KINH MN 029 – ĐẠI KINH VÍ DỤ LÕI CÂY (MAHĀSĀROPAMASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 029 – (Mahāsāropama-sutta) 

 1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung29.htm 

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.029.than.html

3. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/029.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 029

1. Trích Giảng Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây – H.T. Thích Minh Châu

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-029.htm

2. Trích giảng Đại Kinh và Tiểu Kinh Ví Dụ Lõi Cây – HT. Thích Chơn Thiện

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-029-30.htm 

3. Toát yếu Đại Kinh và Tiểu Kinh Ví Dụ Lõi Cây – Thích Nữ Trí Hải

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-03.htm

 

III. ĐỀ CƯƠNG 

  • Tìm hiểu ý nghĩa của một vài từ ngữ được sử dụng trong bài kinh:

–          Thành tựu tri kiến?

–          Thời giải thoát: Samayavimokkha: (Release as to things of time)

–          Phi thời giải thoát: (Asamaya as to things that are timeless)

–          Tâm giải thoát bất động: Akuppā cetovimutti: (Unshakable freedom of mind)

  • Tìm hiểu về nội dung bài Đại Kinh Ví Dụ Lõi cây.

 

IV. THẢO LUẬN

Pāli Việt Dạ thưa “Thầy” Phạm Doãn, “em” đọc chưa hết bài Kinh MN 028 nữa ạ. Hic hic.

Phạm Doãn Dạ Sư bị mệt thì cứ bỏ qua. Ai còn khỏe thì hãy tích cực …chạy! Chương trình Trung Bộ Kinh còn dài quá, nhìn thấy oải!

Phan Minh Nguyet: chú Phạm Doãn muốn nhanh thì post luôn bài “Tiểu kinh dụ lõi cây”. Hai bài này có 1 số đoạn giống nhau thì phải, thảo luận luôn thể. Mà cháu thấy cứ thong thả đi, cần gì chạy ạ:-)

Sói Cô Đơn con thì thấy đọc một câu thì an lạc một câu, đọc một bài thì an lạc một bài, dù rằng mình chỉ hiểu một cách phiến diện theo cái bản ngã tri thức bé nhỏ này. Cám ơn chú Phạm Doãn nhiều. Chúc chương trình của chú thành tựu mỹ mãn như ý

Sói Cô Đơn Đọc ” Tâm giải thoát bất động” con liên tưởng đến 4 câu kệ ngôn:

Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động không sầu
Vô nhiễm và an ổn
Là điềm lành tối thượng

Càng cảm thấy sự thâm sâu áo diệu của giải thoát bất động vậy

Phạm Doãn Đức Phật ví mục đích “giải thoát” của giáo pháp như cái “lõi cây”.
Mục đích cuối cùng là phải tìm được cái “lõi cây”, tức phải thực hiện được”giải thoát thực sự”. Như bài kinh lập đi lập lại: Có giới luật, có thiền định, có một số chánh kiến cũng chưa phải là đã tìm được cái lõi cây! Chỉ có đến lúc thực sự đạt được “Tâm giải thoát bất động”, mới được xem như tìm thấy lõi cây!

“Như vậy, này các Tỷ-kheo, phạm hạnh này
không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng,
không phải vì lợi ích thành tựu giới đức,
không phải vì lợi ích thành tựu thiền định,
không phải vì lợi ích tri kiến.
Và này các Tỷ-kheo, TÂM GIẢI THOÁT BẤT ĐỘNG chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.

Chuyện tìm cho được cái lõi cây (trong thời điểm hiện tại này), phải nói thực sự là khó!
Ngay cả việc tìm được một vài người, có cùng sở thích tìm lõi cây, cũng là rất khó!
Hình như, cái vụ “lõi cây” trong hai bài Đại Kinh và Tiểu Kinh này làm nhiều người thấy…sợ!!!

Sói Cô Đơn  Cái gì là cốt lõi, cái ấy trường tồn. Con cảm thấy mình thật là may mắn được sinh ra trong thời đại Phật pháp còn hiện hữu, và đang phát triển tốt như bây giờ. Lại được gặp nhiều Thiện bạn hữu trong cái thời đại internet xô bồ như bây giờ, thật quý giá lắm thay. Thiết nghĩ, cây đại thụ của Đức Phật vun trồng vẫn còn đó, tự mỗi người phải đi sâu vào bên trong mình để tìm thấy cái nào là lõi, bởi bây giờ vẫn còn kịp

Thien Nguyen Ba: Dạ, TÂM GIẢI THOÁT BẤT ĐỘNG có đồng nghĩa với một vị đã chứng quả A La Hán mới có tâm giải thoát bất động; hay là TÂM GIẢI THOÁT BẤT ĐỘNG có ý nghĩa nào khác không ạ?

Kan Trần dạ thưa bạn Thien Nguyen Ba,

akuppa cetovimutti được dịch là “tâm giải thoát bất động”.
theo tôi thì akuppa (unshakeable, immovable, unchangeable) nên được dịch là “không thể lay chuyển / không thể thối chuyển”. Bởi nó tránh hiểu nhầm tâm giải thoát thành 1 cái gì đó “đứng im, không nhúc nhích”.

Hơn nữa, có lẽ cụm từ này hàm ý quan điểm của các nhà Thượng Tọa Bộ cho rằng các quả vị không thể thối lui, trong khi 1 số bộ phái khác cho rằng quả vị có thể mất.

Pāli Việt Vậy thì phải hiểu như vầy: sự giải thoát (vimutti) của tâm (ceto) là bất động (akuppa).
Như vậy, ghi rằng “bất động tâm giải thoát” là đúng theo tiếng Hán => tiếng Việt sẽ là “giải thoát (của) tâm (là) bất động”.

Pāli Việt

AKUPPA: (đồng ý với nghĩa mà Kan Trần đã chọn, xem <rd>)
<bmv> a. vững chải, không xao động.
<bme> (adj.) steadfast; unshakable.
<rd> (adj.) [a + kuppa, grd. of “kup,” cp. BSk. akopya M Vastu III.200] not to be shaken, immovable; sure, steadfast, safe Vin I.11 (akuppā me ceto-vimutti) = S II.239; Vin II.69; IV.214; D III.273; M I.205, 298; S II.171; A III.119, 198; Miln 361.

Sư đồng ý với sự chọn lựa của Kan Trần vì cái chữ <grd.> chứ không phải vì mấy chữ tiếng Anh <unshakeable, immovable, unchangeable>, chúng chưa đủ sức thuyết phục. Còn <grd.> là gì hở? Ai da? Cho khỏi trả lời đi.

Phạm Doãn Bài Kinh này được Thế Tôn thuyết giảng khi xảy ra sự kiện Devadatta phá hòa hợp Tăng, đem 500 vị Tỷ-kheo đi Gayàsisa. Đạo hữu nào có nhiều thông tin về sự kiện lịch sử này xin chia sẻ tại đây. Cám ơn!

Kan Trần dạ thưa chú Phạm Doãn,

Thông tin còn lưu lại về nhân vật Devadatta cực kỳ đáng chú ý!! Trong khi kinh điển Theravada / Sarvatisvada và các bộ phái cùng hệ mô tả Devadatta như là 1 “Juda”, thì Đại Chúng Bộ – Mahasamghika lại mô tả vị này như 1 A-la-hán thông thường, không có gì xấu!!

Chi tiết này được nêu ra trong các nghiên cứu về Vinaya của Đại Chúng Bộ, 1 Vinaya được xem là cổ nhất trong các Vinaya chúng ta còn lại ngày nay. Để con lục lại rồi post lên cho mọi người tham khảo ạ.

Sư Pali Pāli Việt nghiên cứu sâu về Vinaya, con xin hỏi là Sư có biết về điểm này không ạ?

Pāli Việt Tạng Luật Vinayapāli có đề cập câu chuyện Devadatta, đắc tứ thiền ngũ thông, còn thiếu Lậu Tận Thông nên chưa thể là vị Thánh thứ tư A la hán được, sau sự kiện chống Phật thì bị mất hết thần thông (được hiểu là đứt thiền luôn). Trích dẫn? Để kiểm tra lại cái đã. Tiểu Phẩm 2, Chương Chia Rẽ Hội Chúng, TTPV 07.

Kan Trần dạ thưa Sư Pāli Việt,

nếu thông tin đúng như Sư nêu thì quan điểm “quả vị đạt được không bị mất” nó đâu còn đứng vững nữa phải không ạ!

Pāli Việt Devadatta có đạt quả vị nào đâu mà mất.

Kan Trần ủa vậy đắc “tứ thiền ngũ thông” mà không đạt quả vị nào sao, thưa Sư?

Pāli Việt Không có quả vị nào. Ngũ thông chỉ là các thần thông phàm: thiên nhĩ thông, thiên nhãn (sanh tử thông), túc mạng thông, tha tâm thông, biến hóa thần thông.

Kan Trần dạ,

khi nào tiện kính nhờ Sư cite mấy đoạn trong Vinayapali để mọi người tham khảo phần nói về Devadatta ạ. con cảm ơn Sư!

Pāli Việt Tạng Luật – Tiểu Phẩm 2, Chương Chia Rẽ Hội Chúng, TTPV 07 tương đối đầy đủ ở giai đoạn đầu. Còn phần Devadatta sám hối đức Phật thì phài xem ở Tạng Kinh hoặc Chú Giải.

Hoa Nguyen “tứ thiền ngũ thông” là của Bà La môn. Phật thêm thần thông thứ 6 (Lậu tận thông).

Pāli Việt Có vị nào rành về Ấn Độ thời cổ không? Pháp môn tu tập chính của các vị Bà La Môn là gì? Nếu nói là “tứ thiền ngũ thông” đã có trước Phật thì đồng ý ngay, nhưng <“tứ thiền ngũ thông” là của Bà La môn> thì còn phân vân, chưa thể đồng ý liền được.

Hoa Nguyen Bà la môn có trước thời Phật. Tứ thiền và chỗ chứng đạt là ngũ thông nhiều sách Phật giáo viết là của Bà La môn. Phật khi thuyết pháp cho người BLM cũng thường lặp lại các điều đó, như là vấn đề quen thuộc với họ (BLM). Nhiều đệ tử Phật trước theo Bà La môn có được thần thông, nhưng không được Lậu tận thông của Phật.

Phạm Doãn Nên hiểu Bà La Môn như là một giai cấp, một hệ thống triết học, một nền văn minh, có lẽ đúng hơn khi xem Bà La Môn là một tôn giáo thuần nhất.
Triết học Bà La Môn (Vệ Đà), có một tính chất rất đặc biệt là nó không bảo thủ, không tự giới hạn mà luôn luôn phát triển. Khi triết học Bà La Môn (dựa trên các bộ Vệ Đà) phát triển đến đâu, nó sẽ nảy sinh và hình thành rất nhiều các tôn giáo hay giáo phái tương ứng. Như vậy “Đạo Bà La Môn” là một tên gọi không đúng, rất mơ hồ. Cũng giống như chữ “Ấn Độ giáo” hiện nay vậy, vì Ấn Độ Giáo không phải là một tôn giáo nhất định mà gồm nhiều tôn giáo khác nhau tồn tại trên đất Ấn
Trước khi Đức Phật xuất hiện thì đã có nhiều khuynh hướng tu tập (bắt nguồn từ Vệ Đà) khác nhau rồi. Những khunh hướng tu tập ấy cũng không giới hạn trong giai cấp Bà La Môn mà còn có ở các du sĩ lang thang (sa môn), các nhà tu khổ hạnh.
Các ngài Sariputta, MahaKasyapa, MahaMoggalana… đều là những người Bà La Môn (Brahmin). Trước khi gặp Đức Phật, các ngài đã có đủ loại thiền định rồi, bằng chứng là việc các ngài đắc các loại thần thông như kinh sách mô tả lại!
Người đọc Kinh Phật sẽ nhận ra ngay rằng, một vị tu sĩ Bà La Môn giỏi, khi chuyển hướng sang Đạo Phật, thì sẽ đắc quả Thánh rất nhanh.
– Tứ Thiền (jhana) , Ngũ Thông đã có từ lâu trong nền văn minh Ấn Độ.
– Đạo Phật có Lậu Tận Minh (trong Tam Minh) là cao siêu và khác biệt với ngũ thông.
Đức Phật không phủ nhận Bà La Môn mà chỉ bài bác quan điểm “huyết thống” trong giai cấp Bà La Môn. Theo Đức Phật không phải cứ sinh ra trong gia đình Bà La Môn thì được gọi là Bà La Môn. Chữ Bà La Môn nên dùng trong ý nghĩ đúng đắn hơn.
– Hãy nhìn Đạo Phật trong bối cảnh lịch sử.
– Đừng bao giờ sử dụng từ “Bà La Môn” với nghĩa xấu.
Ngay Đức Phật cũng đã định nghĩa “Bà La Môn” rất đẹp, như sau:
“Ai lìa bất thiện nghiệp
Đi trên đường thanh tịnh
Tinh tiến, thoát trói buộc
Ta gọi Bà-la-môn…”
Phật thuyết trong Tiểu bộ kinh (Tự thuyết I. 5, udāna)

Hoa Nguyen :  “Phạm hạnh” có nghĩa đức hạnh cao đẹp (như thấy ở người Bà la môn. “Phạm” (người BLM) phiên âm từ Sanskrit là Brahmana (English là Brahmin).

Pāli Việt Về phương diện từ ngữ:
– brāhmaṇa <(m.) a man of the Brahman caste. m. người thuộc dòng Bà la môn.> Từ này được phiên âm là Bà La Môn, tên gọi của 1 trong 4 giai cấp (varṇa, vaṇṇa, từ này có nghĩa là màu sắc của làn da) ở India thời xưa. Việc phân ra giai cấp bây giờ đã được hủy bỏ ở India – trên pháp lý.
– brāhmaṇa phát xuất từ chữ Brahma (Brahman) <m. Trời Phạm Thiên, tạo hóa. (m.) the Brahma; the Creator.> Người thuộc dòng dõi brāhmaṇa (Bà La Môn) tự hào họ là hậu duệ của đấng Brahma (Việc đó cũng được thể hiện rõ chữ viết, chú ý spelling: Brahma => brāhmaṇa).

Phạm Doãn Trên thông tin Internet, có đọc thấy các tài liệu của những tu sĩ và học giả Ấn Độ hiện đang nổ lực giải thích về một sự hiểu lầm:
– BRAHMA (Phạm Thiên) chỉ là một vị Trời, không phải Đấng Sáng Tạo (Creator) như một số người hiểu lầm.
– BRAHMAN (có thêm chữ N) mới là chữ mà triết học Vệ Đà dùng để chỉ Đấng Sáng Tạo tối cao.
– Một số tu sĩ và học giả PG phê phán triết học Bà La Môn là nhỏ bé và tầm thường vì chỉ biết đặt cứu cánh giải thoát ở cõi trời “Brahma” . Thực ra không phải vậy và điều này chỉ đúng với tôn giáo ở Ấn Độ thờ thần Brahma (có tôn giáo thờ Vishnu, Shiva, v.v…).
– Triết học Vệ Đà thực sự cao sâu, rộng lớn hơn, đặt cứu cánh giải thoát là BRAHMAN tức Đấng Tạo Hóa, Đấng Sáng Tạo của toàn vũ trụ (thường được dịch là Đại Ngã).

Pāli Việt <Trưởng Bộ, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn> có đề cập về 4 giai cấp.

Pāli Việt <Trường Bộ, 24, Kinh Ba- lê> có giải thích nguồn gốc của đấng Tạo Hóa:
16. “Lúc bấy giờ, này các Hiền giả, vị hữu tình sanh qua đầu tiên nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta hóa sanh. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này! Chính do sở nguyện của ta mà những loại hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cùng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì chúng ta thấy vị này sanh trước ở đây rồi, còn chúng ta thì sanh sau”.

Sói Cô Đơn Trước khi gặp kinh điển của Phật Giáo Nguyên Thủy, con cũng đã từng tìm tòi, học hỏi một số truyền thống liên quan đến danh từ Phật Giáo. Nhưng sau khi nghe, đọc kinh điển Pali , nhất là sự phân tích 62 tà kiến trong kinh Phạm võng, con biết rằng chính là đây, tức là Phật đạo này cần phải học hiểu, cần phải đi trên con đường này chứ không là con đường nào khác nữa.

Đào Trọng Trác   @Sói Cô Đơn lại sự khởi đầu cô đơn …

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s