em không đồng ý với anh điểm này. TTĐ nói do nhàm chán Sắc mới vào Vô Sắc, chứ không phải vào Vô Sắc để nhàm chán Sắc. Em thấy một người quán 32 thứ bất tịnh có thể nhàm chán sắc, đâu cần phải nhập vào Vô Sắc làm gì.
Đồng ý với chú Phạm Doãn về vấn đề ngoại đạo. Ví dụ như giáo lý Ahimsa (bất hại) của Kỳ Na giáo cũng là phần quan trọng của Đạo Phật.

Hoàng Lan Nhân tiện đang nói về định, con xin thỉnh BS Phạm Doãn hay quý Sư am hiểu về đạo lộ của Trường thiền Pa-uck nói thêm về Cận định với ạ. Con thấy khái niệm này rất lý thú, dù con chưa thật sự hiểu hết nhưng nó gây cho con sự tò mò P/s: Con nhớ có lần BS có cm ở PLCĐ muốn vào định thì bên Pauck có dạy cận định.

Phạm Doãn

Ở PLCĐ cũng có nhiều sư tu tại trường Pa Auk, nhưng có lẽ quý Sư bận, nên ít vào thảo luận. Thứ tự tu tập (đạo lộ) ở trường Pa Auk chính là thứ tự tu tập của Thanh Tịnh Đạo. Ban Hoàng Lan tham khảo bằng cách đọc Thanh Tịnh Đạo. Hoặc đọc tài liệu tóm tắt này: https://bsphamdoan.wordpress.com/tu%E1%BB%87-quan-vipassana/64-2/

– Thể nhập Thiền Định và Thiền Tuệ

bsphamdoan.wordpress.com

Hạnh Trương : Bạn đọc ở đây, trong này gần như là đủ đạo lộ tu tập của Pa Auk.

Ping English Vấn đề ngoại đạo không dám lạm bàn. Nhưng hy vọng mọi người không vơ đũa cả nắm và vội vàng quy kết Phật giáo Đại thừa Ấn độ, Trung quốc,… là ngoại đạo. Xin trích dẫn lời Hòa thượng W. Rahula:

“Tôi nghiên cứu đạo Phật Ðại thừa nhiều năm, và càng nghiên cứu tôi càng thấy hầu như không có bất cứ điều gì khác nhau giữa đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Ðại thừa về mặt giáo lý căn bản.

– Cả hai đều chấp nhận Ðức Phật Thích Ca là bậc đạo sư.
– Tứ Thánh Ðế trong cả hai trường phái đều giống nhau.
– Bát Chánh Ðạo trong cả hai trường phái thì cũng tương tự .
– Lý Duyên Khởi trong cả hai trường phái đều giống nhau.
– Cả hai đều không chấp nhận tư tưởng về thượng đế tạo ra thế gian này.
– Cả hai đều chấp nhận Tam tướng (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và Tam vô lậu học (Giới, Ðịnh, Huệ) , không có bất kỳ sự khác biệt nào.

Ðây là những giáo lý quan trọng nhất của Ðức Phật và cả hai trường phái đều công nhận.”

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-vbud/vbpha326.htmHoàng Lan Con cảm ơn bác Phạm Doãn và anh Hạnh nhiều.

Ping English Gọi thì rất dễ dàng nhưng chứng minh được mới là khó, cần phải nghiên cứu chuyên sâu giáo lý và phương pháp của pháp môn đó. Đức Phật dạy chớ vội tin cũng dạy chớ vội bài bác.

Vô Vô Không Chưa hành đạo mới học đạo nên thấy mình sai, người sai…cái gì cũng sai.
Thật ra 40 đề mục Kasina và 16 tuệ minh sát khi đối chiếu với kinh và luật thì không khéo lại tranh cãi giống mấy bác phương tây học đạo cái gì cũng nghi, phải khoa học mới chịu, mà khoa học cũng có giới hạn của nó.

Hiếu Nguyễn “Thật ra 40 đề mục Kasina và 16 tuệ minh sát khi đối chiếu với kinh và luật thì không khéo lại tranh cãi giống mấy bác phương tây học đạo cái gì cũng nghi, phải khoa học mới chịu, mà khoa học cũng có giới hạn của nó.” – khoa học là gì? ý bạn là phải chứng minh được hả? Nếu vậy thì họ đúng đấy chứ.

Tôi thì tôi thích mấy bác phương Tây, nói có sách, mách có chứng, họ đã tin rồi (sau khi đã được chứng minh), thì tin bằng mấy lần mấy bác phương Đông mê tín nhỉ?

Vô Vô Không Đó Đó… Học đạo phải có lòng tin, đôi khi người ta bảo mình mê tín cũng chẳng sao! Quan trọng là mình đã chịu bước trên con đường nào chưa hay chưa bước mà đã nói đường này, đường kia sẽ tới đích, không khéo mang tội hủy hoại chánh pháp là nguy.

Pāli Việt Đức Phật từ giã 2 vị Āḷāra và Udaka sau khi “đã học hết chữ” của 2 vị thầy đó. Giờ với Abhidhamma và Visuddhimagga cũng vậy, cứ học hết, hiểu hết, chứng hết rồi bình phẩm cũng không muộn. Nhớ lời Hòa Thượng Bổn Sư dạy trước đây: Lo học Luật, học Pali, học Abhidhamma (Ngài không đề cập đến Kinh) Giờ mới hiểu.

Ba Nguyen Chữ tín có hai: mê tín và chánh tín. Khi chưa biết hết đã tin là mê tín. Khi nghe lời ai đó quá dễ dãi là mê tín. Phật còn dạy đừng dễ tin lời Phật, nói gì đến lời Bổn Sư với lời Buddhaghosa, Abhidhamma.

Pāli Việt Ba Nguyen góp ý là “đừng tin lời Bổn Sư” là hơi “căng” đó nghe.

Pāli Việt Đụng tới “Abhidhamma và Visuddhimagga” là “mệt mình” với truyền thống Phật Giáo Theravada bây giờ đó. Đóng lại cho khỏi rắc rối. Hơn nữa, không mở doc riêng nên đã làm loãng cái đề tài MN 026 rồi đó.

Hạnh Trương Yes, đã thu hồi lời góp ý thẳng thắn, vì “tương lai” , hehe

Ping English Góp ý là được, góp ý thẳng thắn nghĩ sao nói nấy thì được hơn, góp ý xây dựng thì được hơn nữa. Không góp ý cũng được.

Thien Nguyen Ba Dạ, định luật ”Y tánh duyên khởi pháp” là như thế nào ạ?

Phạm Doãn Trung Bộ giảng dạy (HT T. Chơn Thiện):

– Y tánh Duyên khởi: Idappaccayatà paticcasamuppàdo

– Causaluprising by way of condition. Sự sinh khởi do các duyên, do nhân duyên (xem giáo lý Duyên khởi).

Xin quý Sư giảng rõ thêm ý nghĩa “Y Tánh Duyên Khởi” khi phân tích theo PaLi!

Hoàng Lan – Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.

Hoàng Lan Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-vbud/vbkin191.htm

Kinh Kalama – Anh-Viet

Hoàng Lan Bài kinh này thì ai cũng quen, con nghĩ nghi ngờ là cần thiết. Người tu vừa phải gặp khó vừa phải gặp khổ, khó vì đạo lộ chưa thật sự rõ ràng (?), khổ vì phải cứ hoài nghi

Phạm Doãn Mời mọi người quay về với nội dung bài kinh MN026. Khi thảo luận về từng bài kinh Trung Bộ, có thể có các vấn đề nảy sinh, lúc đó ta nên tách các đề tài thành Document riêng. PLCĐ cần một hệ thống lưu trữ có tính hệ thống, để mọi người có thể dễ dàng tham khảo về sau.

Ba Nguyen: @ Sư Pāli Việt: Tôi nói có sách mách có chứng, làm theo đúng lời Phật thôi Sư (Chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình).
Phạm Doãn: Tôi sẽ theo dõi, khi nảy ra ý hay tôi sẽ đóng góp cho đề tài Visuddhimagga, Abhidhamma. Còn bây giờ tôi chỉ tạm góp một ý với Sư Pāli Việt. Mời các bạn tiếp tục thảo luận bài kinh.

Pāli Việt

Ba Nguyen làm Sư cũng khó xử thiệt:
– Sư ghi là: “Nhớ lời Hòa Thượng Bổn Sư dạy trước đây: Lo học Luật, học Pali, học Abhidhamma (Ngài không đề cập đến Kinh) Giờ mới hiểu.”
– Ba Nguyen góp ý ở ngay bên dưới là: “Phật còn dạy đừng dễ tin lời Phật, nói gì đến lời Bổn Sư với lời Buddhaghosa, Abhidhamma.”
Lời góp ý như vậy của Ba Nguyen khiến Sư hiểu là cái Ông Ba Nguyen này khuyên mình đừng có nghe lời dạy của Thầy Hòa Thượng. Nếu vậy thì loạn rồi.

NHÂN ĐÂY, CŨNG CẦN COPY LẠI PHẦN DUYÊN KHỞI CỦA BÀI KINH ĐỨC PHẬT DẠY CÁC NGƯỜI KALAMA: (Không phải lúc nào cũng có thể áp dụng lời dạy của bài Kinh này. Như ví dụ trên của Sư là Thầy Hòa Thượng khuyên bảo mà nghĩ trong đầu là “chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình” thì mình sẽ tu cái gì, học cái gì bây giờ nhĩ ???).

Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn:
– Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Ðối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân vân: “Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?”

3. – Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ!
Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.

Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.

Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!

Ba Nguyen: Sư ơi, Sư làm dịch thuật mà sao chữ “đừng dễ tin” Sư lại hiểu ra như vậy hả Sư? Sư hỷ xả giùm chỗ này, tại vì không thích hợp khi phải comment qua lại vì chỗ hiểu lầm này nơi Sư. Cảm ơn Sư nhiều.

Pāli Việt Có lẽ cũng đến lúc để tổng vệ sinh Bs. Phạm Doãn ạ. Sư vừa mới đề nghị Hạnh Trương tiến hành công tác delete một số comments không liên quan đến topic để người đọc dễ theo dõi và tiện việc tiếp thu. Với các topic của Trung Bộ Kinh Sư cũng nhờ Bs. quan tâm giúp cho việc này lúc thuận tiện.

Hoàng Lan Con nghĩ chúng ta tập trung nhiều hơn vào các bài kinh, đi từ giờ đến khi hết Kinh trung bộ cũng còn dài và còn nhiều điều thú vị, khi đó cái nhìn của chúng ta về các vấn đề hiện nay nó cũng đã khác đi.

Phan Minh Nguyet về thắc mắc của tôi sao lại có đoạn Đức Phật suy nghĩ “Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta”, vừa rồi tôi có hỏi Ngài Tam Tạng thứ 10 của Miến Điện (thông qua phiên dịch)…See More

Pāli Việt:   Phan Minh Nguyet ơi, 2 từ KHỔ NÃO và BỰC MÌNH là ở đâu ra vậy?
Version 2005
Nếu ta thuyết giảng Pháp và những người khác không hiểu được ta, điều ấy sẽ đem lại cho ta sự mệt mỏi và sự phiền toái.
Version 2010
Hơn nữa, nếu ta thuyết giảng Giáo Pháp và những người khác không thể hiểu được ta, điều ấy sẽ đem lại sự mệt mỏi cho ta, điều ấy sẽ đem lại sự phiền toái cho ta.

Phan Minh Nguyet dạ con đọc từ bản trên trang của chú Binh Anson http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung26.htm
Như thế chắc là bản in đã có hiệu đính so với bản softcopy rồi ạ

26. Kinh Thanh cau

www.budsas.org

Pāli Việt Hai văn bản do 2 người dịch khác nhau. 2 đoạn văn Sư post để so sánh là ở Tạng Luật. Còn bản Kinh Trung Bộ mà Phan Minh Nguyet cho link là Đại Tạng Kinh Việt Nam, thuộc về Viện Nghiên Cứu Phật Học.

 


One Comment on “KINH MN 026 – KINH THÁNH CẦU (PĀSARĀSISUTTAṂ)”

  1. MinhTuyen nói:

    xin gui den bai nay: ghi tu sach “Bai trinh Thay” Thich Nu Triet Nhu, Hoi Thien Tanh Khong, Hoa Ky:
    Hôm nay con muốn trình bày một nghi vấn trong kinh điển Phật Giáo. Trong giới hạn của bài này, và khả năng giới hạn của con, con chỉ trình bày khái quát mà thôi, chứ không phải là một bài khảo cứu về Phật học.
    Chúng ta cần nhớ lại tiến trình tu chứng của Đức Phật. Ông Ālāra Kālama là vị thầy thứ nhất đã hướng dẫn pháp Vô sở hữu xứ định. Sau một thời gian, Đức Phật, khi ấy còn là Bồ tát, đạt được tầng Định này nhưng Ngài từ bỏ mà đi vì ngài nhận thấy pháp này không đưa đến Thượng trí và Niết bàn.
    “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ…” Kinh Trung bộ I, kinh Thánh cầu.
    Đây là tầng Định thứ 3 trong 4 tầng Thiền Vô sắc, hay Thiền Yoga.
    Sau đó, Bồ tát gặp vị thầy thứ hai là ngài Uddaka Rāmaputta, hướng dẫn pháp Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, là tầng định thứ tư, tầng định cao nhất của Thiền Vô sắc. Sau khi đạt được tầng định này, nhưng cũng không đạt được mục tiêu rốt ráo mà ngài mong muốn, Bồ tát cũng từ bỏ. Giống như trường hợp trước. Sau thời gian gần sáu năm khổ hạnh, thân thể kiệt quệ, Bồ tát từ bỏ khổ hạnh. Cuối cùng, Bồ Tát dụng công pháp Thở mà ngài kinh nghiệm từ lúc thơ ấu, ngài dụng công trong bốn tuần lễ, trải qua bốn tầng Thiền và đạt được sự bừng sáng tâm linh. Đêm cuối của tuần lễ thứ tư, ngài chứng Tam Minh, sạch lậu hoặc. Tuần lễ thứ năm, Ngài chứng ngộ hoàn toàn, nhận ra được pháp tánh và pháp giới tánh, đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Giác.
    Đến đây, chúng ta nhận ra rõ ràng trong kinh Thánh Cầu và kinh Đại Saccaka, Đức Phật kể lại về tiến trình tu và thành đạo của Ngài: lý do nào khiến Ngài từ bỏ các tầng Thiền Vô sắc hay Thiền Yoga. Thiền Vô sắc hay Thiền Yoga là một loại Thiền có mặt ở Ấn Độ trước thời Đức Phật khoảng 500 năm do Ngài Patañjali thiết lập gồm bốn tầng thứ lớp như sau:
    1- Không vô biên xứ hay Hư không vô biên xứ
    2- Thức vô biên xứ
    3- Vô sở hữu xứ
    4- Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
    Cả bốn tầng Thiền này dựa trên sự dụng công khai triển năng lực của ý thức, ý căn, và trí năng.
    Đức Phật thành đạo qua bốn tầng Thiền đặt nền tảng trên cái Biết của Tánh Giác, từ cái Biết có lời, đến cái Biết không lời hay Thầm nhận biết, Tỉnh thức biết và Nhận thức biết. Đây là bốn tầng Thiền đưa Bồ Tát Gotama đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác:
    1- Định có tầm có tứ hay định có tầm không tứ
    2- Định không tầm không tứ
    3- Chánh niệm tỉnh giác
    4- Định bất động hay Chánh định, hay Định ba hành không động, hay Kim cang định, hay Chân như định.

    …………………
    Tiếp theo, con xin nhắc đến một điểm quan trọng liên quan đến hai tầng Định này.
    Chúng ta đã thấy rõ tại sao Đức Phật từ bỏ bốn tầng Thiền Yoga và chúng ta đã biết Đức Phật thành đạo qua bốn tầng Định với pháp tu: ĐỊNH NIỆM HÍT VÀO THỞ RA, mà về sau Đức Phật đã giảng dạy lại cho đệ tử. Thế nhưng, cũng trong kinh Nikāya, Tương Ưng bộ, lại có nhiều chỗ khác ghi là Đức Phật trải qua chín tầng Định, được xếp thứ tự như sau:
    1- Sơ thiền hay Hữu tầm hữu tứ định
    2- Nhị thiền hay Vô tầm vô tứ định.
    3- Tam thiền hay Chánh niệm tỉnh giác
    4- Tứ thiền hay Chánh định
    5- Không vô biên xứ định
    6- Thức vô biên xứ định
    7- Vô sở hữu xứ định
    8- Phi tưởng phi phi tưởng xứ định
    9- Diệt thọ tưởng định.
    Trong kinh Đại Bát Niết Bàn cũng có một đoạn nói về chín tầng Định này, khi Đức Phật vào Định để nhập Niết bàn:
    “Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
    Khi ấy, tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:
    – Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.
    – Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.
    Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
    Đây là một nghi vấn quan trọng trong kinh điển Phật học mà Thầy thường lưu ý chúng con, trải qua hơn hai ngàn năm trăm năm vẫn không được làm sáng tỏ.
    Trở lại bốn kỳ kết tập kinh điển:
    1- Kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ I: ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt, năm 483 trước công nguyên. Do ngài Đại Ca Diếp chủ trì, ngài A Nan đọc tụng về Kinh, ngài Upāli đọc tụng về Luật. Kỳ này chỉ là 500 vị A La Hán đệ tử của Đức Phật đọc tụng lại mà thôi. Không ghi chép thành văn bản.
    2- Kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ II: 100 năm sau khi Đức Phật nhập diệt (383 BC) 700 vị Trưởng lão đọc tụng lại Kinh và Luật, không ghi chép thành văn bản.
    3- Kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ III: khoảng 236 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, dưới triều vua A Dục. Kỳ này ngoài Kinh, Luật có thêm bảy bộ Luận thư của các bộ phái. Trưởng lão bộ chủ trì. Ngài Mục Kiền Liên Tu Đế chủ tọa. Kỳ kết tập III ghi lại thành văn bản, gồm ba tạng: Kinh, Luật và Luận. Từ đây, chúng ta có Tam Tạng kinh điển bằng tiếng Pāli. Gọi là Kinh Nikāya.
    4- Kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ IV: khoảng 500 năm sau khi Phật nhập diệt (khoảng đầu thế kỷ 1) triều vua Ca Nị Sắc, Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trì, ngài Thế Hữu làm thượng thủ. Kết tập Tam Tạng ghi lại thành văn bản bằng tiếng Sanskrit, gọi là kinh Āgama (A Hàm), phần chính vẫn noi theo Kinh Tạng và Luật Tạng của Trưởng Lão Bộ.
    Trở lại nghi vấn trên, chúng ta nhận ra một điều: Kinh Nikāya xuất phát từ kỳ kết tập kinh điển lần thứ III, do ngài Mục Kiền Liên Tu Đế chủ tọa.
    Trong sử có ghi sự kiện vua A Dục đã thỉnh ngài UPAGUPTA xuống núi. Ngài Upagupta là vị Tổ thứ tư theo dòng truyền Tổ vị: Ngài Đại Ca Diếp, ngài A Nan, ngài Thương Na Hòa Tu, ngài U Ba Cúc đa (Upagupta)…
    Ngài Upagupta đã hướng dẫn vua A Dục đi chiêm bái bốn nơi Phật tích: nơi Đức Phật đản sinh, nơi Đức Phật thành đạo, nơi Đức Phật chuyển pháp luân, và nơi Đức Phập nhập diệt. Tại mỗi nơi, vua A Dục có xây đền tháp và một trụ đá để ghi dấu cho đời sau. Mãi tới ngày nay, tại bốn nơi vẫn còn lại dấu vết đền tháp và ba cây trụ đá tại ba nơi.
    Nhưng tại sao khi kết tập kinh điển, dưới triều vua A Dục, không phải là ngài Upagupta, mà lại là ngài Mục Kiền Liên Tu Đế chủ trì ?
    Trong văn bản kinh Nikāya này có những đoạn ghi là Đức Phật đã từ bỏ hai tầng Thiền Yoga, có những đoạn nói rõ Đức Phật thành đạo qua bốn tầng Định mà thôi .
    Và lại có những đoạn nói là có chín tầng Định, mà bốn tầng Định Yoga được xếp là cao hơn bốn tầng Định của Đức Phật, cuối cùng lại còn thêm tầng Định thứ 9: Diệt thọ tưởng hay Diệt tận định, trong trạng thái đó, hành giả trở thành vô tri giác.
    Vậy nghi vấn là: – Ai đã đem năm tầng Định của Yoga ghi thêm vào bốn tầng Định của Đức Phật ?
    Kính thưa Thầy,
    Trở lại chủ điểm của bài: tầng Định sâu của ngài Ālāra Kālama và tầng Định sâu của Đức Phật, con nhận thấy đây cũng là một luận cứ để làm sáng tỏ thêm phần nào vấn đề trên. Tuy nhiên, trong khả năng rất giới hạn của con, xin chấm dứt ở đây. Những nghi vấn này xin chờ các bậc hành giả Thiền với kinh nghiệm bốn tầng Thiền Định của Đức Phật sẽ minh chứng sau này.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s