– MN 007 – Kinh Ví Dụ Tấm Vải

Kinh MN 007 – Kinh Ví Dụ Tấm Vải (Vatthùpama sutta)

I.  BẢN KNH MN 007

1.  Bản tiếng Việt của HT. Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung07.htm

2.  Bản tiếng Anh của Bhikkhu Nyanaponika Thera

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.007.nypo.html

3.  Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/007.htm

 

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO cho bài kinh MN 007

1.  Giảng kinh Ví Dụ Tấm Vải – H.T. Thích Minh Châu

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75_4-5582_5-50_6-2_17-396_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

2.  Giảng kinh Ví Dụ Tấm Vải – Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-007.htm

3.  Toát yếu kinh Trung Bộ – Thích nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm

4.  Giảng kinh Ví Dụ Tấm Vải – Thích Nhật Từ

http://www.google.com.vn/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=4&ved=0CFUQFjAD&url=http%3A%2F%2Fvbu.edu.vn%2Fapplication%2Fuploads%2Fsubjects%2Fgiaotrinhhk2%2Fkinh%2520trung%2520bo%2F%2F07-%2520kinh%2520vi%2520du%2520tam%2520vai%2520-%2520ban%2520hoc%2520vien.doc&ei=wtLyT5fOFc6jiQen_sGjCQ&usg=AFQjCNEJ9I08BgTZpze8gwGcoZ64zFD6VA&sig2=aTKY78zicMXCYp3GzVyKDA

5.  Tu Tập bốn phạm trú và bốn thiền bảo hộ – Sayadaw Pa Auk

http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/BietVaThay/BVT3.htm

6.  Kinh Thủy Tinh Phạm Chí (Trung A Hàm) – Thích Tuệ Sỹ dịch từ Hán ra Việt

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham093.htm

 

III. THẢO LUẬN

Chua Nhu Phap Hình ảnh ẩn dụ được Đức Thế Tôn vận dụng vào phương pháp giáo dụng mang tính sư phạm rất cao của một nhà truyền giáo. Bởi nó rất gần gũi, dễ cảm nhận, dễ hiểu và linh hoạt theo từng đối tượng đón nhận giáo pháp. Thật Ngài là Bậc Devamanussaanam.

Hiếu Nguyễn Ớ… MN006 chưa xong mà chú PD :D

Phạm Doãn

Học nhanh lên Hiếu Nguyễn và mọi người :P . Sống thì phải “sống chậm”. Học thì phải “học nhanh”. Có tổng cộng đến 152 bài Trung Bộ đó, nhiều lắm!!!. Đối với tất cả các bài cũ, ai muốn quay lại (để thảo luận) bất cứ lúc nào cũng vẫn được. Bài này sẽ bổ sung kiến thức cho bài kia!

Hiếu Nguyễn

Vâng ạ, con có đặt câu hỏi về Pali nhưng chưa được ai giải đáp. Chắc cũng phải lần mò học tự Pali thêm thôi…

Hạnh Trương

Bài kinh này có nhiều thứ cực kỳ đáng để ý, đề nghị đi chầm chậm và kêu gọi thêm lực lượng đi ạ, hihi.

Bhikkhu Indacandato  ‎Hạnh Trương

nhát ma giữa ban ngày, không ai sợ đâu. Có bản dịch của accesstoinght và của Bhikkhu Bodhi giải quyết rồi. Một vài điểm không rõ chỉ có thể giải quyết bằng Advanced Pali thì cũng bổn cũ soạn lại: Hãy đợi đấy! Hì hì.

Hiếu Nguyễn

He he ngoài bản dịch ra, cần thảo luận nữa ạ, để các cao thủ lộ võ ra cho thiên hạ học hỏi Sư ơi. Còn lại hiểu xong rồi “ém hàng” thì buồn lắm ạ :D

Hạnh Trương

Chưa sợ ạ, tại chưa nêu ra thôi ạ, nêu ra là sợ phát khiếp cho mà xem, đợi nhá nhem con sẽ đem ra dọa, hehe

Bhikkhu Indacanda to ‎Hiếu Nguyễn

nóng tính quá. Sư đang tìm cách điều chỉnh thị trường của Pali Chuyên Đề mà. Nếu cứ để Bhikkhu Indacanda làm thương mãi độc quyền là tiêu khách hàng. Phải có vài thương hiệu cùng hoạt động thì mới tốt.

Hạnh Trương

Cái này trong kinh tế gọi là “độc quyền tự nhiên”, Sư cứ yên tâm mà “mần”, hihi.

Phạm Doãn

Đoạn đầu của bài kinh MN 007 có liệt kê 16 “tâm cấu uế”
(The Sixteen Defilements of Mind)

1. abhijjha-visama-lobha, covetousness and unrighteous greed
Tham dục – Tà tham

2. byapada, ill will
Sân

3. kodha, anger
Phẫn

4. upanaha, hostility or malice
Hận

5. makkha, denigration or detraction; contempt
Hư Ngụy

6. palasa, domineering or presumption
Não Hại

7. issa, envy
Tật Đố

8. macchariya, jealousy, or avarice; selfishness
Xan Tham

9. maya, hypocrisy or deceit
Man Trá

10. satheyya, fraud
Khi Cuống

11. thambha, obstinacy, obduracy
Ngoan Cố

12. sarambha, presumption or rivalry; impetuosity
Cấp Tháo

13. mana, conceit
Mạn

14. atimana, arrogance, haughtiness
Qúa Mạn

15. mada, vanity or pride
Kiêu

16. pamada, negligence or heedlessness; in social behavior, this leads to lack of consideration.
Phóng Dật

Phạm Doãn

‎- Chắc các Sư trên Pali CĐ sẽ từ từ giảng dạy các chữ Pali về 16 “Tâm Cấu Uế”
– Bhikkhu Thanissaro đã dịch các từ tiếng Anh tương đương Pali
– H.T. Minh Châu đã dịch các từ tiếng Việt tương đương với Pali.
Tuy nhiên còn có các từ tiếng Việt khó hiểu, không thông dụng
Ví dụ: “Xan Tham”, “Khí Cuống”, “Cấp Tháo”, “Quá Mạn”

Phạm Doãn

Sư Tuệ Nguyễn giải thích:
– khi = dối lừa – tự dối lòng / cuống = nói láo (tự điển Đào Duy Anh)
– Cấp = mau gấp, khẩn thiết/ tháo = cái chí của mình
(các comment đã được chuyển đến đây)

Phạm Doãn

Con thấy thầy Minh Châu đã cố gắng “thuần Việt hóa” các bản dịch rồi. Từ “Kinh Bố Dụ” (thực là khó hiểu) đã được sửa là “Kinh Ví dụ tấm vải” (ai cũng hiểu). Nay bài kinh còn sót những từ Hán Việt như “khi cuống”, “cấp tháo” xin mọi người tiếp tục giúp “thuần Việt hóa” giùm.

Su Nguyentue

12. [sa+ārambha] involving killing or danger to living creatures Vin.III,149; A.II,42 sq. Cp. samārambha. (Page 706)。

Su Nguyentue

Sārambha
,1 [=saṁrambha] 1. impetuosity, anger A.I,100, 299; II,193; M.I,16; Dh.133; J.IV,26; Miln.289 (sasaṁrambha). — 2. quarrel Sn.483; J.II,223; V,141. ‹-› 3. pride Th.1, 759; VvA.139.
(có nên chăng dịch chữ này là BỐC ĐỒNG???)

Bốc đồng = đột nhiên hăng hái, sôi nổi lên quá mức trong chốc lát.

Phạm Doãn

Dạ trong đời thường gọi là “bốc đồng’ đó sư ạ. Còn zăn chương hơn chút thì có thể gọi là hành động “nông nổi”!

Phạm Doãn

Dùng chữ gì thì dùng, chứ dùng chữ “cấp tháo” thì …khó hiểu quá!

Su Nguyentue

‎4- Upanāha [fr. upa + nah, see upanayhati, same in BSk.; e. g. at M Vastu II.56.] ill-will, grudge, enmity M.I,15; A.I,91, 95, 299; IV,148, 349, 456; V,39, 41 sq., 209, 310; Pug.18 = Vbh.357 (pubbakālaṁ kodho aparakālaṁ upanāho Miln.289. (Page 143)。(OÁN)???

Oán = Giận hờn, thù hằn

‎5- makkha = parehi kataguṇaṃ makkheti pīsatīti makkho. guṇadhaṃsanā. nīti, dhā. 284. = depreciation of another’s worth. chà đạp, bôi nhọ lên nhân phẩm của người khác

‎1 [fr. mṛkṣ, lit. smearing over. Cp. BSk. mṛakṣa Śikṣ 198. 8, in cpd. māna-mada-mṛakṣa-paridāha etc.] hypocrisy; (đạo đức giả)/

Hư ngụy = dối trá (từ điển Đào Duy Anh)

6- palāsa = unmercifulness, malice; spite. (HIỂM)???

7. Hiểm = tính tình tham độc

‎8. macchariya, jealousy, or avarice; selfishness/ selfishness, envy, churlishness。
hạ tiện, bỏn xẻn, keo cú, bủn xỉn.

‎9. māyā = [f.] fraud; deceit; magic; jugglery.。Man trá = giả dối, đánh lừa

‎10. sāṭheyya = Craft, treachery// mưu mô, dối trá, lọc lừa, gian xảo

‎14. atimana, arrogance, haughtiness
Qúa Mạn/ có thể dịch là Cao Mạn hoặc Kiêu Mạn hoặc Ngạo mạn???

‎15. mada =  ‘infatuation’. “Infatuation is of 3 kinds: youth-infatuation, health-infatuation, life-infatuation” (D. 33). “Infatuated by youth-infatuation, by health-infatuation and by life-infatuation, the ignorant worldling pursues an evil course in bodily actions, speech and thought, and thereby, at the dissolution of the body, after death, passes to a lower world, to a woeful course of existence, to a state of suffering and hell” /// kiêu hãnh về tuổi trẻ; kiêu hãnh về sức khỏe; kiêu hãnh về sanh chủng, giòng dõi… / bọn này cũng thuộc tông đồ nhà “mạn” phải chăng?

‎16. pamada, negligence or heedlessness; in social behavior, this leads to lack of consideration.
Phóng Dật/ Bất Cẩn/ Xao Lãng???

Hoa Nguyen

Theo bài kinh “Ví Dụ Tấm Vải” (bản Pali) có 16 cấu uế của tâm, hay 16 bất thiện pháp, có thể chia làm các nhóm như sau :

– tham, sân, phẫn, hận,
– hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham,
– man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo,
– mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật.
Trích kinh:
“Tỳ kheo nào biết được những cấu uế của tâm để diệt trừ, vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối nơi Phật, Pháp, thánh chúng. Nơi vị ấy có sự từ bỏ, diệt trừ, giải thoát, xả ly, chứng được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, được sự hân hoan liên hệ đến Pháp. Do hân hoan, có hỷ, do hỷ có khinh an, do khinh an có lạc, do lạc có định. Một vị tỳ kheo có giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy… vị ấy có thể tu tập các phạm trú từ bi hỷ xả, tu các thiền định, đạt đến tâm giải thoát tuệ giải thoát của bậc A la hán. Tỳ kheo ấy được gọi là đã tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm”.

Diệt trừ cấu uế của tâm tức là Ly Ác pháp Phật thường giảng khi dạy Tứ Thiền.
Dựa vào bản kinh có hai giai đoạn tu chứng:
a) Giai đoạn đầu là tẩy sạch các tâm cấu uế
b) Tiếp theo, “nhờ tâm tịnh mà thấy rõ mục tiêu phạm hạnh và thấy rõ sự thật của vạn hữu; từ thành tụu này, hành giả phát khởi lòng tin bất thối vào ngôi Tam bảo; từ tín, hân hoan sinh, hỷ sinh, khinh an sinh, định sinh. Tại đây, ở đệ tứ Sắc định, hành giả hành Tứ vô lượng tâm, vượt qua hết thảy các ngã tưởng, lần lượt đoạn trừ dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, thành tựu phạm hạnh”. (trích kinh)

Con đường tu tập ở đây có thể tóm lược:
Ly bất thiện pháp -> (tâm nghi bị loại trừ, tín tâm nơi Phật, Pháp, Tăng) -> (hân hoan -> lạc) -> Tứ Thiền -> Tứ vô lượng tâm (quán tâm Từ, Bi, Xỷ, Xả) -> Tâm, Tuệ giải thoát.

Điều mới lạ được nêu ở đây là sau Tứ Thiền, các Tỳ kheo tu thêm Tứ Vô lượng tâm (Brahma-vihara), mà theo HT Chơn Thiện rất ít thấy nói trong các kinh Nikaya. Gồm có:
– Từ vô lượng: Mettà (Friendliness): mong cho tất cả chúng sinh hạnh phúc.
– Bi vô lượng: Karunà (Compassion): quan tâm đến nỗi khổ đau của chúng sinh.
– Hỷ vô luợng: Mudità (Sympathetic joy): vui vẻ đối với sự thành đạt hạnh phúc của chúng sinh.
– Xả vô lượng: Upekkha (Equanimity): nhìn vạn hữu với tâm chính xác, vô tư, không thiên vị.
Nhưng pháp Thiền Tứ Vô lượng tâm cũng có trong đạo Bà-La-môn (hay (Yoga). Ở đây khi Phật nêu lên TVLT có thể vì thích hợp cho người nghe Pháp lần đó (là một bà la môn).
—————
So sánh với kinh Trung A Hàm của Nhất Thiết Hữu bộ (do anh Phạm Doãn giới thiệu link) thì ở kinh này kê ra 21 cấu uế. Trích kinh Thuỷ Tịnh Phạm chí:

“Những gì là hai mươi mốt thứ ô uế? Đó là, tâm uế do tà kiến, tâm uế do phi pháp dục, tâm uế do ác tham, tâm uế do tà pháp, tâm uế do tham, tâm uế do nhuế, tâm uế do thụy miên, tâm uế do trạo cử hối quá, tâm uế do nghi hoặc, tâm uế do sân triền, tâm uế do phú tàng, tâm uế do xan tham, tâm uế do tật đố, tâm uế do khi trá, tâm uế do dua siểm, tâm uế do vô tàm, tâm uế do vô quý, tâm uế do mạn, tâm uế do đại mạn, tâm uế do ngạo mạn, tâm uế do phóng dật .
“Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế này làm ô uế tâm thì chắc chắn đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục
Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế này mà không làm ô uế tâm thì chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời”.

Theo kinh, tẩy sạch các cấu uế trên là điều kiện để sinh Thiên (để có thể vào Tứ Thiền, nhưng chưa giải thoát).

Trong kinh Thuỷ Tịnh Phạm chí (Trung A-Hàm) chỉ nói tới tâm Từ (không ghi đủ 4 vô lượng tâm)
“Tâm của vị ấy cùng đi đôi với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Như vậy, cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, tứ duy, trên dưới, trùm khắp tất cả cùng đi đôi với lòng từ, không kết, không oán, không giận, không tranh, rộng rãi bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ.

Nhưng cũng nhấn mạnh ý nghịa tẩy cấu uế nội tâm : “Này Phạm chí, đó là phương pháp gột rửa nội tâm chứ không phải gột rửa ngoại thân”.

Trong bản tiếng Anh, ở câu 12 ghi đủ các tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả (brahma-vihara). :
12. “He abides, having suffused with a mind of loving-kindness[12
“He abides, having suffused with a mind of compassion…of sympathetic joy…of equanimity

Bài kệ trong kinh Trung A Hàm dài hơn (nếu ai có thời gian nên đọc cả hai bài kệ trong hai bản kinh vì cấu trúc và ý nghĩa rất hay).

Bhikkhu Indacanda XIN HỎI:
– vì tấm vải không được trong sạch
– vì trạng thái không được trong sạch của tấm vải
CÓ GÌ KHÁC BIẾT VỀ Ý NGHĨA, VỀ SỰ MÔ TẢ CỦA 2 CÂU NÀY KHÔNG? (Ngữ cảnh là ví dụ của bài Kinh này)

Từ Minh

Ở cấu uế thứ 16: pamāda – phóng dật và uddhacca cũng dịch: phóng dật. Theo con hiểu thì pamāda trong bài kinh này không mang nghĩa uddhacca. Uddhacca là một pháp bản thể không thể thiếu trong những tâm xấu, còn pamāda là một tật, tánh xấu có thể nhờ tu tập mà có thể cải đổi. Con thấy có một từ rất hay cho pamāda là “dễ duôi”. Chỉ ý kiến cá nhân.

Bhikkhu Indacanda

Evameva kho bhikkhave citte asaṃkiliṭṭhe sugati pāṭikaṅkhā.
– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế. (HT. Thích Minh Châu)
– So too, monks, when the mind is defiled, an unhappy destination [in a future existence] may be expected.(Ven Nyanaponika Thera)
– So too, when the mind is defiled, an unhappy destination may be expected. (Ven Bhikkhu Bodhi)

Bhikkhu Indacanda

(72) … pajahati = … đoạn trừ… = … abandons … = … abandons … (theo thứ tự trích dẫn ở trên)

Bhikkhu Indacanda

‎75. Yathodhi kho panassa cattaṃ hoti vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭhaṃ. So “Buddhe aveccappasādena samannāgatomhī”ti labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati.

Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.

9. “When he has given up, renounced, let go, abandoned and relinquished [the defilements] in part, he knows: ‘I am endowed with unwavering confidence in the Buddha… in the Dhamma… in the Sangha; and he gains enthusiasm for the goal, gains enthusiasm for the Dhamma,[8] gains gladness connected with the Dhamma. When he is gladdened, joy is born in him; being joyous in mind, his body becomes tranquil; his body being tranquil, he feels happiness; and the mind of him who is happy becomes concentrated.[9]

“When he has given up, expelled, released, abandoned, and relinquished [the imperfections of the mind] in part, he considers thus: ‘I am possessed of perfect confidence in the Buddha,’ and he gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains gladness connected with the Dhamma. When he is glad, rapture is born in him; in one who is rapturous, the body becomes tranquil; one whose body is tranquil feels pleasure; in one who feels pleasure, the mind becomes concentrated.

Bhikkhu Indacanda ‎to Hạnh Trương

“khoái” bài Kinh này là phải rồi! Hì hì! “Vị ấy như vầy … rồi như vầy … như vầy … rồi như vầy… Và mình cũng như vầy … rồi như vầy…. Ủa mấy cái như vầy ở phần sau sao không thấy ??? CHẤM HẾT.

Hạnh Trương

Sư Indacanda: <<XIN HỎI:
– vì tấm vải không được trong sạch
– vì trạng thái không được trong sạch của tấm vải
CÓ GÌ KHÁC BIẾT VỀ Ý NGHĨA, VỀ SỰ MÔ TẢ CỦA 2 CÂU NÀY KHÔNG? (Ngữ cảnh là ví dụ của bài Kinh này)>>
Con có mấy ý thế này:
1.
Tiếng Việt khi dùng ” tấm vải này không được trong sạch” thì nó có nghĩa là “tấm vải này được kiếm được, được lấy về, bằng cách nào đó không được trong sạch”
còn muốn nói về tình trạng của tấm vải thì người ta chỉ nói ” tấm vải sạch, hay bẩn”
2.
Hai câu của Sư dẫn ra có khác nhau , dù rất ít,
– “vì tấm vải không được sạch” : Chỉ là một kết luận
– “vì trạng thái không được sạch của tấm vải”, cũng là kết luận nhưng để ngỏ, gợi ý là có thể, hoặc nên được làm cho sạch.
Ở ngữ cảnh của bài kinh, theo con nên dùng câu thứ hai.

Hạnh Trương : Ngài Indacanda lại “muốn” gì đây, hihi

Bhikkhu Indacanda

Nghiên cứu Pali (Sanskrit và Hindi) thì thấy rằng những lối diễn tả tư tưởng của họ rất gần với bản thể của sự thật. Phải chăng những lối tư duy như vậy giúp cho họ dễ tiến bộ trên con đường tâm linh??? Nếu cứ khăng khăng đòi hỏi phải viết như thế này, phải viết như thế kia thì mới đúng là tiếng Việt, cho giống tiếng Việt, thì những nét đặc thù trên sẽ bị che lấp. Còn rất nhiều ví dụ khác nữa, Bà Con Cô Bác nào muốn biết thì RÁNG MÀ NGHIÊN CỨU PĀLI ĐI. Muốn ăn thì phải lăn vô bếp. Hì hì.

Hạnh Trương Bài kinh này mà không thích mới lạ, nó có vài điểm đáng chú ý và nếu bỏ qua ví dụ về tấm vải thì sẽ không hiểu được, đó là dường như có sự mâu thuẫn khi để tứ vô lượng tâm áp chót.
Phải nói là đức Phật siêu hạng, hihi

Hiếu Nguyễn

Quá trình diệt trừ cấu uế được miêu tả kỹ như sau ạ:
1. Vị ấy NGHĨ RĂNG “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm”
2. Và sau khi BIẾT vậy, vị ấy ĐOẠN TRỪ tham dục, tà tham cấu uế của tâm
3. Khi nào Tỷ-kheo BIẾT được: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm”, tham dục, tà tham cấu uế của tâm được DIỆT TRỪ.

Trong bản tiếng Anh thì không thấy có vụ NGHĨ, BIẾT mà chỉ dùng chung là KNOWING.

Vậy các vị rành Pali có ý kiến gì không ạ? Dịch thành 2 từ NGHĨ RẰNG và BIẾT là chính xác hay không chính xác ạ?

Và ĐOẠN TRỪ có khác DIỆT TRỪ không ạ?

Con nghĩ chi tiết này quan trọng, vì nó hàm chứa nhiều pháp hành (tác ý, cái biết…), cần làm rõ.

Pali đây ạ:
72. Sa kho so bhikkhave bhikkhu abhijjhāvisamalobho cittassa upakkilesoti iti viditvā abhijjhāvisamalobhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Byāpādo cittassa upakkilesoti iti viditvā byāpādaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Kodho cittassa upakkilesoti iti viditvā kodhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Upanāho cittassa upakkilesoti iti viditvā upanāhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Makkho cittassa upakkilesoti iti viditvā makkhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Paḷāso cittassa upakkilesoti iti viditvā paḷāsaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Issā cittassa upakkilesoti iti viditvā issaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Macchariyaṃ cittassa upakkilesoti iti viditvā macchariyaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Māyā cittassa upakkilesoti iti viditvā māyaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Sāṭheyyaṃ cittassa upakkilesoti iti viditvā sāṭheyyaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Thambho cittassa upakkilesoti iti viditvā thambhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Sārambho cittassa upakkilesoti iti viditvā sārambhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Māno cittassa upakkilesoti iti viditvā mānaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Atimāno cittassa upakkilesoti iti viditvā atimānaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Mado cittassa upakkilesoti iti viditvā madaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. Pamādo cittassa upakkilesoti iti viditvā pamādaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati.

73. Yato kho (Yato ca kho – Sī, Syā) bhikkhave bhikkhuno abhijjhāvisamalobho cittassa upakkilesoti iti viditvā abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso pahīno hoti. Byāpādo cittassa upakkilesoti iti viditvā byāpādo cittassa upakkileso pahīno hoti. Kodho cittassa upakkilesoti iti viditvā kodho cittassa upakkileso pahīno hoti. Upanāho cittassa upakkilesoti iti viditvā upanāho cittassa upakkileso pahīno hoti. Makkho cittassa upakkilesoti iti viditvā makkho cittassa upakkileso pahīno hoti. Paḷāso cittassa upakkilesoti iti viditvā paḷāso cittassa upakkileso pahīno hoti. Issā cittassa upakkilesoti iti viditvā issā cittassa upakkileso pahīno hoti. Macchariyaṃ cittassa upakkilesoti iti viditvā macchariyaṃ cittassa upakkileso pahīno hoti. Māyā cittassa upakkilesoti iti viditvā māyā cittassa upakkileso pahīno hoti. Sāṭheyyaṃ cittassa upakkilesoti iti viditvā sāṭheyyaṃ cittassa upakkileso pahīno hoti. Thambho cittassa upakkilesoti iti viditvā thambho cittassa upakkileso pahīno hoti. Sārambho cittassa upakkilesoti iti viditvā sārambho cittassa upakkileso pahīno hoti. Māno cittassa upakkilesoti iti viditvā māno cittassa upakkileso pahīno hoti. Atimāno cittassa upakkilesoti iti viditvā atimāno cittassa upakkileso pahīno hoti. Mado cittassa upakkilesoti iti viditvā mado cittassa upakkileso pahīno hoti. Pamādo cittassa upakkilesoti iti viditvā pamādo cittassa upakkileso pahīno hoti.

Su Nguyentue

Theo Buddhist Dictionary thì:
A list of 16 moral ‘impurities of the mind’ (cittassa upakkilesa ) is mentioned and explained in M. 7 & 8 (WHEEI. 61/62): 1. covetousness and unrighteous greed (abhijjhā-visamalobha), 2. ill will (byāpāda), 3. anger (kodha), 4. hostility (upanāha), 5. denigration (makkha), 6. domineering (palāsa), 7. envy (issā), 8. stinginess (macchariya), 9. hypocrisy (māyā), 10. fraud (sāṭheyya), 11. obstinacy (thambha), 12. presumption (sārambha), 13. conceit (māna), 14. arrogance (atimāna), 15. vanity (mada), 16. negligence (pamāda).

There are 3 groups of upakkilesa pertaining to meditation:

(a) 9 mental imperfections occurring in ‘one devoted to higher mental training’ (adhicitta); 3 coarse ones – evil conduct in deeds, words and thoughts; 3 medium – thoughts of sensual desire, ill will and cruelty; 3 subtle – thoughts about one’s relatives, one’s country and one’s reputation (A. III, 100).

(b) 18 imperfections in the practice of mindfulness of breathing (ānāpāna-sati, q.v.), mentioned in Pts.M., Ānāpāna-kathā (tr. in Mindfulness of Breathing, by Ñāṇamoli Thera (p. 60; BPS).

(c) 10 ‘imperfections of insight’ (-meditation, vipassanūpakkilesa); s. visuddhi V.。

Su Nguyentue

Sa kho so bhikkhave bhikkhu abhijjhāvisamalobho cittassa upakkilesoti iti viditvā abhijjhāvisamalobhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati. = Này chư Tỳ khưu, quả thực vị tỳ khưu nào sau khi biết rõ được rằng: “sự thèm muốn quá đáng (visamalobha) hay được gọi là sự tham lam (abhijjhā) là cấu uế của tâm (cittassa upakkilesaṃ)”, vị ấy từ bỏ sự thèm muốn quá đáng hay được gọi là sự tham lam là cấu uế của tâm ấy.

viditvā: không thể nào dịch là sau khi nghĩ rằng được (gốc từ vid (biết) của động từ vindati/ viditvā = (having known) (htht)/ hoặc có thể dịch thành After knowing

Hiếu Nguyễn to

Su Nguyentue ơi! thế đoạn 72 với 73 nghĩa nó khác nhau ở chỗ nào hả Sư.

Su Nguyentue

73. Yato kho …. pahīno hoti.

Su Nguyentue

bhikkhu (ở đoạn 72) đóng vai trò chủ cách còn bhikkhuno (ở đoạn 73) đóng vai trò là sở hữu cách (cách thứ 6 = của, thuộc về) hay là chỉ định cách (cách thứ 4 = đến/ đối với) ta???

Su Nguyentue

Trời ơi, mò vô Nissaya (verbatim/ word to word) của Miến mới thấy nguy hiểm quá.

Su Nguyentue

‎71. Katame ca = và thế nào là
bhikkhave = này chư tỳ khưu
cittassa upakkilesā = những cấu uế của tâm
Abhijjhā = dục tham mà dính mắc vào tài sản của cải của mình;
visamalobho = dục tham mà dính mắc vào tài sản của người;
cittassa upakkileso = Pháp cấu uế của tâm, Pháp làm bẩn, làm ô uế tâm;
byāpādo = āghāta = HIỀM (bearing ill-will)
kodho = āghāta (mức độ lớn hơn byāpādo) = HẬN
upanāho = OÁN,
Makkha = chà đạp, bôi nhọ lên nhân phẩm của người khác
paḷāso = ghanh đua
issā = đố kỵ
macchariya = keo kiết/ bủn xỉn
sāṭheyya = là sự giả bộ như mình có những đức cao quý mà thực sự mình không có
māyā =có tướng trạng là che đậy lỗi lầm của mình
thambho = ngoan cố, ương bướng
sārambho = > ở mức độ cao hơn thambho (ương bướng) là gì bà con ơi (dịch theo nissaya của Miến)
māno = kiêu căng/ < atimāno = ngã mạn (ati = atikkamati =vượt quá, vượt xa)
mado = say đắm (vào sắc đẹp/ sức khỏe/ dòng dõi)
pamādo = là Pháp với năng lực thả trôi tâm vào các đối tượng của ngũ dục
Bắt đầu đoạn (72), ở Nissaya tạng Miến còn có thêm 1 từ quan trọng để bổ nghĩa cho so bhikkhu ở đây nữa đó là sedo = sekha (chỉ những vị thánh hữu học – bhikkhu – chắc chắn là cách thứ 1 – chủ cách)
pajahati = từ bỏ, bỏ đi (bằng Thánh Đạo) phần mở ngoặc có trong nissaya của Miến.
và bhikkhuno ở trong đoạn 73 là cách thứ 4
Yato = Yatoya dā = nhân đó

Hoa Nguyen

Bổ túc:
BỐN VÔ LƯỢNG TÂM (trong kinh Trung A-Hàm)

A-nan, trước kia Ta đã nói cho ông nghe về bốn vô
lượng, Tỳ-kheo tâm đi đôi với Từ biến mãn một phương,
thành tựu an trụ. Cứ như thế, hai phương, ba phương, bốn
phương, tứ duy, trên dưới biến khắp tất cả, tâm đi đôi với
Từ, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh,
vô cùng rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả
thế gian, thành tựu an trụ. Bi và Hỷ cũng vậy. Tâm đi đôi
với Xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không
tranh, vô cùng rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn
tất cả thế gian, thành tựu an trụ. A-nan, bốn vô lượng này,
ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu nói và
dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn vô lượng này, họ sẽ
được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không
phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.
(Trung A Hàm, Kinh Thuyết Xứ, Phẩm 7, số 86)

Su Nguyentue

và ở cả hai đoạn 72 và 73 hiểu theo cách dịch của Miến (thì từ bỏ bằng Thánh Đạo)
những câu ở đoạn 72:
… cittassa upakkilesaṃ pajahati = vị ấy từ bỏ (bằng Thánh Đạo) …. là pháp cấu uế tâm.
còn câu ở đoạn 73
… bhikkhuno … cittassa upakkileso pahīno hoti = nơi vị Thánh Hữu học ấy, … là Pháp cấu uế Tâm đã được từ bỏ//
Giữa hai đoạn 72 – 73 có chữ Yato = yatoya dā = nhân đó
>> những điều này có mô tả thêm chút gì về Tâm Đạo và Tâm quả của các vị Thánh Hữu học (sekha) hay không???

(nếu theo bản dịch của Miến thì – Đức Phật đang thuyết bài Kinh này cho các vị THánh Hữu Học (sekha) là chủ yếu hay sao???

Hoa Nguyen

Su Nguyentue: “Đức Phật đang thuyết bài Kinh này cho các vị THánh Hữu Học” (sekha) là chủ yếu hay sao???”

Tôi có cảm tưởng khi Đức Phật giảng pháp, hay giải đáp câu hỏi cho người Bà la môn, thì thường bài giảng sâu rộng hơn, hay nhìn từ quan điểm cao hơn bình thường. Người Ba la môn vốn là học giả (hạng nhất) thời đó, tương đương với giới trí thức (ưu tú) ngày nay. Bài kinh trong Pali là “Ví Dụ tấm vải”, nhưng nội dung bài pháp và bài kệ bên dưới nói rõ là “tắm rửa nội tâm” chớ không phải ngoại thân.
Thường Phật ít khi nói tới niềm tin, nhưng ở đây ngay phần mở đầu là: “(sau khi diệt trừ cấu uế của tâm) , vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối nơi Phật, Pháp, thánh chúng. Nơi vị ấy có sự từ bỏ, diệt trừ, giải thoát, xả ly, chứng được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, được sự hân hoan liên hệ đến Pháp”.
Kêu gọi một người nghe pháp “lòng tin tuyệt đối” (Phật pháp) thì người đó phải là ngoại đạo còn đang nhiều tâm nghi ngờ chánh pháp. Đến gần cuối kinh, ông bà la môn đó còn tưởng Phật khuyên về tắm nước sông thiêng để tẩy sạch cấu uế. Cái tập tục này (tắm sông cho sạch tội) ở Ấn Độ còn dai dẳng tới ngày nay, nên thấy được quan điểm của Phật giáo 2000 năm trước đã tiến bộ rất xa so với thời đại.

Bhikkhu Indacanda

THỐNG KÊ TÍNH ĐẾN 6: 24 AM giờ Sri Lanka (7:54 AM của VN) ngày 06/07/2012 thì có 13/451 thành viên bấm LIKE, 8 thành viên tham gia comment, trong số đó chỉ có 6 thành viên tham gia thảo luận.

Hạnh Trương Sư rảnh gớm nha :)

Hiếu Nguyễn

Mấy nhận đinh về Đức Phật giảng cho đối tượng là mấy ông bà-la-môn của chú Hoa Nguyen hay quá, rất hợp lý ạ.

Hạnh Trương

Quay lại ví dụ tấm vải thôi, hihi.

Tại sao lại phải đi nhuộm vải, mà không để nó thanh tịnh, sạch hoàn toàn khỏi các vết bẩn?

Trong bài kinh, tấm vải sau khi đã được tẩy sạch, thì được nhuộm như thế nào?

Có mấy vấn đề có thể được đặt ra:

1. Những pháp nào trong bài kinh được kể ra là để tẩy sạch các vết bẩn?

2. Những pháp nào là để nhuộm, nhuộm như thế nào, và để làm gì, tại sao đức Phật lại chỉ đúng cách nhuộm đó mà không phải cách khác.

3. Sau khi đã chỉ cách nhuộm, đức Phật có dừng ở đó không, hay lại get over cái đó nữa….
Mò tiếp thôi, hihi

Tiểu Lâm

đọc bài kinh thích câu này:
Suddhassa ve sadā phaggu,
suddhassuposatho sadā.
Suddhassa sucikammassa,
sadā sampajjate vataṃ.
Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,
Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh

Bhikkhu Indacanda

One pure in heart has evermore The Feast of Cleansing and the Holy Day; One pure in heart who does good deeds Has his observances perfect for all times. (Ven Nyanaponika Thera)

One pure in heart has evermore
The Feast of Spring, the Holy Day;
One fair in act, one pure in heart
Brings his virtue to perfection. (Ven. Bhikkhu Bodhi)

For the pure every day is auspicious, for the pure every day is holy,
For the pure of bright deeds there is ever the practice of (good) custom. (I. B. Horner)

Xin 1 bản dịch 1 dòng, lấy ra đem xào nấu lại thành lời dịch Việt của mình (Bhikkhu Indacanda).

Hạnh Trương

‎”Tôn giả Bharadvaja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: “Sanh đã tận..”

Câu “Vị ấy đã thắng tri, trước nó có dấu “.” không Sư nhỉ?

Con đọc thấy nó không được logic lắm. Ở câu trước có chữ ” Và không bao lâu sau khi ……” thì bùm cái dấu chấm, chẳng biết sau khi đó thì cái gì xảy ra nữa.

Bhikkhu Indacanda Trích dẫn bải Kinh tiếng Việt??? Sao không cho ra post mới??? Xâm nhập gia cư bất hợp pháp, đề nghị Admin Hạnh Trương phạt vi cảnh. Hì hì.

Hạnh Trương

Cái đoạn này cũng hay lặp lại ở các bài kinh Sư nhỉ, Sư giải quyết luôn đi, hihi

Bhikkhu Indacanda

‎70. Duyên khởi và ví dụ về tấm vải
71. Các cấu uế (upakkilesa)
72. Vị tỳ khưu biết … => dứt bỏ …
73. Khi biết được … => … được dứt bỏ.
74. => thành tựu lòng tin tuyệt đối
Đoạn 73, 74 giới thiệu tiến trình tổng quát (???)
75. Đoạn trừ 1 phần … (=> tầng Thánh thứ 3) => được định.
76, 77. Đang ở tầng Thánh thứ 3. Phát triển Tứ Vô Lượng Tâm
78. Tiến đến A-la-Hán Quả
79, 80. …

Bhikkhu Indacanda

THÍCH NHẤT CÂU NÀY (đối chọi lại câu của Ven Tieu Lam)
75. So “Buddhe aveccappasādena samannāgatomhī”ti labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati.
Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định. (HT. Thích Minh Châu)

… he knows: ‘I am endowed with unwavering confidence in the Buddha; and he gains enthusiasm for the goal, gains enthusiasm for the Dhamma, gains gladness connected with the Dhamma. When he is gladdened, joy is born in him; being joyous in mind, his body becomes tranquil; his body being tranquil, he feels happiness; and the mind of him who is happy becomes concentrated. (Ven Nyanaponika Thera)

… he considered thus: ‘I am possed of perfect confidence in the Buddha,’ and he gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains gladness connected with the Dhamma. When he is glad, rapture is born in him; in one who is rapturous, the body becomes tranquil; one whose body is tranquil feels pleasure; in one who feels pleasure, the mind becomes concentrated. (Ven. Bhikkhu Bodhi)

Hiếu Nguyễn

Quay trở lại ví dụ tấm vải. Sau khi xem lại Tạng Luật – Đại Phẩm 1, Hiếu phát hiện ra đoạn kinh này được lặp đi lặp lại rất nhiều lần, với nhiều đối tượng, với cùng hình ảnh ẩn dụ về tấm vải:

[…]
Khi người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đén người con trai gia đình danh giá Yasa. Tức là Ngài đã giảng bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được người con trai gia đình danh giá Yasa có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người con trai gia đình danh giá Yasa “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt”. (Bản dịch của Tk. Indacanda)

Trong đoạn kinh này có thể thấy:

(1) Làm sạch tấm vải <=> khiến cho “tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín” (có tịnh tín nha quý vị)

(2) Sẵn sàng cho nhuộm là việc Đức Thế Tôn “phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt Đạo”

(3) Kết quả là: Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người con trai gia đình danh giá Yasa “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt”

MN007 thì sao ạ, MN007 có mấy giai đoạn sau:
(1) diệt trừ cấu uế của tâm

(2) thành tựu lòng tin tuyệt đối nơi Phật Pháp Tăng

(3) chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định

(4) Đến thành tự như vậy trong kinh mới nói là: “Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, – nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, – nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy.” (ĐẾN ĐÂY KHI TÂM ĐƯỢC THIỀN ĐỊNH THÌ MỚI COI LÀ VẢI SẠCH)

(5) An trú Tứ Vô Lượng Tâm

(6) Vị ấy biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng”.

(7) Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.

Xin mời anh Hạnh Trương tiếp tục về ví dụ tấm vải sau khi anh đã triển những câu hỏi rất hay ạ.

Hạnh Trương ‎to Hiếu Nguyễn

tìm đọc thêm về công năng của TÍN thì sẽ xác định được trong bài kinh đâu là điểm chốt của việc “làm sạch” và đâu là “nhuộm”

Thien Nguyen Ba

Dạ, có 4 từ con không hiểu nghĩa, kính mong quý đạo hữu làm rõ giúp ạ:

“Saṃghe aveccappasādena samannāgato hoti “Suppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho, ujuppaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho, ñāyappaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho, sāmīcippaṭipanno Bhagavato Sāvakasaṃgho, yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa Bhagavato Sāvakasaṃgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā”ti.”

“Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.”

1) Diệu hạnh nghĩa là gì? Như thế nào?

2) Trực hạnh nghĩa là gì? Như thế nào?

3) Như lý hạnh nghĩa là gì? Như thế nào?

4) Chánh hạnh nghĩa là gì? Như thế nào?

Con xin cảm ơn!

Tiểu Lâm to ‎Thien Nguyen Ba

Tham khảo về quyển sách này nha, mục GIẢNG GIẢI VỀ 9 ÂN ĐỨC TĂNG
http://www.budsas.org/uni/u-nentangpg/q2c32.htm

Quy Y Tam Bao

www.budsas.org

Ân đức Pháp vô cùng vi tế, sâu sắc, rộng lớn vô lượng vô biên, mà chư …See More

Sư Trung Thiện Sadhu! đây là 1 bài pháp hay, cảm ơn bác Phạm Doãn nhé. Mong bác luôn tinh tấn trong mọi thiện pháp…



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s