KINH MN 035 – TIỂU KINH SACCAKA (CŪLASACCAKASUTTAṂ)

I. BẢN KINH MN 035 – TIỂU KINH SACCAKA (CŪLASACCAKASUTTAṂ)

1. Bản tiếng Việt dịch bởi Ngài hoà thượng Minh Châu :

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung35.htm

2. Bản tiếng Anh dịch bởi Bhante Thanissaro Bhikkhu http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.035.than.html

3. Bản song ngữ Pāḷi – Việt soạn bởi Bhante Indacanda Bhikkhu

http://paliviet.info/VHoc/13/035.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 035 – TIỂU KINH SACCAKA (CŪLASACCAKASUTTAṂ)

1. Trích giảng kinh MN 035 của thượng tọa Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-035-36.htm

2. Trung bộ toát yếu cho bài kinh MN 035 – Tiểu kinh Saccaka dịch bởi Ni sư Trí Hải.

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-04.htm

 

IV. THẢO LUẬN

Ven Adhiṭṭhāna

Đọc bài kinh này làm nhớ tới bài kinh Yadaniccasuttaṃ trong Tương Ưng Kinh :

Yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ; yaṃ dukkhaṃ tadanattā; yadanattā taṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.

Cái gì là vô thường cái đó là khổ; cái gì khổ cái đó là vô ngã; cái gì là vô ngã, cái đó nên được nhìn bằng bản chất thật với trí tuệ chân chánh như thế này “cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là bản ngã của ta”

Ven Adhiṭṭhāna Từ Minh Chua Nhu Phap 2 vị có ý gì không ?

Từ Minh

Đối với những người đã hiểu về ý nghĩa của tam tướng thì bài kinh không có gì khó hiểu; nhưng chúng ta biết rằng cách hơn 25 thế kỉ về trước con người không hề có khái niệm gì về vô ngã kể cả những danh sư tiếng tăm thời bây giờ, trong đó có Saccaka. Vì sao? Vì không có sự xuất hiện của Đức Phật Toàn Giác. Các vị đạo sư thời đó có thể hiểu và giảng dạy cho đồ chúng của mình về lý vô thường, khổ não, nhưng không thể giảng về lý vô ngã vì đó là vấn đề mà các vị đó bị kẹt, chấp thủ (tức là chấp có ta). Chỉ có sự xuất hiện của Đức Chánh Đẳng Giác thì lý vô ngã mới được nói đến, giảng giải trên thế gian. Do đó được sanh trong thời đức Phật, và trong thời gian Chánh Pháp còn tồn tại là một diễm phúc lớn, vì chỉ trong thời gian đó chúng ta mới có thể nghe hiểu những giáo lý tuyệt vời từ bậc Chánh Đẳng Giác, qua thời kỳ đó rồi thì không còn ai đủ khả năng giảng giải những pháp tinh diệu nữa.

Một vị Phật Chánh Đẳng Giác khác có thể xuất hiện trong tương lai, nhưng thời gian là vô tận. Chỉ e rằng khi Ngài xuất hiện thì ta đang bị kẹt đâu đó một trong tám phi thời phạm hạnh trú (Akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya).

Ven Adhiṭṭhāna sādhu ! sāshu ! like mạnh !

Chua Nhu Phap

Mới nghỉ dậy Sư Ven Adhiṭṭhāna ơi! để breathing in …. breathing out trước đã !!! Thanks Sư Từ Minh _()_

Hoa Nguyen

“qua thời kỳ đó rồi thì không còn ai đủ khả năng giảng giải những pháp tinh diệu nữa.”
Có lẽ đúng như thế. Sau thời Phật là thời các Bộ phái, người ta bàn về cách nghĩ của mình, cách hiểu của mình về lời Phật dạy trước đó. Ai cũng cho cách mình nghĩ là đúng nhất, và như thế phần nào đã chấp ngã. Nhưng Vô ngã không phải là hiểu nó như thế nào (bằng phân tích, luận giải) , mà tự thân thể nghiệm trạng thái vô ngã (qua thiền quán), và sống trong trạng thái vô ngã đó. Thật khó quá.

Đào Trọng Trác Vì thế Ngài vẫn nhắc nhở : “Vì vậy các ông cần phải tu tập”…..

Pāli Việt

CÓ VỊ NÀO CHÚ Ý ĐẾN ĐIỂM NÀY KHÔNG:
Vì sao ở bài Kinh này chỉ đề cập đến: ANICCĀ “VÔ THƯỜNG” và ANATTĀ “VÔ NGÔ, còn DUKKHA “KHỔ” thì không thấy nói đến?

“Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã”.

Pāli Việt

Ở phần kết, không hiểu được ý nghĩa của 2 từ “công đức và công đức địa.” Pāli là “puññaṃ” và “puññamahī.”

Ven Adhiṭṭhāna Trong chú giải Aṭṭhakathā không có làm rõ được 2 từ này. Chỉ có trong Ṭīkā mới giải quyết được ạ !

Puññanti puññaphalasaṅkhāto ānubhāvo. Puññaphalampi hi uttarapadalopena ‘‘puñña’’nti vuccati – uy lực của quả phước gọi là Puñña – phước, công đức. Chữ quả phước – Puññaphala vì bị bỏ bớt nên (thường) được gọi là phước, công đức – Puñña. Puññamahīti mahati puññaphalavibhūti phước địa, công đức địa – Puññamahī là quả phước vẻ vang, đáng quí.

Thuận Pháp Dhammiko TP cứ tưởng “puññamahī” là “rừng công đức” hay “ruộng phước” (phước điền)!!!

Từ Minh

Ngài Pāli Việt Con nghĩ khổ không được đề cập đến ở đây vì cả ngài Assaji và đức Phật trong trường hợp này biết mình đang nói về vấn đề gì và đang nói chuyện với đối tượng nào – một Saccaka thích bắt bẻ, tự phụ
– Đề tài đang được nói đề cập đến thực tính pháp (sabhāva). Khi nói năm uẩn là nói con người chỉ là một khối tập hợp rỗng không thôi chớ không có tôi, có ta gì cả – tôi, ta chỉ là danh từ chế định không có thực – thế thì có ai mà chịu khổ, lãnh vui. Khổ hay lạc chỉ là cảm giác tức thọ uẩn. Theo thực tính pháp mà nói thì không có người lãnh khổ, vui mà ở đây chính là tâm sở thọ, hoặc thọ uẩn. Nói một cách khác thọ uẩn chính là yếu tố lãnh quả, còn hành uẩn (cetanā) chính là yếu tố tạo nghiệp. Và đức Phật nói: “thọ là vô thường…. thọ là vô ngã. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã”
– Thọ nói rộng có 5 (thọ khổ, thọ lạc, thọ hỷ, thọ ưu, thọ xã); nói hẹp hơn có 3 (thọ hỷ, thọ ưu, thọ xã); nói hẹp hơn có hai (thân thọ (khổ, lạc) và tâm thọ (ưu, hỷ, xã); nói hẹp hơn nữa chỉ có một là khổ thọ, vì thân thọ và tâm thọ là pháp hữu vi, mà pháp hữu vi là khổ.

Chua Nhu PhapVen Adhiṭṭhāna ơi! vậy từ maataa = mom nữa. Hai từ này là một or hai. Tại India hiện giờ vẫn dùng từ maataa để gọi các sư cô or người phụ nữ họ kính trọng. Vậy là sao Sư ? Thanks



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s