KINH MN 041 – BÀI KINH SĀLEYYAKA (SĀLEYYAKASUTTAṂ)

By Ven Adhiṭṭhāna on Thursday, January 24, 2013 at 10:33am

I. BẢN KINH MN 041 – KINH SĀLEYYAKA (SĀLEYYAKASUTTAṂ

1. Bản tiếng Việt dịch bởi Ngài hoà thượng Minh Châu:

 http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung41.htm

2. Bản song ngữ Pāḷi – Việt soạn bởi Bhante Indacanda Bhikkhu:

 http://paliviet.info/VHoc/13/041.htm

 

 II. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO BÀI KINH MN 041 – KINH SĀLEYYAKA (SĀLEYYAKASUTTAṂ)

1. Trích giảng kinh MN 041 của thượng tọa Thích Chơn Thiện:

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-041-42.htm

2. Trung bộ toát yếu cho bài kinh MN 041 – Sākeyyakasuttaṃ dịch bởi Ni sư Trí Hải.

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-05.htm

 

 III. THẢO LUẬN

Pāli Việt:

THỬ PHÂN TÍCH ĐOAN VĂN PALI DƯỚI ĐÂY:

So imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti.

———————–

Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch (HT. MC).

Với thắng trí của mình, vị ấy chứng ngộ và công bố về thế gian này tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ (TK. IC).

Pāli Việt
Na kho mayaṃ imassa bhoto Gotamassa saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ ājānāma. Sādhu no bhavaṃ Gotamo tathā dhammaṃ desetu, yathā mayaṃ imassa bhoto Gotamassa saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ avibhattassa vitthārena atthaṃ ājāneyyāmāti.
—-
— Chúng con không thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt nếu không được giải thích rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng con để chúng con có thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt!

 

Phan Minh Nguyet: “Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa”

Con ko biết Pali nhưng rất hay gặp đoạn trên này trong các bài kinh Trung Bộ và thắc mắc ko biết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện là những pháp gì

Pāli Việt: <toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết,> <tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối>

Phan Minh Nguyet: vâng con thấy viết toàn hảo ở đoạn đầu,…. dễ hiểu hơn ạ chứ trước con hơi thắc mắc pháp nào thuộc loại sơ thiện, pháp nào thuộc loại trung thiện…lệch hẳn ý nghĩa

Pāli Việt: Adinnādāyī kho pana hoti, yaṃ taṃ parassa paravittūpakaraṇaṃ gāmagataṃ vā araññagataṃ vā, taṃ adinnaṃ theyyasaṅkhātaṃ ādātā hoti.

Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy.

Pāli Việt:

Kāmesumicchācārī kho pana hoti, yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇdā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu cārittaṃ āpajjitā hoti.

—–

Người ấy sống tà hạnh đối với các dục lạc, giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa.

Pāli Việt Iti samaggānaṃ vā bhettā bhinnānaṃ vā anuppadātā, vaggārāmo vaggarato vagganandī vaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti.

—-

Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại.

Pāli Việt: CÂU HỎI ĐỐ CÁC PALI LEARNERS: Phân tích văn phạm (loại từ gì, tánh nam nữ hay trung, số ít nhiều) 2 từ ajānaṃ và jānaṃ ở đoạn văn dưới đây:

—-

So ajānaṃ vā āha ‘jānāmī ’ti, jānaṃ vā āha ‘na jānāmī ’ti, = dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”;

Kg: Bs. Phạm Doãn, Varacāritto Nguyễn, Minh Thư, Hiếu Nguyễn, Vo Thi Huyen Chi, Thien Nguyen Ba, v.v…

Varacāritto Nguyễn Hơi. Tự dưng Sư tung đòn bất ngờ quá. Con ráng đỡ vậy: Là động từ, nam tánh, số ít

Pāli Việt: Là verbals, chứ không phải là verbs, rồi sao nữa? Chưa trả lời xong câu hỏi mà. Sau đó dịch lại literally thì sẽ như thế nào? Ngó dễ vậy mà khi bị hỏi lại thì nhiều người ú ớ đó. Trường hợp này gặp rất nhiều ở các văn bản Pali. Thử tiếp tục động trí xem thế nào.

Varacāritto Nguyễn :  Câu Sư quoted chuẩn hơn câu ở văn bản Pali tham khảo từ thứ tự các từ cho đến không cần chủ từ Ahaṃ vì cách dùng từ jānāmī đã cho thấy trước nó phải là Ahaṃ rồi. Sư còn tách chữ ‘ti ra so với bản Pali tham khảo nữa. Cái này là Sư tự viết ra hay lấy từ bản tham khảo khác nữa vậy ạ?

Ở bản tham khảo: “So āha ajānaṃ vā ahaṃ jānāmīti jānaṃ vā ahaṃ

na jānāmīti”.

Con gợi ý một kiểu dịch khác (dựa trên câu Pali của Sư): “Người ấy Không Biết nhưng vẫn bảo rằng “tôi biết”; Biết nhưng vẫn bảo rằng “tôi Không Biết””. Khỏi cần “dầu cho” hay lặp lại nhiều lần các từ “người ấy”.

Pāli Việt :  ajānaṃ và jānaṃ là “hiện tại phân từ, present participle”, nam tánh, ngôi thứ nhất, số ít, bổ nghĩa cho “so, vị ấy, hắn, nó.” (Xem sách văn phạm Pali của Ngài Buddhadatta, tập 1). Dịch sát từ sẽ là: So ajānaṃ vā āha ‘jānāmī ’ti, jānaṃ vā āha ‘na jānāmī ’ti =

Vị ấy, trong khi không biết, đã nói rằng: “Tôi không biết;” hoặc là trong khi biết đã nói rằng: “Tôi không biết.”

Varacāritto Nguyễn có nhận ra được loại từ (part of speech) của ajānaṃ và jānaṃ chưa? Dạng này thường gặp và có nhiều chỗ “hóc búa, khó nhận diện”.

Pāli Việt:  Chú ý từ vidhūpayaṃ và obhāsayam ở câu kệ bên dưới (đồng thời trường hợp obhāsati và obhāseti cũng gặp ở đây): Tìm hiểu câu kệ dưới đây.

—–

“Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn có sự tinh cần đang tham thiền, trong khi đánh tan binh đội của Ma Vương, (vị ấy) hiển hiện tợ như ánh mặt trời đang làm rực sáng không gian.”

—-

Yadā have pātubhavanti dhammā

ātāpino jhāyato brāhmaṇassa,

vidhūpayaṃ tiṭṭhati mārasenaṃ

sūriyo ’va obhāsayamantaḷikkhan ”ti.

——

3. Thật sự khi các pháp

Có mặt, hiện khởi lên,

Ðối với vị Bà-la-môn,

Nhiệt tâm hành thiền định,

Quét sạch các ma quân,

Vị ấy đứng, an trú,

Như ánh sáng mặt trời,

Chói sáng khắp hư không.

(Kinh Phật Tự Thuyếtn, HT. MC)

Varacāritto Nguyễn:  Ở câu Sư nêu thì Ajānaṃ đứng ngay sau So rồi nên dễ thấy, chỉ có jānaṃ thì nằm tuốt vế sau nên hơi khó thấy 1 chút, nhưng đọc cả câu thì việc nhận diện chức năng của nó cũng không khó lắm.

Pāli Việt:    CÂU HỎI: ātāpino (nhiệt tâm, tinh cần) bổ nghĩa cho từ nào ở đoạn văn bên dưới? BỔ NGHĨA cho vị Bà la môn (không bổ nghĩa cho động từ “hành thiền định, tham thiền”). VÌ SAO? Bạn đang nghiên cứu Pali, chứ không phải tiếng Việt.

—-

ātāpino jhāyato brāhmaṇassa

—-

Ðối với vị Bà-la-môn

Nhiệt tâm hành thiền định (HT. MC)

—–

đến vị Bà-la-môn có sự tinh cần đang tham thiền (Tk. IC)

Varacāritto Nguyễn: Con khoái câu Sư dịch!



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s