KINH MN 043 – ĐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG (MAHĀVEDALLASUTTAṂ)

By Vijjā Thiên Nhân on Monday, August 26, 2013 at 10:36am

I. BẢN KINH MN 043 – (Mahāvedalla sutta)

1. Bản tiếng Việt của Hòa Thượng Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung43.htm

2. Audio Đại Kinh Phương Quảng:

https://ia701204.us.archive.org/26/items/TrungBoKinh1/043DaiKinhPhuongQuang.mp3

3. Bản tiếng Anh của Sister Upalavanna

http://www.metta.lk/tipitaka/2Sutta-Pitaka/2Majjhima-Nikaya/Majjhima1/043-mahavedalla-sutta-e1.html

4. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://www.paliviet.info/VHoc/13/043.htm

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 043

1. Trích giảng Đại Kinh Phương Quảng – HT. Thích Chơn Thiện

http://cusi.free.fr/dtk/trungbotg/trung-gg-043.htm

2. Audio Giảng Đại Kinh Phương Quảng (HT Thích Chơn Thiện) :

https://ia601507.us.archive.org/34/items/ThuyetGiangKinhTrungBo/KinhPhuongQuangdai.mp3

3.Toát yếu Đại Kinh Phương Quảng – Thích Nữ Trí Hải:

https://docs.google.com/document/d/1UO3JL0rNKdnI9AMxRA5yjt-J5xOGhb0dxQT7I40rDSI/edit

4. Kinh Trung Bộ (chú giải) – Đại Kinh Phương Quảng – Phan Tùng Châu:

https://docs.google.com/document/d/1pRdo1PZONkTFwJEOMUGu5dy5vpxpFqEoSmVFB6chUWo/edit

III. ĐỀ CƯƠNG

Tìm hiểu về nội dung bài Đại Kinh Phương Quảng

A. Trí Tuệ và Liệt Tuệ:

1. Như thế nào được gọi là Liệt Tuệ ?

2. Như thế nào được gọi là Trí Tuệ ?

B. Thức và Trí Tuệ:

1. Như thế nào được gọi là Thức ?

2. Trí Tuệ và Thức có sự kết hợp và có sự sai khác không ?

3. Thế nào là sự sai khác giữa Trí Tuệ và Thức ?

C. Cảm Thọ và Tưởng:

1. Như thế nào được gọi là Cảm Thọ ?

2. Như thế nào được gọi là Tưởng ?

3. Thọ và Tưởng có sự kết hợp và sự sai khác hay không ?

D. Ý Thức không liên hệ và Tuệ Tri:

1. Ý Thức không liên hệ Năm Căn có thể đưa đến gì ?

2. Pháp được đưa đến nhờ gì có thể Tuệ Tri được ?

3. Trí Tuệ có ý nghĩa là gì ?

E. Chánh Kiến và trợ duyên của Chánh Kiến:

1. Có bao nhiêu duyên khiến Chánh Kiến sanh khởi ?

2. Chánh Kiến được hỗ trợ bao nhiêu chi phần để Tâm và Tuệ giải thoát ?

F. Hữu và Sự Tái Sanh:

1. Có bao nhiêu Hữu ?

2. Sự Tái Sanh trong tương lai xảy ra như thế nào ?

3. Sự Tái Sanh trong tương lai không xảy ra như thế nào ?

G. Thiền thứ nhất (Sơ Thiền) :

1. Thiền thứ nhất như thế nào ?

2. Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần ?

3. Thiền thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi phần, thành tựu bao nhiêu chi phần ?

H. Sự vận hành của Năm Căn:

1. Năm Căn có Cảnh Giới và Hành Giới sai khác, cái gì làm sở y cho chúng ?

2. Năm Căn này do duyên do duyên gì mà chúng an trú ?

3. Tuổi Thọ do duyên gì mà an trú ?

4. Hơi Nóng do duyên gì mà an trú ?

5. Tuổi thọ và Hơi Nóng duyên nhau, cần hiểu lời nói này như thế nào ?

I. Những Pháp Thọ Hành:

1. Những Pháp Thọ Hành và những Pháp được Cảm Thọ là một hay là khác ?

2. Có bao nhiêu Pháp được từ bỏ thì Thân này quăng di, vất bỏ ?

3. Tỷ Kheo nhập Diệt Thọ Tưởng Định có sai khác gì đối với vật chết ?

J. Chứng Tâm Giải Thoát:

1. Có mấy duyên để chứng nhập Tâm Giải Thoát Bất Khổ Bất Lạc ?

2. Có bao nhiêu duyên để chứng nhập Vô Tướng Tâm Giải Thoát ?

3. Có bao nhiêu duyên để an trú Vô Tướng Tâm Giải Thoát ?

4. Có bao nhiêu duyên để xuất khởi Vo Tướng Tâm Giải Thoát ?

5. Nghĩa và Danh của Tâm Giải Thoát sai biệt hay đồng nhất ?

5.1 Pháp môn có Nghĩa sai biệt và Danh sai biệt ?

5.2 Pháp môn có Nghĩa đồng nhất nhưng Danh sai biệt ?

IV. THẢO LUẬN

Đào Trọng Trác: Sadhu !

Vijjā Thiên Nhân

1

2

Hoa Nguyen: “Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất lạc bất khổ”, vậy nói đơn giản Thức thuộc cảm thọ (và tưởng, hành, ý thức so sánh) mà có. Còn Trí tuệ là cái biết (thẳng sự việc, hiểu trực tiếp đối tượng) không qua cảm thọ, suy tưởng, thí dụ biết một điều là …See More

Vijjā Thiên Nhân

3

Hoa Nguyen: Bài kinh rất hay và rất cao. Đề cương rất giáo khoa và chặt chẽ, nên có lẽ vì vậy mà nhiều người thấy khó góp thêm ý (một cách tư do, theo như nghĩ sao nói vậy).

Trong kinh cũng có câu:
“– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).”

Tôi thấy chủ đích bài kinh là đi tới nhận định được (và tu chứng) :
“vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát”.
Tâm giải thoát bất khổ bất lạc được cho thấy trong bài kinh ở phần nói về Tứ thiền: “Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc”.

Tôi nêu vài ý nghĩ trên theo cách thấy sao nói vậy để gợi hứng cho nhiều góp ý khác.

Pāli Việt: Có một vài chỗ, dịch không rõ. Có một vài chỗ dịch không sát nghĩa. Không biết có vị nào đã kiểm tra lại với bản dịch của Ngài Bhikkhu Bodhi chưa? Bài Kinh này hay, có nhiều định nghĩa quan trọng.

Pāli Việt 4. Kinh Trung Bộ (chú giải) – Đại Kinh Phương Quảng – Phan Tùng Châu: Bài này là bản giải thích của cá nhân, dùng chữ “chú giải” dễ gây hiểu lầm với Atthakathā của Ngài Buddhaghosa.

Pāli Việt: “Duppañño duppaññoti āvuso vuccati, kittāvatā nu kho āvuso ‘Duppañño’ti vuccatī”ti = — Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Suppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?

————-

Duppañño VÀ paññavā:

– pañña (tuệ) và ñāṇa (trí), 2 nghĩa này được sử dụng lâu nay. “paññavā” (paññavantu) có lẽ nên được dịch là “có tuệ” theo công thức: dhanavantu = có tài sản, guṇavantu = có đức độ, có đức hạnh, thay vì “trí tuệ” gộp chung 2 chữ pañña vā ñāṇa lại với nhau, dễ gây ngộ nhận.

– Hai tiếp đầu ngữ: du (xấu, kém, tệ) và su (tốt đẹp). dupañño nên dịch là “liệt tuệ” hay “tuệ kém” “tuệ tồi”.

—————

kittāvatā: (adv.) how far? in what respect? ad bao xa? Có quan hệ thế nào? Nghĩa “như thế nào” đã được HT sử dụng cho các từ ” kathaṃ và katamo (qúy vị tự trích lục ở các bản dich khác sẽ thấy).

————

Ven Bodhi dĩch đoạn trên như sau: One who is unwise, one who is unwise’ is said, friend. WITH REFERENCE TO what is this said, ‘one who is unwise’?” Tạm dịch như sau: “Này đại đức, ‘có tuệ kém, có tuệ kém’ được nói đến. Này đại đức, cho đến mức nào được gọi là ‘có tuệ kém?”

September 1 at 8:33am · Like · 1

Pāli Việt: pajānāti v. tuệ tri vs. paññā dt nữ tánh, tuệ

vijānāti v. thức tri vs. viññānaṃ dt trung tánh, thức (có nhiệm vụ nhận biết 6 cảnh: sắc, thinh, hương, …)

Pāli Việt:  sañjānāti v. tưởng tri vs. saññā dt nữ tánh, tưởng.

Pāli Việt:  Yaṃ hāvuso pajānāti, taṃ vijānāti. Yaṃ vijānāti, taṃ pajānāti. =

1/ Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được.

2/ Này Hiền Giả, tuệ tri điều nào thì thức tri điều ấy, thức tri điều nào thì tuệ tri điều ấy.

THỬ NGHIỆM XEM LỐI DỊCH NÀO DỄ HIỂU HƠN.

Pāli Việt:  CŨNG VẬY, với cảm thọ và tưởng tri:

1/ Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được.

2/ Này Hiền Giả, cảm thọ điều nào thì tưởng tri điều ấy, tưởng tri điều nào thì cảm thọ điều ấy.

Pāli Việt:  saṃ-saṭṭhā (được kết hợp), vi-saṃ-saṭṭhā (không được kết hợp), Nis-saṭṭhena (không liên hệ đến ) CẢ 3 TỪ NÀY ĐỀU CÓ CHUNG GỐC, CHỈ KHÁC NHAU TIẾP ĐẦU NGỮ.

Pāli Việt Neyyaṃ dhammaṃ = pháp được đưa đến ???

Neyyaṃ = jānitabbaṃ (có thể biết được) không liên quan đến động từ neti, nayati (dẫn đi, dắt đi)

Pāli Việt: ĐOAN VĂN 451 CẦN ĐƯỢC DỊCH LẠI: (Tạm chép lại đoạn tiếng Anh)

451. Nissaṭṭhena hāvuso pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena kiṃ neyyanti.

“Friend, what can be known by purified mind-consciousness released from the five faculties?”

Nissaṭṭhena āvuso pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena “Ananto ākāso”ti ākāsānañcāyatanaṃ neyyaṃ. “Anantaṃ viññāṇan”ti viññāṇañcāyatanaṃ neyyaṃ. “Natthi kiñcī”ti ākiñcaññāyatanaṃ neyyanti.

“Friend, by purified mind-consciousness released from the five faculties the base of infinite space can be known thus: ‘Space is infinite’; the base of infinite consciousness can be known thus: ‘Consciousness is infinite’; and the base of nothingness can be known thus: ‘There is nothing.”

Neyyaṃ panāvuso dhammaṃ kena pajānātīti.

“Friend, with what does one understand a state that can be known?”

Neyyaṃ kho āvuso dhammaṃ paññācakkhunā pajānātīti.

“Friend, one understands a state that can be known with the eye of wisdom.’

Paññā panāvuso kimatthiyāti.

“Friend, what is the purpose of wisdom?”

Paññā kho āvuso abhiññatthā pariññatthā pahānatthāti.

“The purpose of wisdom, friend, is direct knowledge, its purpose is full understanding, its purpose is abandoning.”

AO Trang Nguoi :  Thưa Sư con thấy câu này đọc suông sẻ có tính chất khằng định và dễ hiểu hơn :1/ Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Đối với Thọ và tưởng phần sau củng vậy

Pāli Việt:  Bản Kinh song ngữ đã được hiệu đính những đoạn văn khó hiểu, những chỗ không rõ nghĩa (được tô màu xám)

http://www.paliviet.info/VHoc/13/043.htm

043. MAHĀVEDALLASUTTAṂ – ĐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG

http://www.paliviet.info

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli – Việt)

September 2 at 10:30am



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s