VIMUTTIMAGGA – GIẢI THOÁT ĐẠO

TAM TẠNG PĀLI – VIỆT

—–

VIMUTTIMAGGA – GIẢI THOÁT ĐẠO

Người Dịch: Group Pali Chuyên Đề

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 Cập Nhật: Wednesday, October 30, 2013

 I. PAṬHAMO NIDĀNAKACCHO

 

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa

Sīlaṃ samādhi paññā ca vimutti ca anuttarā,
anubuddhā ime dhammā gotamena yasassinā.

Sīlaṃ nāma sīlasaṃvaro, samādhi nāma avikkhepo, paññā nāma sambodhiñāṇaṃ, vimutti nāma bandhanāpagamo, anuttarā’ti anāsavā.

 

I. PHẦN THUYẾT DẪN NHẬP – THỨ NHẤT

 

Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

 

Giới, định, tuệ, và vô thượng giải thoát,

các pháp này đã được đức Gotama danh tiếng giác ngộ.

 

Sự thu thúc trong giới gọi là Giới, sự không tán loạn gọi là Định, trí giác ngộ trọn vẹn gọi là Tuệ, sự xa lìa trói buộc gọi là giải thoát, không còn lậu hoặc là vô thượng.

II. DUTIYO SĪLAKACCHO

1. Kiṃ sīlaṃ?
Cetanā sīlaṃ. Saṃvaro sīlaṃ. Avitikkamo sīlaṃ. Pahāṇaṭṭhena saṃvaro, sabbe kusalādhammā. Idaṃ sīlaṃ nekkhammena kāmacchandassa pahāṇaṃ ―pe― [*] arahattamaggena sabbakilesānaṃ pahānaṃ sīlaṃ. Veramaṇi, cetanā, saṃvaro, avitikkamo sīlaṃ.
[*] Có sự sai sót ở chỗ này, cần phải tìm đoạn văn Pali để điền vào đây.

 

II. PHẦN THUYẾT VỀ GIỚI – THỨ NHÌ

 

1. Giới là gì?

Sự cố ý là giới. Sự thu thúc là giới. Sự không vi phạm là giới.

Sự thu thúc theo ý nghĩa dứt bỏ (là giới). Tất cả các pháp thiện (là giới). Giới này là sự dứt bỏ lòng ham muốn trong các dục nhờ vào sự xuất ly, ―như trên― sự dứt bỏ tất cả các ô nhiễm nhờ vào A-la-hán Đạo là giới. Sự kiêng cử, sự cố ý, sự thu thúc, sự không vi phạm là giới.

2. Kiṃ sīlassa lakkhaṇaṃ? 
Saṃvaro pātimokkhadhammā paccayadhammā indriyadhammā lakkhaṇaṃ.
 
2. Tướng trạng của giới là gì? 
Sự thu thúc liên quan đến giới bổn Pātimokkha, liên quan đến các vật dụng, liên quan đến các giác quan là tướng trạng (của giới).

 

3-5. Kāni rasa-paccupaṭṭhāna-padaṭṭhānāni? 
Anavajjasukhaṃ raso nāma. Anupāyāso paccupaṭṭhānaṃ, sucaritattayasamācāro padaṭṭhānaṃ. Atha ca somanassaṃ raso, avippaṭisāro paccupaṭṭhānaṃ, indriyesu gutti padaṭṭhānaṃ.
3-5. Những gì là hương vị (của giới), thành tựu (của giới), chỗ tựa (của giới)?

Sự an lạc do không bị chê trách gọi là hương vị (của giới), sự không khổ não là tthành tựu (của giới), sự thực hành ba thiện hạnh là chỗ tựa (của giới). Thêm nữa, hỷ tâm là hương vị (của giới), sự không hối hận là thành tựu  (của giới), sự canh giữ ở các giác quan là chỗ tựa (của giới).

 

6. Ko sīlassa ānisaṃso?
Avippaṭisāro ―pe― evaṃ anantānisaṃsaṃ sīlaṃ.

 

6. Lợi ích của giới là gì?

Sự không hối hận ―như trên― Như vậy, giới có lợi ích vô tận.

7. Kimatthaṃ sīlaṃ? 
Sītalatthaṃ, seṭṭhatthaṃ, sīlanatthaṃ, sabhāvatthaṃ, sukhadukkhabhāvasampayuttatthaṃ, siratthaṃ, patiṭṭhātthaṃ.
7. Giới có ý nghĩa thế nào?

Có ý nghĩa mát mẻ, có ý nghĩa cao thượng, có ý nghĩa thu thúc, có ý nghĩa tự nhiên, có ý nghĩa liên quan đến bản thể của lạc và khổ, có ý nghĩa dẫn đầu, có ý nghĩa nâng đỡ.

8. Ācārassa ca sīlassa ca kiṃ nānākaraṇaṃ? 
Dhutaṅgasamādānaṃ ācāro saṃvaro sīlaṃ.
8. Sự việc khác biệt của hạnh và của giới là gì?

Sự thọ trì các pháp từ khước (đầu đà) là hạnh, sự thu thúc là giới.

9. Katividhaṃ sīlaṃ? 
Tividhaṃ―kusalaṃ sīlaṃ, akusalaṃ sīlaṃ, abyākataṃ sīlan ’ti, kāyikaṃ vācasikaṃ mānasikan ’ti pi.
9. Có bao nhiêu loại giới?

Có ba loại là ‘thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới;’ và (ba loại nữa là) ‘liên quan đến thân, liên quan đến khẩu, liên quan đến ý.’

 

10. Kiṃsamuṭṭhānaṃ sīlaṃ? 
Kusalacittasamuṭṭhānaṃ kusalaṃ sīlaṃ, akusalacittasamuṭṭhānaṃ akusalaṃ sīlaṃ, abyākatacittasamuṭṭhānaṃ abyākataṃ sīlaṃ. Kāyadvāre pavattaṃ kāyikaṃ micchāvācā veramaṇī vācasikaṃ abhijjhābyāpādamicchādiṭṭhi paṭilomaṃ saṃvaro mānasikaṃ sīlaṃ.
10. Giới có nguồn sanh khởi là gì?

Thiện giới có nguồn sanh khởi là các tâm thiện, bất thiện giới có nguồn sanh khởi là các tâm bất thiện, vô ký giới có nguồn sanh khởi là các tâm vô ký. Sự vận hành ở thân môn là liên quan đến thân, sự kiêng cử lời nói sai trái là liên quan đến khẩu, sự  thu thúc đối chọi lại tham lam-bất bình-tà kiến là giới liên quan đến ý.

11. Kāni sīlassa ādimajjhapariyosānāni? 
Samādānaṃ ādī, avitikkamo majjhaṃ, abhirati pariyosānaṃ.
11. Phần đầu, phần giữa, phần cuối của giới là những gì?

Sự thọ trì là phần đầu, sự không vi phạm là phần giữa, sự thỏa thích là phần cuối.

12. Kati dhammā sīlassa antarāyikā? 13. Kati sīlassa hetū? 
Catuttiṃsa dhammā maggassa antarāyikā: kodho, palāso, makkho, santāpo, macchariyaṃ, issā, sāṭheyyaṃ, māyā, upanāho, māno, atimāno, mado, pamādo, kosajjaṃ, lobho, arati, ananvayañāṇaṃ, micchāsati, pāpikā vācā, pāpakā mittā, pāpakaṃ ñāṇaṃ, pāpakā diṭṭhi, akkhanti, assaddhā, ahirikaṃ, anottappaṃ, kāyikavācasikabyāpāresu assādo, itthijanesu saṃvāso, satthu sikkhāya agāravo, indriyesu asaṃvaro, bhojane amattaññutā, paṭhamāya rattiyā pacchimāya ca rattiyā ajāgariyānuyogo, jhāna-sajjhāyānaṃ abhāvo, ime catuttiṃsa dhammā maggassa antarāyā sīlassāpahārakā’ti.
12. Có bao nhiêu pháp chướng ngại của giới ? 13. Có bao nhiêu nhân của giới?

Có ba mươi bốn pháp là các chướng ngại của đạo lộ: sự giận dữ, ác ý, gièm pha, bực bội, bỏn xẻn, ganh tỵ, bội bạc, xảo trá, thù hằn, ngã mạn, kiêu căng, đam mê, xao lãng, lười biếng, tham, không vui, thiếu trí, tà niệm, lời nói độc ác, các bạn bè độc ác, trí độc ác, quan điểm độc ác, không nhẫn nại, không có niềm tin, không có tàm, không có quý, khoái lạc trong các công việc liên quan đến thân và khẩu, cộng trú với nữ nhân, không tôn kính trong việc học tập với vị thầy, không thu thúc các giác quan, không điều độ về vật thực, không thực hành tỉnh giác ở đầu đêm và cuối đêm, không có sự học hỏi về thiền định; ba mươi bốn pháp này là các chướng ngại của đạo lộ, là các yếu tố làm tiêu hoại giới.

 

14. Katividhaṃ sīlaṃ? 
Duvidhaṃ, tividhaṃ, catubbidhaṃ.

Kathaṃ duvidhaṃ? Cāritta-vārittavasena, hāṇabhāgiya-pattibhāgiyavasena, lokiya-lokuttaravasena ca duvidhaṃ, sappamāṇa-appamāṇavasena ca, sappariyanta-apariyantavasena ca, nissita-anissitavasena ca, duvidhaṃ hoti.

Kathaṃ tividhaṃ? Hīna-majjhima-paṇītavasena, ādibrahmacariyakaṃ sammāvācā sammākammanta-ājīvo—khuddānukhuddasikkhā sesaṃ—cittasampayuttaṃ ādi sikkhā brahmacariyaṃ. Cittavippayuttaṃ. Sesaṃ khuddakaṃ—avitikkamasīlaṃ sāvakānaṃ. Visuddhi sīlaṃ buddhānañca sīlaṃ kālapariyantaṃ āpāṇakoṭikaṃ.

14. Giới có bao nhiêu loại?

Hai loại, ba loại, bốn loại.

Hai loại là thế nào? Về phương diện hành xử và ngăn ngừa, về phương diện góp phần vào việc từ bỏ và góp phần vào việc thành tựu, về phương diện hiệp thế và siêu thế là hai loại; về phương diện có hạn lượng và không có hạn lượng, về phương diện có giới hạn và không có giới hạn, về phương diện bị phụ thuộc và không bị phụ thuộc là hai loại.

Ba loại là thế nào? Về phương diện bậc hạ – bậc trung – bậc thượng, chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng là việc học tập thuộc về phần đầu của Phạm hạnh—các điều học nhỏ nhặt và không quan trọng là phần còn lại—các điều học có sự khởi đầu được gắn liền với tâm là Phạm hạnh. (Giới) không gắn liền với tâm. Phần nhỏ nhặt còn lại là giới không được vi phạm của các vị Thinh Văn. Sự thanh tịnh là giới của chư Phật, và giới có giới hạn thời gian là điểm cuối cùng của hơi thở.

 

Kathaṃ tividhaṃ?
Pāpa-nimmūlanena avitikkamo, samādānena avitikkamo, samucchedena avitikkamo ’ti ca, parāmaṭṭha-aparāmaṭṭha-paṭippassaddhivasena ca, lokanissitaṃ attanissitaṃ dhammanissitan ’ti ca, visama-sama-appaṇihitavasena ca, visuddha-avisuddha-vematikavasena ca, sekha-asekkha-nevasekhāsekhan ’ti ca, bhayasīlaṃ dukkhasīlaṃ mohāsīlan ’ti ca, hīna-majjhima-paṇītan ’ti ca tividhaṃ sīlaṃ.
Ba loại là thế nào?

Sự không vi phạm do không có gốc rễ của điều ác, sự không vi phạm do thọ trì, sự không vi phạm do cắt đứt; về phương diện bị ô nhiễm, không bị ô nhiễm, có sự an tịnh; phụ thuộc vào thế gian, phụ thuộc vào bản thân, phụ thuộc vào Giáo Pháp; về phương diện bất bình đẳng, bình đẳng, không bị thiên vị; về phương diện thanh tịnh, không thanh tịnh, bị hoài nghi; thuộc về bậc hữu học, thuộc về bậc vô học, không thuộc về bậc hữu học lẫn bậc vô học (thuộc phàm nhân); giới do sợ, giới do khổ, giới do si; bậc hạ – bậc trung – bậc thượng là giới có ba loại.

 

Kathaṃ catubbidhaṃ sīlaṃ?
Hānabhāgiyaṃ maggassa antarāye na vinodeti, uṭṭhānavantehi janehi apakkamati, sañcicca āpattiṃ āpajjati, āpattiṃ āpanno paṭigūhati paṭicchādeti. Ṭhitibhāgiyaṃ sampādite sīle appamatto hoti, upasamadassanaṃ pana na uppādeti. Visesabhāgiyaṃ paripūrita-sīla-samādhisu appamatto hoti upasamadassanaṃ pana na uppādeti. Nibbedhabhāgiyaṃ paripūrita-sīla-samādhisu appamatto hoti upasamdassanena ca nibbedhabhāgiyo hoti.
Giới có bốn loại là thế nào?

Góp phần vào hư hoại là vị không xua đuổi các chướng ngại của đạo lộ, lánh xa những người tích cực, cố ý phạm tội, đã phạm tội thì giấu diếm và che đậy; góp phần vào tồn tại là vị không xao lãng ở giới đã được thành tựu nhưng không làm sanh khởi sự nhận thức về an tịnh; góp phần vào tiến bộ là vị không xao lãng ở giới và định đã được đầy đủ nhưng không làm sanh khởi sự nhận thức về an tịnh; góp phần vào thấu triệt là vị không xao lãng ở giới và định đã được đầy đủ và là vị có sự góp phần vào thấu triệt nhờ có sự nhận thức về an tịnh.

 

Bhikkhusīlaṃ bhikkhuṇīsīlaṃ anupasampannasīlaṃ odātavasanasīlan’ti ca, pattisīlaṃ ācārasīlaṃ dhammatāsīlaṃ pubbahetu sīlan ’ti ca, sīlasīlaṃ (kusalasīlaṃ akusalasīlaṃ) samudayasīlaṃ kusalacittasamuṭṭhānaṃ kusalasīlaṃ akusalacittasamuṭṭhānaṃ akusalasīlaṃ, nirodhasīlaṃ kusalasīlānuppattiyā akusalasīlassa vūpasamo arahattūpapattiyā kusalasīlassa vūpasamo,  nirodhamaggapaṭipadāsīlaṃ cattāro sammappadhānā.

 

Giới của tỳ khưu, giới của tỳ khưu ni, giới của người chưa tu lên bậc trên, giới của hàng cư sĩ áo trắng. Giới do sự đạt được, giới do sự thực hành, giới do bản thể tự nhiên, giới do nguyên nhân quá khứ. Giới của giới (thiện giới, bất thiện giới); giới do nhân sanh khởi: thiện giới có sự sanh lên do tâm thiện, bất thiện giới có sự sanh lên do tâm bất thiện; giới do sự tịch diệt: sự yên lặng của bất thiện giới do sự đạt đến của thiện giới, sự yên lặng của thiện giới do sự đạt đến phẩm vị A-la-hán; giới của sự thực hành đạo lộ đưa đến tịch diệt là bốn sự nỗ lực đúng đắn.

 

Pātimokkha-saṃvarasīlaṃ: Idha bhikkhu pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati, ācāragocarasampanno anumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Idhā ti imasmiṃ satthusāsane dhamme. Bhikkhū ti puthujjanakalyāṇako, api ca sekho asekho āneñjadhammo. Pātimokkhan ti sīlaṃ, patiṭṭhā, ādī, caraṇaṃ, saññamo, saṃvaro, mokkho, anibandho, pamukhaṃ kusalānaṃ dhammānaṃsamāpattiyā.

 

 

Giới thu thúc ở giới bổn Pātimokkha: Ở đây vị tỳ khưu sống thu thúc với sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các điều học. ‘Ở đây‘ là ở lời dạy của bậc Đạo Sư, ở Giáo Pháp này. ‘Vị tỳ khưu‘ là phàm nhân tốt lành, thêm nữa là bậc hữu học, bậc vô học có pháp bất động. ‘Giới bổnPātimokkha’ là giới, sự nâng đỡ, phần khởi đầu, sự thực hành, sự chế ngự, sự thu thúc, sự mở đầu, sự dẫn đầu nhằm chứng đạt các thiện pháp.
Saṃvaro ti kāyikavācasikakammassa avitikkamo. Saṃvuto ti pātimokkhasaṃvarena upeto. Viharatī ti catusaṃvarena saṃvuto, ācāragocara-sampanno, anumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Kāni sikkhāpadāni? Vuccanti—sattappabhedo saṃvaro.

 

Sự thu thúc‘ là sự không vượt qua đối với hành động liên quan đến thân và liên quan đến khẩu. ‘Đã thu thúc‘ là đã đầy đủ với sự thu thúc ở giới bổn Pātimokkha. ‘Sống‘ là đã thu thúc với bốn sự thu thúc (ở bốn oai nghi), đã thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các điều học. Các điều học gì? Nói đến sự thu thúc với bảy loại (tội).

 

Ājīvapārisuddhisīlaṃ micchājīvena avitikkamo. Katamo micchājīvo? Kuhanā paccayapaṭisevanavasena, iriyāpathavasena sāmantajappanavasena. Lapanā nemittikatā nippesikatā lābhena lābhaṃ nijigiṃsanatā. Api ca micchājīvo ti veḷudānaṃ vā pattadānaṃ vā pupphaphalasinānadantakaṭṭhadānaṃ. Aṅgaṃ nimittaṃ uppādaṃ evamādiko nānāvidho micchājīvo. Micchājīvena paṭivirati parisuddhisīlaṃ.

 

Giới thanh tịnh về nuôi mạng: là sự không vượt qua do sự nuôi mạng sai trái (tà mạng). Sự nuôi mạng sai trái nào? Sự gạt gẫm về phương diện đeo đuổi các vật dụng, về phương diện oai nghi, về phương diện nói ướm. Sự tán phét, các hành động gợi ý, các hành động lừa bịp, sự tham muốn được lợi lộc bằng lợi lộc (lấy lợi câu lợi). Và thêm nữa, ‘sự nuôi mạng sai trái’ là việc cho tre, hoặc việc cho lá, hoặc việc cho bông hoa, trái cây, chỗ tắm, tăm xỉa răng. (Xem) tướng mạo, (giải đoán) hiện tượng đã sanh khởi, v.v.. các cách thức khác nhau như vậy là sự nuôi mạng sai trái. Sự kiêng cữ việc nuôi mạng sai trái là giới thanh tịnh.

 

Catupaccayasannissitasīlaṃ aṭṭhahi ākārehi paṭisaṅkhā yoniso sevati—piṇḍapātaṃ neva dvāya na madāya, na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, pighacchā pipāsānaṃ vūparatiyā (vihiṃsūparatiyā), brahmacariya-anuggahāya, iti purāṇañca vedanaṃ paṭihankhāmi, navaṃ ca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati, anavajjatā va phāsuvihāro cāti. Catudhā paccavekkhitabbaṃ: pahātabba-paccavekkhaṇā, paccayapacccavekkhaṇā, yātrāpaccavekkhaṇā, parittānisaṃsapaccavekkhaṇā antadvayaparivajjanā majjhimāya ca paṭipadāya sevanaṃ.

 

 

Giới nương theo bốn món vật dụng: Sau khi quán sát đúng đường lối theo tám biểu hiện: thọ dụng đồ ăn khất thực không phải để chơi giỡn, không phải vì đam mê, không phải để tô điểm, không phải để trang sức, mà chi nhằm để duy trì, để nuôi dưỡng thân thể này, để chấm dứt sự đói khát, để ngăn ngừa sự tổn hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, (nghĩ rằng): ‘Như vầy ta tiêu diệt cảm thọ cũ và sẽ không làm sanh lên cảm thọ mới, và sẽ có đến ta sự nâng đỡ mạng sống, sự không bị chê trách, và sự cư trú thoải mái.’ Nên suy xét theo bốn cách: Suy xét về vật cần được dứt bỏ, suy xét về vật dụng, suy xét về sự nâng đỡ mạng sống, suy xét về lợi ích của sự hộ trì do việc xa lánh hai cực đoan và thân cận đường lối thực hành trung đạo.

 

Paṭikaṅkhā yoniso cīvaraṃ paṭisevāmi yāvadeva sītassa paṭighātāya uṇhassa paṭighātāya ḍaṃsamakasavātātapasariṃsapasamphassānaṃ paṭighātāya yāvadeva hirikopīna-paṭicchādanatthaṃ.

 

Sau khi quán sát đúng đường lối, ta sử dụng y phục chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.
Paṭisaṅkhā yoniso senāsanaṃ —pe— utuparissayavinodanaṃ paṭisallānārāmatthaṃ. Paṭisaṅkhā yoniso gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭisevāmi yāvadeva uppannānaṃ veyyābādhikānaṃ vedanānaṃ paṭighātāya abyāpajjhaparamatāyāti.

 

Sau khi quán sát đúng đường lối, ta sử dụng cốc liêu —như trên— xua đi sự khó chịu của thời tiết, với mục đích vui thích trong việc thiền tịnh. Sau khi quán sát đúng đường lối, ta sử dụng thuốc men chữa bệnh chỉ để diệt trừ các cảm thọ thuộc về bệnh hoạn đã sanh khởi, để giảm tối đa sự khó chịu.
Cattāro paccayaparibhogā theyyaparibhogo iṇaparibhogo dāyajjaparibhogo sāmiparibhogo ti aparisuddhaparibhogaparisuddhaparibhogavasena ca.

 

Và về phương diện thọ dụng không thanh tịnh và thọ dụng thanh tịnh, có bốn sự thọ dụng các món vật dụng: thọ dụng như trộm cắp, thọ dụng như món nợ, thọ dụng như người thừa kế, thọ dụng như người chủ.

 

Vinayasaṃvarasīlaṃ patimokkhasaṃvarasīlaṃ adhimattāya saddhāya paripūritaṃ hoti, ājīva-parisuddhisīlaṃ adhimattena viriyena paripūritaṃ hoti. Indriyasaṃvarasīlaṃ adhimattāya satiyā paripūritaṃ hoti. Catupaccayasevanasīlaṃ adhimattāya paññāya paripūritaṃ hoti.

 

Giới thu thúc ở Luật, giới thu thúc ở giới bổn Pātimokkha được đầy đủ nhờ vào tín vượt trội. Giới thanh tịnh về nuôi mạng được đầy đủ nhờ vào tấn vượt trội. Giới thu thúc ở các giác quan được đầy đủ nhờ vào niệm vượt trội. Giới nương theo bốn món vật dụng được đầy đủ nhờ vào tuệ vượt trội.

 

Ājīvapārisuddhisīlaṃ patimokkhasaṃvarena saṃgahīyati. Indriyasaṃvarasīlaṃ paccayasannissitena saṃgahīyati. Indriyasaṃvaraṃ ājīvaparisuddhi ca sīlakkhandhena gahito, indriyasaṃvara-pātimokkhasaṃvarā samādhikkhandhena, catupaccayasannissitasīlaṃ paññākkhandhena saṃgahīyati. Giới thanh tịnh về nuôi mạng được gộp chung với sự thu thúc ở giới bổn Pātimokkha. Giới thu thúc ở các giác quan được gộp chung với việc đã nương theo bốn món vật dụng. Sự thu thúc ở các giác quan và sự thanh tịnh về nuôi mạng được xếp vào giới uẩn, sự thu thúc ở các giác quan và sự thu thúc ở giới bổn Pātimokkha được xếp vào định uẩn, giới nương theo bốn món vật dụng được xếp vào tuệ uẩn.

 

15. Kathaṃ sīlasuddhi samādinnā hoti?

 

15. Sự trong sạch của giới được thọ trì như thế nào?
16. Kati sīlassa patiṭṭhā?

Dve sīlassa patiṭṭhā dussīlassa ādīnavadassanena ca sīlassa ānisaṃsadassanena. Kikīva aṇḍaṃ camarīva vāḷadhiṃ piyaṃva puttaṃ nayanaṃva ekakaṃ, tatheva sīlaṃ anurakkhamānakā supesalā hotha sadā sagāravā.

 

16. Có bao nhiêu sự nâng đỡ giới?

Có hai sự nâng đỡ giới: do việc nhìn thấy (nhận thức) sự bất lợi của ác giới và nhìn thấy sự lợi ích của giới. Tựa như loài chim kikī bảo vệ trứng, tựa như loài bò xứ Tây Tạng bảo vệ cái đuôi, tựa như người bảo vệ đứa con trai yêu dấu, tựa như người bảo vệ con mắt độc nhất, tương tự y như thế, là những người đang bảo vệ giới, quý vị hãy có hạnh kiểm thật tốt đẹp, luôn luôn có sự tôn kính.

 

III. TATIYO KACCHO 

DHUTĀNI

 

Atha sīlānantaraṃ sīlasampādanatthameva dhutāni sampādetabbāni honti. Tāni pana teraseva honti tesu dve dhammā cīvarapaṭisaṃyuttāni: paṃsukūlikaṃ tecīvarikan ’ti. Pañca dhammā piṇḍapātapaṭisaṃyuttā: piṇḍapātikaṃ, sapadānacārikaṃ, ekāsanabhojanaṃ, bhojane mattaññutā (pattapiṇḍikaṃ), khalupacchābhattikaṃ ca. Pañca dhammā senāsanapaṭisaṃyuttā: āraññakaṃ rukkhamūlikaṃ abbhokāsikaṃ sosānikaṃ yathāsanthanikañca. Ekaṃ viriyapaṭisaṃyuttaṃ nesajjikaṅgaṃ.

 

III. PHẦN THUYẾT THỨ BA

CÁC HẠNH TỪ KHƯỚC

 

Kế tiếp, chính vì mục đích thành tựu của giới, không gián đoạn của giới, các hạnh từ khước cần được làm cho thành tựu. Vả lại, các hạnh ấy chỉ có mười ba, trong số đó có hai pháp liên hệ đến y phục: hạnh mặc y paṃsukūla (y may bằng vải bị quăng bỏ), hạnh chỉ sử dụng ba y. Năm pháp liên quan đến đồ ăn khất thực: hạnh đi khất thực, hạnh đi khất thực theo từng nhà, hạnh một chỗ ngồi (khi thọ thực), tánh biết chừng mực về vật thực (hạnh thọ thực trong bình bát), và hạnh không ăn vật thực dâng sau. Năm pháp liên quan đến chỗ trú ngụ: hạnh sống ở rừng, hạnh ngụ ở gốc cây, hạnh ngụ ở ngoài trời, hạnh ngụ ở mộ địa, và hạnh ngụ chỗ ở theo chỉ định. Một hạnh liên quan đến tinh tấn là hạnh oai nghi ngồi (không nằm).

 

1. PAṂSUKŪLIKAṄGAṂ

1. Kimatthaṃ paṃsukūlaṃ samādiyati? Gahapatidānacīvaraṃ paṭikkhittattā paṃsukūlaṃ samādiyāmi. Ko ānisaṃso paṃsukūla-samādāne? Corabhayena abhayatā, paribhoga-taṇhāya abhāvo, diṭṭhadhammasukhavihāritā ca. Katividhaṃ paṃsukūlaṃ? Duvidhaṃ sosānikaṃ, saṅkāracolaṃ, pāpaṇikaṃ, rathiyā-coḷakaṃ, gokhāyitaṃ, mūlikacchinnaṃ, aggidaḍḍhaṃ. Kathaṃ samādiyati? Sace bhikkhu gahapatidānaṃ paṭikkhipati, tena paṃsukūlikaṃ hoti. Kathaṃ bhedo? Sace bhikkhu gahapatidānaṃ samādiyati, tena paṃsukūlikaṃ bhinnaṃ hoti.

 

1. HẠNH MẶC Y PAṂSUKŪLA

1. Thọ trì y paṃsukūla với mục đích gì? Với việc từ chối y dâng bởi gia chủ, tôi thọ trì ypaṃsukūla. Lợi ích gì trong việc thọ trì y paṃsukūla? Trạng thái không sợ hãi do sự sợ hãi trộm cướp, không có tham ái trong viêc sử dụng, và trạng thái sống an lạc trong hiện tại. Có bao nhiêu loại y paṃsukūla? Có hai loại: vải quăng bỏ ở nghĩa địa, vải quăng bỏ ở đống rác, vải quăng bỏ ở ngoài cửa tiệm, vải quăng bỏ ở đường đi, vải bị bò nhai, vải bị chuột cắn, vải bị lửa đốt. Thọ trì như thế nào? Nếu vị tỳ khưu từ chối y dâng bởi gia chủ, do việc ấy trở nên vị có hạnh mặc ypaṃsukūla. Sự hư hoại như thế nào? Nếu vị tỳ khưu thọ nhận y dâng bởi gia chủ, do việc ấy hạnh mặc y paṃsukūla bị hư hoại.

 

2. TECĪVARIKAṄGAṂ

2. Kathaṃ tecīvarikaṃ samādiyati? Ajjatagge atirekacīvarassa paṭikkhittattā tecīvarikaṃ samādiyāmi. Ko ānisaṃso tecīvarika-samādāne? Appasamārambhatā santuṭṭho kāyaparihārikena. Kāni tīni cīvarāni? Saṅghāṭi uttarāsaṅgaṃ antaravāsakañca. Kathaṃ samādinnaṃ? Sace bhikkhu atirekacīvaraṃ na dhāreti. Kathaṃ bhedo? Sace bhikkhu catutthaṃ cīvaraṃ samādiyati.

 

2. HẠNH CHỈ SỬ DỤNG BA Y

2. Thọ trì hạnh chỉ sử dụng ba y như thế nào? Kể từ hôm nay, với việc từ chối y phụ trội, tôi thọ trì hạnh chỉ sử dụng ba y. Lợi ích gì trong việc thọ trì hạnh chỉ sử dụng ba y? Trạng thái ít bận rộn, được hài lòng với việc bảo vệ thân thể. Ba y là những cái nào? Y hai lớp, y vai trái, và y nội. Được thọ trì như thế nào? Nếu vị tỳ khưu không mặc y phụ trội. Sự hư hoại như thế nào? Nếu vị tỳ khưu thọ nhận y thứ tư.

 

3. PIṆḌAPĀTIKAṄGAṂ

3. Kathaṃ piṇḍapātikaṃ samādinnaṃ hoti? Ajjatagge nimantana-paṭikkhepena piṇḍapātikaṃ dhammaṃ samādiyāmī ti samādinnaṃ hoti. Ko piṇḍapātikassa ānisaṃso? Kosajjanimmathanatā, mānappahānaṃ, rasataṇhānivāraṇañca, cātuddisatā. Katividhā nimantanā? Kathaṃ samādānaṃ? Tividhā nimantanā.  Nimantanapaṭikkhepena. Kathaṃ bhedo? Nimantanāsādiyanena bhedo hoti.

 

3. HẠNH ĐI KHẤT THỰC

3. Hạnh đi khất thực được thọ trì như thế nào? ‘Kể từ hôm nay, với việc từ chối sự thỉnh mời, tôi thọ trì pháp đi khất thực;’ (hạnh đi khất thực) là được thọ trì như thế. Lợi ích gì đối với vị thọ trìhạnh đi khất thực? Trạng thái nghiền nát tánh lười biếng, sự dứt bỏ ngã mạn, và sự ngăn cản tham ái ở các vị, trạng thái thuộc về bốn phương. Bao nhiêu loại thỉnh mời? Việc thọ trì như thế nào? Có ba loại thỉnh mời. Với việc từ chối sự thỉnh mời. Sự hư hoại như thế nào? Với việc ưng thuận sự thỉnh mời là sự hư hoại.

 

4. SAPADĀNACĀRIKAṄGAṂ

4. Kathaṃ sapadānacārikaṃ samādinnaṃ hoti? Ajjatagge asapadānacārikaṃ paṭikkhipāmi. Sapadānacārikaṃ samādiyāmi. Ko ānisaṃso sapadānacārike? Avhānānabhinandanā candūpamatā. Kiṃ nāma sapadānacārikaṃ? Kathaṃ samādānaṃ? Kathaṃ bhedo ti?

 

4. HẠNH ĐI KHẤT THỰC THEO TỪNG NHÀ

4. Hạnh đi khất thực theo từng nhà được thọ trì như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi từ bỏ việc khất thực không tuần tự, tôi thọ trì hạnh đi khất thực theo từng nhà. Lợi ích gì trong việc đi khất thực theo từng nhà?

Do không thích thú với việc gọi tên, có trạng thái giống như mặt trăng. Hạnh đi khất thực theo từng nhà gọi là gì? Việc thọ trì như thế nào? Sự hư hoại như thế nào?

 

5. EKĀSANIKAṄGAṂ

5. Kathaṃ ekāsanikaṃ samādiyati? Ko ānisaṃso ekāsanike? Appābādhatā appātaṅkatā phāsuvihāro ti. Kathaṃ ekāsanikassa samādānaṃ? Ke pariyantā? Kathaṃ bhedo? Tayo pariyantā: āsanapariyanto udakapariyanto bhojanapariyanto. Sace manussā sappimaṇḍaṃ āharanti bhesajjamattameva vaṭṭati.

 

5. HẠNH MỘT CHỖ NGỒI (KHI TH THỰC)

5. Thọ trì hạnh một chỗ ngồi (khi thọ thực) như thế nào? Lợi ích gì trong việc thọ trì hạnh một chỗ ngồi (khi thọ thực)? Trạng thái ít bệnh tật, trạng thái ít đau ốm, sống thoải mái. Việc thọ trì của hạnh một chỗ ngồi (khi thọ thực) là như thế nào? Có những hạn định nào? Sự hư hoại như thế nào? Có ba hạn định: hạn định về việc ngồi, hạn định về nước (rửa), hạn định về thức ăn. Nếu người ta mang lại bơ trong chỉ dùng để làm thuốc chữa bệnh thì được.

 

6. PATTAPIṆḌIKAṄGAṂ

6. Kathaṃ bhojane mattaññutā samādiyati? Ajjatagge loluppaṃ paṭikkhipitvā bhojanamattaññutaṃ samādiyāmi. Ko ānisaṃso bhojane mattaññutāya? Thīnamiddhapanūdanaṃ sammasambuddhānumati ca. Kathaṃ samādānaṃ? Kathaṃ bhedo?

 

6. HẠNH TH THỰC TRONG BÌNH BÁT

6. Thọ trì tánh biết chừng mực về vật thực (hạnh thọ thực trong bình bát) như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi chối từ tánh ham hố và thọ trì tánh biết chừng mực về vật thực. Lợi ích gì trong việc thọ trì tánh biết chừng mực về vật thực? Việc xua đuổi sự dã dượi buồn ngủ và sự đồng ý của đấng Chánh Đẳng Giác. Việc Việc thọ trì như thế nào? Sự hư hoại như thế nào?

 

7. KHALUPACCHĀBHATTIKAṄGAṂ

7. Kathaṃ khalupacchābhattikaṃ samādiyati? Ajjatagge atirittabhojanaṃ paṭikkhipāmi. Khalupacchābhattikaṃ samādiyāmi. Ko ānisaṃso khalupacchābhattike? Pariyesanāya abhāvo. Katividhaṃ khalupacchābhattikaṃ? Duvidhaṃ paricchinnattaṃ aparicchinnattaṃ. Pavāretvā puna bhojanaṃ, kappiyaṃ kāretvā na bhuñjitabbaṃ. Adhiṭṭhitattaṃ ekavīsati kabale niṭṭhite nādhikaṃ bhuñjitabbaṃ.

 

7. HẠNH KHÔNG ĂN VẬT THỰC DÂNG SAU

7. Thọ trì hạnh không ăn vật thực dâng sau như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi chối từ vật thực còn thừa lại, tôi thọ trì hạnh không ăn vật thực dâng sau. Lợi ích gì trong việc thọ trì hạnh không ăn vật thực dâng sau? Không có bản tánh tầm cầu. Hạnh không ăn vật thực dâng sau có bao nhiêu loại? Có hai loại: trạng thái đã được xác định, trạng thái chưa được xác định. Sau khi đã ngăn lại mà có thêm thức ăn nữa, dầu đã cho người làm thành được phép, không nên ăn. Trường hợp đã được phát nguyện, khi hai mươi mốt vắt cơm đã được ăn xong, không nên ăn thêm nữa.

 

8. ĀRAÑÑIKAṄGAṂ

8. Kathaṃ āraññikaṃ samādiyati? Ajjatagge gāmantavihāraṃ paṭikkhipāmi. Āraññikaṃ samādiyāmī ti. Ko araññassa paccanto? Pañca dhanusatikaṃ pacchimaṃ. Kathaṃ samādinnaṃ? Gāmamajjhavihārapaṭikkhepena. Kathaṃ bhedo? Gāmamajjhe vihāravāsena.

 

8. HẠNH SỐNG Ở RỪNG

8. Thọ trì hạnh sống ở rừng như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi chối từ việc cư ngụ ở trong làng, tôi thọ trì hạnh sống ở rừng. Vùng ven rừng là gì? Cách (căn nhà) cuối cùng 500 cây cung (khoảng 1 km). Được thọ trì như thế nào? Với việc chối từ việc cư ngụ ở giữa làng. Sự hư hoại như thế nào? Do việc sống và cư ngụ ở giữa làng.

 

 

9. RUKKHAMŪLIKAṄGAṂ

9. Kathaṃ rukkhamūlikaṃ samādiyati? Ajjatagge channaṃ paṭikkhipāmi. Rukkhamūlavihāraṃ samādiyāmi. Ko ānisaṃso rukkhamūlike? Senāsanamaccherakammārāmatānaṃ abhāvo, devatāhi sahavāsanā. Ke rukkhā sevitabbā? Sambādhadosavirahitā chāyāsampannā rukkhā sevitabbā. Ke rukkhā na sevitabbā? Cetiyarukkhā sadosā sāntarāyikā rukkhā. Kathaṃ samādānaṃ? Channapaṭikkhepena. Kathaṃ bhedo? Channe aruṇuṭṭhāpanenā ti.

 

9. HẠNH NGỤ Ở GỐC CÂY

9. Thọ trì hạnh ngụ ở gốc cây như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi chối từ mái che, tôi thọ trì việc cư ngụ ở gốc cây. Lợi ích gì ở hạnh ngụ ở gốc cây? Không có bản tánh ở sự thích thú công việc và bỏn xẻn chỗ trú ngụ, có sự cộng trú với chư thiên. Những loại cây nào nên lai vãng? Các loại cây có bóng râm, không rậm rạp và không có khuyết điểm. Những loại cây nào không nên lai vãng? Các loại cây là nơi thờ phượng, các loại cây có khuyết điểm, có sự nguy hiểm. Việc thọ trì như thế nào? Với việc chối từ mái che. Sự hư hoại như thế nào? Ở mái che vào lúc mọc lên của hừng đông.

 

10. ABBHOKĀSIKAṄGAṂ

10. Kathaṃ abbhokāsikaṃ samādiyati? Ajjatagge nivāsaṃ na samādiyāmi. Rukkhamūlaṃ ca paṭikkhipāmi abbhokāsikaṃ samādiyāmi. Ko ānisaṃso abbhokāsikassa? Thīnamiddhapanūdanaṃ migā viya nisaṅgatā ca. Kathaṃ samādānaṃ? Channañca rukkhamūlikañca paṭikkhipāmi, abbhokāsikaṃ samādiyāmī ti. Kathaṃ bhedo? Channaṃ vā rukkhamūlaṃ vā paṭiṭṭhe bhedo hoti.

 

10. HẠNH NGỤ Ở NGOÀI TRỜI

10. Thọ trì hạnh ngụ ở ngoài trời như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi không nhận lãnh chỗ ở. Và tôi chối từ gốc cây, tôi thọ trì hạnh ngụ ở ngoài trời. Lợi ích gì đối với hạnh ngụ ở ngoài trời? Việc xua đuổi sự dã dượi buồn ngủ và trạng thái không quyến luyến tựa như các con thú. Việc thọ trì như thế nào? Tôi chối từ mái che và hạnh ngụ ở gốc cây, tôi thọ trì hạnh ngụ ở ngoài trời. Sự hư hoại như thế nào? Khi đã trú ở mái che hoặc gốc cây là sự hư hoại.

 

11. SOSĀNIKAṄGAṂ

11. Kathaṃ sosānikaṃ samādiyati? Ajjatagge na susānaṃ paṭikkhipāmi sosānikaṃ samādiyāmī ti. Ko ānisaṃso sosānikassa samādāne? Maraṇasatiyā paṭilābho, appamādavihāritā, kāmarāgavinodanaṃ, amanussānaṃ garubhāvanīyatā ti. Kathaṃ sosānikaṃ samādinnaṃ hoti? Kattha vasitabbaṃ? Kathaṃ samācaritabbaṃ? Kathaṃ samādinnaṃ hoti? Kathaṃ bhedo?

 

11. HẠNH NGỤ Ở MỘ ĐỊA

11. Thọ trì hạnh ngụ ở mộ địa như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi chối từ nơi không phải là mộ địa, tôi thọ trì hạnh ngụ ở mộ địa. Lợi ích gì trong việc thọ trì hạnh ngụ ở mộ địa? Đạt được lợi ích về niệm sự chết, trạng thái sống không xao lãng, sự xua đuổi ái luyến ở các dục, trạng thái sẽ tạo được sự tôn kính của hàng phi nhân. Hạnh ngụ ở mộ địa được thọ trì như thế nào? Nên cư ngụ ở đâu? Nên thực hành như thế nào? Được thọ trì như thế nào? Sự hư hoại như thế nào?

 

12. YATHĀSANTHATIKAṄGAṂ

12. Kathaṃ yathāsanthatikaṃ samādiyati? Ajjatagge senāsanaloluppaṃ paṭikkhipāmi, yathāsanthatikaṃ samādiyāmī ti. Ko ānisaṃso yathāsanthatike? Kathaṃ samādānaṃ? Kathaṃ bhedo?

 

12. HẠNH NGỤ CHỖ Ở THEO CHỈ ĐỊNH

12. Thọ trì hạnh ngụ chỗ ở theo chỉ định như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi chối từ y sự ham hố về chỗ trú ngụ, tôi thọ trì hạnh ngụ chỗ ở theo chỉ định. Lợi ích gì về hạnh ngụ chỗ ở theo chỉ định? Việc thọ trì như thế nào? Sự hư hoại như thế nào?

 

13. NESAJJIKAṄGAṂ

13. Kathaṃ nesajjikaṃ samādiyati? Ajjatagge seyyaṃ paṭikkhipāmi, nesajjikaṃ samādiyāmī ti. Ko ānisaṃso nesajjike? Jhānaviseso. Kathaṃ samādānaṃ? Kathaṃ bhedo?

 

 

13. HẠNH OAI NGHI NGỒI (KHÔNG NẰM)

13. Thọ trì hạnh oai nghi ngồi (không nằm) như thế nào? Kể từ hôm nay, tôi chối từ việc nằm, tôi thọ trì hạnh oai nghi ngồi (không nằm). Lợi ích gì về hạnh oai nghi ngồi (không nằm)? Có sự tiến bộ về tham thiền. Việc thọ trì như thế nào? Sự hư hoại như thế nào?

 

PAKIṆṆAKAKATHĀ

Kati dhutāni kālapariyantāni? Rukkhamūlikaṃ abbhokāsikaṃ sosānikan ti imāni tīni aṭṭhamāsakālapariyantāni.

 

PHẦN GIẢNG GIẢI LINH TINH

Bao nhiêu hạnh từ khước có giới hạn về thời gian? Hạnh ngụ ở gốc cây, hạnh ngụ ở ngoài trời, hạnh ngụ ở mộ địa, ba hạnh này có giới hạn thời gian là tám tháng.

 

Ko dhuto ca dhutavādo ca?

Dhuto ca dhutavādo ca arahā ca dhutasamannāgato ca.

Dhuto ca nadhutavādo ca arahā dhutaṅgasamādānena pana samannāgato.

 

Na dhuto ca dhutavādo ca sekho ca puthujjano ca dhutasamādānena samannāgato.

 

Na dhuto ca nadhutavādo ca sekho ca puthujjano ca dhutaṅgasamādānena na samannāgato.

 

Vị nào đã từ khước và thuyết về hạnh từ khước?

Bậc A-la-hán và vị đầy đủ các hạnh từ khước là vị đã từ khước và thuyết về hạnh từ khước.

Bậc A-la-hán nhưng không đầy đủ việc thọ trì các hạnh từ khước là vị đã từ khước nhưng không là vị thuyết về hạnh từ khước.

Bậc hữu học và phàm nhân đầy đủ các hạnh từ khước là vị chưa từ khước nhưng là vị thuyết về hạnh từ khước.

Bậc hữu học và phàm nhân không đầy đủ việc thọ trì các hạnh từ khước là vị chưa từ khước và không là vị thuyết về hạnh từ khước.

 

Dhutāni kiṃlakkhaṇāni kiṃrasāni kiṃpaccupaṭṭhānāni?

Appicchatālakkhaṇāni, santuṭṭhirasāni, idamatthitāpaccupaṭṭhānāni. Atha ca nilloluppalakkhaṇāni, anādīnavarasāni, aparihāṇipaccupaṭṭhānāni.

 

Các hạnh từ khước có các tướng trạng gì, các hương vị gì, các sự thành tựu gì?

Trạng thái ít ham muốn là tướng trạng, hoan hỷ là hương vị, trí tuệ là sự thành tựu. Thêm nữa, không ham hố là tướng trạng, không có sự bất lợi là hương vị, không thoái hóa là sự thành tựu.

 

Kāni ādimajjhapariyosānāni? Samādānaṃ ādi, paṭisevanā majjho, somanassaṃ anto ti.

 

Những gì là phần đầu, phần giữa, và phần kết thúc? Sự thọ trì là phần đầu, sự thực hành là phần giữa, hỷ tâm là phần cuối.

 

IV. CATUTTHO SAMĀDHIKACCHO

 

Sīladhutasampannena yogāvacarena parisuddhe santāne samādhibhāvanā ārabhitabbā. Ko samādhi? Kathaṃ samādhi uppādetabbo? Kāni tassa lakkhaṇarasapaccupaṭṭhānapadaṭṭhānāni? Ko puggalo samādahissati? Jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ kiṃ nānākaraṇaṃ?

 

 

Jhānan ti paṭhamajjhānādīni cattāri jhānāni. Vimokkhā ti ajjhattaṃ rūpasaññī bahiddhā rūpāni passatīti ādayo aṭṭha vimokkhā. Samādhī ti savitakkasavicārādayo tayo samādhayo. Samāpattīti nava anupubbā samāpattiyo.

 

 

Kati ānisaṃsā? Cattāro. Diṭṭhidhammasukhavihāritā vipassanāya sukhā kiriyā abhiññā sacchikiriyā bhavasampattī ti.

 

Kati dhammā samādhissa antarāya karā? Aṭṭha dhammā: kāmacchando byāpādo thīnamiddhaṃ uddhaccakukkuccaṃ vicikicchā avijjā pītisukhavirahitatā sabbe ca pāpakā dhammā ti.

 

Kati dhammā samādhissa hetū? Aṭṭha dhammā: samupanissayatā, pabbajjā, pahāṇaṃ nīvaraṇānaṃ, adosa-abhijjhā, avikkhepo, sabbe kusalā dhammā, cittābhippamodakā, sabbe kusalā dhammā dhammañāṇasamuppādakā ca.

 

Kati samādhissa sambhārā? Satta vidhā. Anekavihitaṃ sīlaṃ, santuṭṭhitā, indriyesu guttadvāratā, bhojane mattaññutā, rattiyā paṭhame majjhime pacchime yāme amiddhitā, niccaṃ satisampajaññaṃ pavivekavihāro ca.

 

 

Katividho samādhi? Duvidho: lokuttaro ariyaphalena samadhigato, lokiyo seso. Ayaṃ lokiyo samādhi sāsavo saṃyojanīyo, ganthanīyo, saṅkilesiko, vuttavipariyayena lokuttaro. Micchā samādhi akusalacittekaggatā, bhāvetabbo vā sammā samādhi kusalacittekaggatā, bhāvetabbo vā samādhi upacārasamādhi. Tassa tassa jhānassa pubbabhāgo pavatto appaṇāsamādhi gotrabhū-anantaraparikammānantaro.

 

 

Tividhaṃ savitakka-savicāro—paṭhamaṃ jhānaṃ, avitakka-parittavicāro—dutiyaṃ jhānaṃ, avitakka-avicāro—sesajjhānāni. Pītiyā saha uppannaṃ paṭhamajjhānaṃ ca dutiyajjhānaṃ ca sukhena saha uppannaṃ tatiyajhānaṃ upekkhāya saha uppannaṃ catutthajjhānaṃ. Kusala-ariyamaggā sekhehi ca puthujjanehi ca bhāvitā; rūpāvacara-arūpāvacara-samādhi ca vipāko ariyaphalaṃ sekhehi ca puthujjanehi ca uppāditā, rūpārūpāvacaradhātu ca kiriyā asekhena samāpanno rūpārūpāvacara-samādhi.

 

Catubbidho—kāmāvacaro tena tena āciṇṇo samāpatti ācāro, rūpāvacaro cattāri jhānāni, arūpāvacaro cattāro arūpācavarasamādhayo kusala kammavipākā ca, apariyāpanno cattāro maggā ca cattāri phalāni ca.

 

 

 

Dukkhā paṭipadā dandhābhiññā, dukkhā paṭipadā khippābhiññā, sukhā paṭipadā dandhābhiññā, sukhā paṭipadā khippābhiññā ti. Paritto samādhi parittārammaṇo, paritto samādhi appamāṇārammaṇo, appamāṇo samādhi parittārammaṇo, appamāṇo samādhi appamāṇārammaṇo. Chandasamādhi viriyasamādhi cittasamādhi vīmaṃsā samādhivasena ca.

 

IV. PHẦN THUYẾT VỀ ĐỊNH – THỨ TƯ

 

Với vị hành giả đã được thành tựu về giới và phận sự, khi có trạng thái thanh tịnh thì sự tu tập về định nên được tiến hành. Định là gì? Định sẽ được làm cho sanh khởi như thế nào? Những gì là tướng trạng (của định), hương vị (của định), thành tựu (của định), chỗ tựa (của định)? Người nào sẽ tu tập định? Điều gì là việc làm khác biệt giữa thiền, giải thoát, định, và sự thể nhập?

 

Thiền: là bốn thiền: đầu tiên là sơ thiền, … Giải thoát: là tám giải thoát, đầu tiên là “vị có sắc tưởng ở bên trong nhìn thấy các sắc ở bên ngoài,” … Định: có ba loại định, đầu tiên là định có tầm có tứ, … Sự thể nhập: là chín sự thể nhập theo tuần tự.

 

Có bao nhiêu lợi ích? Có bốn: trạng trái an trú lạc trong hiện tại, sự thực hành an lạc của minh sát, sự chứng đạt về thắng trí (thần thông), sự thể nhập cõi hữu (sắc giới).

 

Có bao nhiêu pháp tạo ra sự chướng ngại cho định? Có tám pháp: mong muốn về (ngũ) dục, bất bình, dã dượi buồn ngủ, phóng dật và hối hận, hoài nghi, không hiểu biết (avijjā), trạng thái không có hỷ lạc, và tất cả các ác pháp.

 

Có bao nhiêu pháp là nhân của định? Có tám pháp: trạng thái đầy đủ tiêu chuẩn, việc xuất gia, sự dứt bỏ các pháp che lấp, không sân và không tham đắm, không xao lãng, tất cả các thiện pháp, sự thỏa thích ở tâm, và tất cả các thiện pháp làm sanh khởi trí về các pháp.

 

Có bao nhiêu điều kiện của định? Có bảy thành phần: Giới được chuyên chú nhiều, trạng thái hoan hỷ tự thân, trạng thái cửa vào ở các căn đã được canh giữ, trạng thái biết chừng mực ở vật thực, trạng thái không có buồn ngủ ở canh đầu canh giữa và canh cuối của đêm, thường xuyên có niệm và sự nhận biết rõ, và sự cư trú tách biệt.

 

Có bao nhiêu loại định? Có hai loại: (định) xuất thế là đạt được định cùng với Thánh quả, (định) hiệp thế là phần còn lại. Định hiệp thế này có lậu hoặc, có sự ràng buộc, có sự trói buộc, có phiền não; với việc đảo ngược lại điều đã được nói là (định) xuất thế. Tà định là trạng thái chuyên nhất của tâm bất thiện, nên tu tập chánh định là trạng thái chuyên nhất của tâm thiện, hoặc nên tu tập định và cận định. Phần khởi động ban đầu của chính định ấy là an chi định, không bị gián đoạn do việc chuyển tộc và không bị gián đoạn do việc chuẩn bị.

 

Ba loại: (định) có tầm có tứ là sơ thiền, (định) không tầm thiểu tứ là nhị thiền, (định) không tầm không tứ là các thiền còn lại. Sơ thiền và nhị thiền được sanh lên với hỷ, tam thiền được sanh lên với lạc, tứ thiền được sanh lên với xả. Các Thánh-Đạo tốt lành được tu tập bởi các phàm nhân và các bậc hữu học, định sắc giới-vô sắc giới có sự thành tựu là Thánh Quả được làm cho phát sanh bởi các phàm nhân và các bậc hữu học, định sắc giới-vô sắc giới là hành động có bản thể của sắc giới-vô sắc giới được chứng đạt bởi bậc Vô Học.

 

Có bốn loại: (định) dục giới là sự đạt được, là hành vi được thực hiện với cái này cái khác, (định) sắc giới là bốn tầng thiền, (định) vô sắc giới là bốn định vô sắc giới và các quả thành tựu của nghiệp thiện, (định) không được tính là bốn Đạo và bốn Quả.

 

Thực hành khổ thắng trí chậm, thực hành khổ thắng trí nhanh, thực hành lạc thắng trí chậm, thực hành lạc thắng trí nhanh. Định nhỏ cảnh nhỏ, định nhỏ cảnh vô lượng, định vô lượng cảnh nhỏ, định vô lượng cảnh vô lượng. Định do mong muốn, định do tinh tấn, định do tâm, định do suy xét.

 

Atthi samādhi buddhehi samadhigato no sāvakehi mahākaruṇā samādhi yamakapāṭihāriyasamādhi ca, atthi samādhi sāvakehi samadhigato no buddhehi sekhaphalasamādhi, atthi samādhi sāvakehi samadhigato buddhehi ca navānupubbā samādhi asekhaphalasamādhi ca, atthi samādhi neva buddhehi samadhigato na sāvakehi ca asaññī samādhi.

 

Atthi samādhi uppādāya na nirodhāya kāmāvacare kusalo akusalo samādhi, atthi samādhi nirodhāya na uppādāya catu ariyamaggasamādhi, atthi samādhi uppādāya ceva nirodhāya ca sekhaputhujjanānaṃ rūpārūpāvacarakusalasamādhi, atthi samādhi neva uppādāya na nirodhāya ca sabbaphalasamādhiyo kiriyasamādhi ca paṭhamajjhānaṃ dutiyajjhānaṃ tatiyajjhānaṃ catutthajjhānanti ca.

 

Có loại định được chứng đạt bởi chư Phật không bởi các vị thinh văn là định đại bi và dịnh song thông. Có loại định được chứng đạt bởi các vị thinh văn không bởi chư Phật là định của Quả hữu học. Có loại định được chứng đạt bởi các vị thinh văn và bởi chư Phật là chín tuần tự định và định của Quả vô học. Có loại định không được chứng đạt bởi chư Phật và cũng không bởi các vị thinh văn là định vô tưởng.

 

Có loại định đưa đến sanh không đưa đến diệt là định thiện (hoặc) bất thiện ở dục giới, có loại định đưa đến diệt không đưa đến sanh là bốn định của Thánh Đạo, có loại định đưa đến sanh và còn đưa đến diệt là định của sắc và vô sắc giới thiện của các bậc hữu học và các phàm nhân, có loại định không đưa đến sanh và cũng không đưa đến diệt là tất cả các định của Quả và dịnh ở hành động là sơ thiền nhị thiền tam thiền và tứ thiền.

 

Pañca vidho pañcamajjhānavasena. Pañcaṅgasamādhi — pañcaṅgikasammāsamādhi pītipharaṇatā paṭhame jhāne dutiye jhāne ca, sukhapharaṇatā tīsu jhānesu, cetopharaṇatā paracittaviññāṇe, ālokapharaṇatā dibbacakkhu-abhiññāya, paccavekkhaṇa-saññā tamhā tamhā samādhimhā vuṭṭhitassa paccavekkhaṇā ñāṇā.

 

 

Pañcaṅgikasamādhi — Ayaṃ samādhi paccuppannasukho ceva āyatiṃ ca sukhavipākoti paccattaṃ yeva ñāṇaṃ uppajjati, ayaṃ samādhi ariyo nirāmisoti, ayaṃ samādhi sappaññehi mahāpurisehi sevito paṭisevito, ayaṃ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhi laddho ekodibhāvādhigato, imaṃ samādhiṃ satova samāpajjati imamhā samādhimhā satova vuṭṭhahatīti paccattaṃ yeva ñāṇaṃ uppajjati.

 

Có năm loại về phương diện ngũ thiền. Định năm chi phần — Chánh định năm chi phần: sự lan tỏa của hỷ ở sơ thiền và nhị thiền, sự lan tỏa của lạc ở ba tầng thiền, sự lan tỏa của tâm ở sự nhận biết tâm của người khác, sự lan tỏa của ánh sáng do thiên nhãn thông, tưởng quán xét lại của vị đã xuất ra khỏi định này định khác là trí quán xét lại.

 

Định năm chi phần — Định này có lạc hiện tại và luôn cả vị lai và trí sanh lên riêng cho mỗi cá nhân rằng ‘có quả báu lạc;’ định này là thánh thiện ‘không liên hệ vật chất;’ định này được phục vụ, được thân cận bởi các bậc đại nhân có tuệ; định này an tịnh, cao quý, tịch tịnh, được thâu vào, được đạt đến trạng thái chuyên nhất; trí sanh khởi riêng mỗi cá nhân rằng: ‘vị thể nhập định này ắt hẳn có niệm, xuất khỏi định này ắt hẳn có niệm,’

 

V. PAÑCAMO KACCHO

 

KALYĀṆAMITTAPARIYESANĀ

 

Samādhiṃ bhāvetukāmena ādikammikena tādiso kalyāṇamitto pariyesitabbo. Ko paramakalyāṇa-mitto? Cheko dhammavinayo, kusalo kammakusalajjhānābhiññāsu saccesu, sattaṅga-samannāgato:

 

V. PHẦN THUYẾT THỨ NĂM

SỰ TẦM CẦU BẠN TỐT

29/10/2013: Pariyesanā (f) sự tìm kiếm
25/10/2013: Mitta (m) người bạn

Piyo ca garu bhāvanīyo — vattā ca vacanakkhamo,

gambhīrañca kathaṃ kattā — no caṭṭhāne nivesaye.

 

 
Kathaṃ pariyesitabbo? Uṭṭhāna-upaṭṭhānasussusā pāricariyādīhi vattehī ti.

 

 

VI. CHAṬṬHO KACCHO

 

CARIYĀVIBHĀGO

 

Tathāvuttena kalyāṇamittenācariyena kammaṭṭhānadāyakena antevāsikānaṃ cariyānurūpaṃ kammaṭṭhānaṃ uggaṇhāpetabbanti vuttattā cariyāvibhāvanamtra kātabbaṃ cuddasacariyā: rāgacariyā, dosacariyā, mohacariyā, buddhicariyā, vitakkacariyā, ragadosacariyā, ragamohacariyā, dosamohacariyā, rāgadosamohasamabhāgacariyā, saddhābuddhicariyā, buddhivitakkacariyā, saddhābuddhivitakkasamabhāgacariyā ti. Atha ca taṇhādiṭṭhi mānādayo apare pi tisso cariyāyo. Rāgacariyā dosacariyā mohacariyā ti mūlakilesavasena tisso, etā tisso cariyā kinnidānā? Pubbāciṇṇatānidānā. Pubbe kira ittappayogasubhakammabahulo dhātunidānā semhādhiko rāgacarito, pittādhiko dosacarito vātādhito mohacarito athavā semhādhiko mohacarito vātādhiko rāgacaritoti kathaṃ jānitabbo ayaṃ puggalo rāgacarito ayaṃ dosacarito ayaṃ mohacarito ti sattadhā veditabbaṃ, ārammaṇadassanādito, kilesatodhammappavattito, gamanato cīvarapārupaṇato, bhojanato, kiccato, seyyādito iriyāpathato. Kathaṃ assa senāsanaṃ gocaro iriyāpatho ca cīvarasamādānaṃ, nivāsanapārupaṇaṃ, ārammanaṃ, bhojanāhārā, yāgubhattakhajjakādīnaṃ. Gocaroti bhikkhācāramaggabhikkhācāragāmo, rāgacarito pubbaṃ disaṃ dosacarito pacchimaṃ, mohacarito. Yathādisaṃ gāmaṃ carati. Iriyāpatho ti rāgacarito dāso viya. Dosacarito adhipati viya. Mohacarito visaṃ viya.

 

VI. PHẦN THUYẾT THỨ SÁU

PHÂN LOẠI CÁC TÁNH

VII. SATTAMO KACCHO

 

KAMMAṬṬHĀNĀNI

 

Viññātacariyaṃ attano antevāsikaṃ ācariyena aṭṭhatiṃsa ārammaṇabhūtāni kammaṭṭhānāni paguṇāni kāretabbāni. Tassa cariyānukūlavasena manasikārapaṭibaddhaduvidhaviññāṇakammaṭṭhānipi uggaṇhāpetabbāni. Kamatm aṭṭhatiṃsa kammaṭṭhānā?

 

VII. PHẦN THUYẾT THỨ BẢY

CÁC ĐỀ MỤC THAM THIỀN

Dasa kasiṇā: paṭhavī, āpo, tejo, vāyo, nīlaṃ, pītaṃ, lohitaṃ, odātaṃ, ākāsāyatanaṃ, viññāṇāyatananti. Dasa asubhā: uddhumātakaṃ, vinīlakaṃ, vipubbakaṃ, vicchiddakaṃ, vikkhāyitakaṃ, vikkhittakaṃ, hitavikkhittakaṃ, lohitakaṃ, pulavakaṃ, aṭṭhikanti. Dasa anussatiyo: buddhānussati, dhammānussati, saṅghānussati, sīlānussati, cāgānussati, devatānussati, maraṇasati, kāyagatāsati, ānāpānasati, upasamānussatīti. Cattāri appamāṇacittāni atha vā catasso appamaññāyo mettā karuṇā muditā uppekkhāti. Catudhātuvavatthānaṃ. Āhāre paṭikkūlasaññā, ākiñcaññāyatanaṃ, nevasaññānāsaññāyatananti viññātakammaṭṭhānena ādikammikena sabbapaṭhamaṃ imesu aṭṭhatiṃsavidhesu ārammaṇesu cattālīsavidhesu kammaṭṭhānesu navahākārehi paguṇaṃ kātabbaṃ. Katamehi navahi? Saṅkhātaniddesato upacārappaṇāvahato jhānappabhedato catukkapañcakajhānato samatikkamato rūpasamatikkama-ārammaṇa-samatikkamasaññāvedanāsamatikkama-vaḍḍhanāvaḍḍhanato paccayato, ārammaṇato, paṭibhāgārammaṇāni, sabhāvadhammārammaṇāni paṭibhāgārammaṇāni sabhāvārammaṇānīti vā na vattabbāni visesato suññato bhūmito gahaṇato.

 

 

 

——

Bản Dịch tiếp tục được cập nhật ở đường link sau đây:

http://www.paliviet.info/VHoc/64-Vimuttimagga/VHoc_64PV01.htm



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s