– MN 008 – Kinh Đoạn-Giảm

KINH MN 008 – Kinh ĐOẠN-GIẢM (Sallekhasuttam)

I.  BẢN KINH MN 008 – Kinh Đoạn Giảm (Sallekhasuttam)

1.  Bản tiếng Việt của HT. Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung08.htm

2.  Bản tiếng Anh của Bhikkhu Nyanaponika Thera

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.008.nypo.html

3.  Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/008.htm

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO cho bài kinh MN 008

  1. Giảng kinh Đoạn Giảm – Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-008.htm

  1. Toát Yếu Kinh Trung Bộ -Thích nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm

III. THẢO LUẬN

Phạm Doãn

Tóm lược Kinh Đoạn Giảm MN 008
1. Bài kinh phân biệt các trường hợp gọi là ĐOẠN GIẢM (salekkha) nghĩa là cắt đứt và làm giảm bớt:
– Đối với sự an trú trong bốn thiền hữu sắc, thì không phải là đoạn giảm. Mà gọi là “hiện tại lạc trú”
– Đối với sự an trú trong bốn thiền vô sắc, thì cũng không phải là đoạn giảm. Mà gọi là “tịch tịnh trú”
– Gọi là “đoạn giảm” đối với 44 bất thiện pháp (liệt kê theo bài kinh)

2. Bài kinh nói về sự quan trọng của việc Khởi Tâm (tác ý) để đoạn giảm 44 bất thiện pháp. Thấy việc ác, ta sẽ khởi tâm không làm việc ác

3. Bài kinh nói về sự quan trọng của việc “Từ Bỏ” 44 bất thiện pháp. Từ bỏ làm việc ác đối trị với sự làm việc ác.

4. Bài kinh nói về sự Hướng Thượng của việc từ bỏ làm việc ác. Làm việc thiện là hướng thượng, làm việc ác là hướng hạ.

5.Bài kinh nói về “nguyên lý” để có thể giúp đỡ, giải thoát cho “người khác”. Đó là TỰ THÂN mình phải không bị ô nhiễm, phải biết tự nhiếp phục, phải hoàn toàn đã giải thoát!

6. Lời nói cuối của Đức Phật trong bài giảng:
“…Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những nhà không tịnh. Này Cunda, HÃY THIỀN ĐỊNH, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta cho các Người.
————
Nhận xét:
1. – Tám bài kinh đầu của Trung Bộ, luôn nói đến sự quan trọng của THIỀN ĐỊNH. Trái lại, không có bài kinh nào lại cho rằng THIỀN ĐỊNH là nguy hiểm là phải tránh xa!
2. – Có đạo sư (thời nay) chấp nhận tu tập bốn Thiền hữu sắc thì lại phủ nhận tu tập bốn Thiền Vô sắc! cho rằng bốn thiền vô sắc là của Bà La Môn, mà Đức Phật đã vứt đi như chiếc giày rách!!!
(có lẽ vị này chưa hiểu được mối liên hệ khắng khít giữa Đạo Phật với nền văn minh Vệ Đà)
Đúng ra là chỉ cần một bậc thiền an chỉ (hoặc chỉ cần là cận định) thì người tu đã có thể bước vào Tuệ Quán, để thực hiện sự giải thoát. Tuy nhiên, qua tổng hợp từ các bài kinh, thì càng có nhiều bậc thiền (hữu sắc và vô sắc) càng tốt, không có gì hại hoặc làm cản trở con đường giải thoát!
3. – Bài kinh đặc biệt nhấn mạnh việc phải TỰ GIẢI THOÁT mình trước khi giúp người khác!. Nếu không tự mình chứng ngộ giải thoát được thì không có thể giúp ai giải thoát được cả!

Hoa Nguyen

PD: “Đúng ra là chỉ cần một bậc thiền (hoặc cận định) thì người tu đã có thể bước vào Tuệ Quán, để thực hiện sự giải thoát”: Điều này dựa vào lời kinh, bài kinh nào trong Tam Tạng kinh điển, vào các luận giải thời xưa?

Phạm Doãn

Anh Hoa Nguyen kính,
Khi nào chúng ta cùng đồng ý rằng:
– Dù có tất cả 8 bậc thiền cũng không thể đạt các bậc Thánh.
– Hoặc cho dù ngồi trong Định lâu đến chừng nào cũng không thể đạt các quả Thánh.
Thì lúc đó, mới nên thảo luận và cung cấp thông tin vấn đề này. Tức người tu phải cần có Sát Na Định, hay Cận Định & Định An Chỉ của một bậc Thiền, để thực hành Tuệ Quán thực hiện Tam Minh.

Hạnh Trương

Đoạn này cũng cần lưu ý ạ:
– Bạch Thế Tôn, có những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận. Bạch Thế Tôn, đối với một Tỷ-kheo, có tác ý ngay từ ban đầu, thời có thể đoạn trừ những sở kiến ấy hay không, có thể xả ly những sở kiến ấy hay không?
– Này Cunda, những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận, – chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn, và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, có vậy thời có sự đoạn trừ những sở kiến ấy, có sự xả ly những sở kiến ấy__
Sau đó mới tới những nội dung mà BS Phạm Doãn đã tổng kết, vậy chúng có sự liên quan với nhau không nhỉ, các Sư và các đạo hữu có ý tưởng gì không ạ.

Hoa Nguyen

Theo “CON ĐƯỜNG THIỀN CHỈ VÀ THIỀN QUÁN”

MAHĀTHERA HENEPOLA GUṆARATANA
Tỳ khưu PHÁP THÔNG dịch

Tuệ dùng làm phương tiện để đạt đến giải thoát được chia làm hai loại chính, đó là minh sát trí (vipassanā nñāṇa) hay còn gọi là quán tuệ và trí thuộc các siêu thế đạo (magga nñāṇa). Minh sát trí là sự thể nhập trực tiếp vào tam tướng vô thường, khổ và vô ngã của các pháp hữu vị. Nó lấy năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm đối tượng. Bởi vì minh sát trí lấy thế gian (loka) của các hành (sankhāra) làm đối tượng, do đó nó được xem như một hình thức của tuệ hiệp thế (lokiya panñnñā). Minh sát trí, tự bản thân nó không trực tiếp diệt trừ các phiền não. Nó dùng để mở đường cho loại tuệ thứ hai, tức các siêu thế đạo tuệ vốn chỉ xuất hiện khi minh sát trí đã được tu tập đến tột đỉnh. Đạo tuệ khởi lên ở bốn giai đoạn rõ rệt (sẽ đề cập đến trong phần sau) đồng thời với việc chứng đắc Niết bàn, thấu triệt Tứ thánh đế và cắt đứt các phiền não. Tuệ này gọi là “siêu thế” (lokuttara) vì nó vượt qua khỏi (uttarati) thế gian của năm uẩn để chứng đắc trạng thái siêu xuất thế gian, tức Niết bàn.
(trích)

Tôi chú ý đến câu viết:
“Minh sát trí, tự bản thân nó không trực tiếp diệt trừ các phiền não. Nó dùng để mở đường cho loại tuệ thứ hai, tức các siêu thế đạo tuệ vốn chỉ xuất hiện khi minh sát trí đã được tu tập đến tột đỉnh”.
Nhưng biết chừng nào tới được “các siêu thế đạo tuệ” ? (theo kinh và luận gỉải xưa).

Hoa Nguyen

Kính anh Phạm Doãn. Chúng ta tìm hiểu Phật pháp theo hết khả năng của hiểu biết và trí tuệ, và dựa kia kinh điển. Khi bất khả thì dựa vào niềm tin, mà niềm tin thì mỗi người khác nhau, tuy thường ai cũng cho niềm tin mình mới đúng hơn.
Góp ý với anh: Về Thiền định (bát định) Phật đã có kinh nghiệm bản thân là không thể đưa tới trí tuệ giải thoát; sau này Phật cũng dạy như vậy. Nhưng Phật có trí tuệ giác ngộ nhở định lực của Thiền , còn phần Tuệ phát sinh là do quán chiếu riêng. Sau này Phật vẫn thực hành Thiền Định trong thời gian tại thế và vẫn dạy các đệ tử Thiền định ngài đã biết. Như vậy, nếu không có định lực ở mức cao thì có khả năng thiền quán để phát hiện chân lý (Chân đế) như Phật không. Phật đã để lại Phật pháp (với Nguyên Thủy thì còn nguyên vẹn trong tạng Pali), nhưng nếu không có định lực thì có thể thực hành phần Quán mà Phật đã dạy và để lại trong kinh không. Tất nhiên, điểm này mỗi người nghĩ khác nhau, và tôi tôn trọng ý nghĩ của người khác. Tôi không chất vấn, mà chỉ nêu thắc mắc của mình.
Thật ra, theo kinh tôi đọc thì cũng có nhiều bậc trí tuệ thành Phật theo con đường Thiền quán riêng, vào thời không có Phật (Phật chưa ra đời, họ không biết về Phật pháp). Đó là những vị Độc giác Phật, và Duyên giác Phật. Nếu hỏi có ai thấy tu Định Chỉ mà giác ngộ chưa, thì người hoài ghi cũng đặt được câu hỏi: có ai tu minh sát mà thành Phật chưa. Đó là những câu hỏi khó trả lời, hay dù thế nào cũng khó làm thỏa mãn người nghe. Nhưng tôi tôn trọng niềm tin riêng của bất cứ ai về vấn đề đó, vì bản thân mình nhiều thứ cũng dựa vào niềm tin riêng.

Thuận Pháp Dhammiko

Chúng ta nên có một đức tin chung, có thể gọi là Chánh Tín, là tin vào sự giác ngộ giải thoát khổ của mình. Đừng nên cứng nhắc tin vào tông phái, cũng như đừng tin những gì đức Phật nói mà mình thực hành không đưa tới sự thoát khổ. Khi nào chúng ta tu tập minh sát mà chấm dứt hết phiền não thì hãy tin đó là sự tu tập đưa tới giác ngộ giải thoát khỏi mọi khổ đau tham, sân, si.

Hạnh Trương

Làm gì có cái đức tin nào thế, tớ không chung cái đức tin đó nha :)

Thuận Pháp Dhammiko

Nghe nói: Nước biển chỉ có một vị, đó là vị mặn. Chánh Pháp của đức Phật có một vị, đó là vị giải thoát khỏi mọi phiền não. Tin vào vị giải thoát này là chắc nhất :)

Hạnh Trương

Ờ, cái này có lý, mà tốt nhất là nếm luôn, hihi

Hạnh Trương

HT phóng tác :)
Tôn giả Cunda tới gặp Phật và nêu câu hỏi về hai khái niệm rối nhất trong triết học đó là NGÃ và THẾ GIAN, Phật trả lời là CHỈ CÓ CÁCH ABC mới được thôi.
Tôn giả mới nghĩ thầm trong đầu, “thế thì 8 thiền dùng làm gì?”
Phật mới chỉ ra chỗ dùng, đó là trú lạc và trú tĩnh.
Tôn giả mới khởi ý, thế thì làm sao để có thể “như thật quán sát với chánh trí tuệ” (ABC) , Phật mới chỉ cách, đó là ….
Hai vấn đề về ngã và thế gian này lại là đề tài chính trong bài kinh ĐẦU TIÊN của trường bộ, kinh PHẠM VÕNG.

Hạnh Trương

‎(Pháp môn giải thoát)
Này Cunda, con người tự mình bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy không thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không rơi vào bùn lầy, có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy có thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy không thể xảy ra. Một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy có thể xảy ra. Cũng vậy, này Cunda:
(1) Ðối với người làm hại, không làm hại đưa đến hoàn toàn giải thoát; đối với con người sát sanh, từ bỏ sát sanh đưa đến hoàn toàn giải thoát.

87. So vata Cunda attanā palipapalipanno paraṃ palipapalipannaṃ uddharissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. So vata Cunda attanā apalipapalipanno paraṃ palipapalipannaṃ uddharissatīti ṭhānametaṃ vijjati. So vata Cunda attanā adanto avinīto aparinibbuto paraṃ damessati vinessati parinibbāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. So vata Cunda attanā danto vinīto parinibbuto paraṃ damessati vinessati parinibbāpessatīti ṭhānametaṃ vijjati. Evameva kho Cunda vihiṃsakassa purisapuggalassa avihiṃsā hoti parinibbānāya. Pāṇātipātissa purisapuggalassa pāṇātipātā veramaṇī hoti parinibbānāya

Ven Adhiṭṭhāna ơi, ra tay giúp đoạn bùn lầy này đi.. Sư xem hộ nếu dịch kỹ một số chữ nào đó có thể làm rõ hơn không.
Tại sao cái phần bùn lầy này lại nằm ở đoạn giữa bài kinh này như thế nhỉ, không hiểu có ý gì?

Tiểu Lâm

trong đoạn văn trên parinibbāpessati – hoàn toàn giải thoát người khác.
pari + nibbapeti: To cause to attain nirvāṇa
được hiểu là: nhân hoàn toàn giải thoát người khác, khiến hoàn toàn giải thoát người khác, gây hoàn toàn giải thoát người khác người khác.kính..!!

Hạnh Trương

Đoạn đó, và đoạn sau “Cũng vậy, này Cunda:
(1) Ðối với người làm hại, không làm hại đưa đến hoàn toàn giải thoát; đối với con người sát sanh, từ bỏ sát sanh đưa đến hoàn toàn giải thoát.”

Có liên hệ gì với nhau Sư nhỉ?

Cái chữ CŨNG VẬY hiểu như thế nào cho đúng?

Tiểu Lâm

<cái chữ CŨNG VẬY hiểu như thế nào cho đúng?>
attanā danto vinīto parinibbuto
paraṃ damessati vinessati parinibbāpessatīti
nghĩ là sẽ được hiểu như thế này đây. hihiii

Hạnh Trương

Chưa hiểu lắm, Sư Tiểu Lâm ra tay tiếp đi, cái ví dụ ở trên tương ứng thế nào với đoạn sau từ “Cũng Vậy”

Hạnh Trương

Đang là một người thế này thì có thể giải thoát người khác, rồi, “cũng vậy” đối với người làm hại, thì không làm hại đưa đến hoàn toàn giải thoát..
Vậy là có hai người? một người không làm hại giúp người làm hại hoàn toàn giải thoát, và hai người đó lại là mình cả?

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Tiểu Lâm

pari +ni + vā + e + ssti = parinibbāpessati – cái này khó chịu à nha =))

Hoa Nguyen

Tôi lại chú ý câu :” Này Cunda, như vậy Ta đã giảng pháp môn đoạn giảm, đã giảng pháp môn khởi tâm, đã giảng pháp môn đối trị, đã giảng pháp môn hướng thượng, đã giảng pháp môn giải thoát hoàn toàn”.
Trong bài kinh này Phật giảng ít nhất là năm pháp môn (kể trên). . Vậy toàn bộ pháp môn Phật giảng phải nhiều lắm Tôi không nói con số tám vạn bốn ngàn.

Đơn Sa

“Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những nhà không tịnh. Này Cunda, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta cho các Người.” -> “những nhà không tịnh” hay là “những căn nhà trống” (trong bản dịch của HT Thích Minh Châu, hay dùng) hay là “những nơi trống – vắng”?, DS, thấy trong bản Tiếng Anh: “empty places”!

Hạnh Trương to Sư Bhikkhu Indacanda

Có cmt thế này :
suñña = a. rỗng không, trống rỗng. –gama m. làng bỏ trống, bỏ hoang. –tā f. sự rỗng không. –āgāra nt. chỗ bỏ hoang.
āgāra = nt. nhà a. chỗ ở.

Hạnh Trương

suñña : Trong Phân Tích Đạo, tập I, trang 332, được định nghĩa là “không bị lai vãng bởi bất cứ ai, bởi những người tại gia hoặc bởi các vị xuất gia”

Đơn Sa

trong bản dịch Pali-Việt của sư Bhikkhu Indacanda cũng là “những nhà không tịnh”

Hạnh Trương Sư ghi rõ bên trên là bản này của HT Minh Châu :)

HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli – Việt)

Hoa Nguyen

Có một từ ngữ tôi nghĩ cần phải hiểu nghĩa thật chính xác mới hiểu đúng được ý trong bài kinh này. Đó là “đoạn giảm” mà chúng ta có thể tạm hiểu là cắt đứt (đoạn) để làm bớt đi tâm bất thiện, hay phiền não. Nhưng trong “Trung bộ toát yếu” ni sư Trí Hải chú giải là:
Đoạn giảm: Từ Pali “Sallekha” nguyên nghĩa là khổ hạnh, trong kinh này có nghĩa là sự từ bỏ hay tận diệt cấu uế, nhiễm ô.
Trong bài kinh Trung A-hàm tương đương là “91. KINH CHU-NA VẤN KIẾN”, thì dùng từ “Tiệm giảm”, có lẽ muốn nói dần dần bớt ít đi. Nhưng trong phần chú giải cũng cho “tiệm giảm” là Sallekha, có nghĩa kiểm thức, sống khắc khổ.
Khổ hạnh hay sống khắc khổ có liên quan gì tới đoạn giảm, tiệm giảm?

Thuận Pháp Dhammiko

TP Thấy cả Pali và Skrt đều dịch từ chữ “Sallekha” có nguyên nghĩa là khổ hạnh, khắc khổ, thì nghĩa khổ hạnh là đúng nhất. Thật ra ngoài nghĩa đó ra có thêm một cách hiểu nữa là biết đủ. Biết đủ là nghĩa nhẹ nhàng nhất!

Hoa Nguyen

Biết đủ mà hiểu như là khổ hạnh thì suy đoán xa quá.

Thuận Pháp Dhammiko Vì nhắc tới khổ hạnh ai cũng né, nên dùng biết đủ cho nhẹ nhàng. Khổ hạnh tới mức nào mà nếu biết đủ cũng thấy nhẹ nhỏm hết. Người nhịn ăn 40, 50 ngày do họ biết đủ mà nhịn ăn được :)

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Thuận Pháp Dhammiko

học kĩ lại Abhidhamma đi ! Đức Phật trong 7 tuần lễ không ăn không phải là nhân của sự tri túc (saññama).

Hoa Nguyen

Thật ra chúng ta cần hiểu rõ nghĩa đoạn giảm, vì lời kinh nói vào được Tứ thiền , hay các bậc thiền vô sắc, cũng không phải (gọi) là đoạn giảm.

Thuận Pháp DhammikoVen Adhiṭṭhāna,

Dạ:) Cũng có lẽ vì đức Phật hưởng Quả giải thoát lần đầu nên không cần ăn uống gì nhiều. Còn người chưa giác ngộ thì cần sự tri túc hay biết đủ để có thể giảm trừ một số tham ái bậc thô nào đó, như biết đủ về vật thực, biết đủ về kiến thức, biết đủ thành quả tu tập của mình để không khoe khoang.

Ven Adhiṭṭhāna

Sallekhoti ca idha avihiṃsāva veditabbā. Avihiṃsā hi vihiṃsaṃ sallekhati, taṃ chindati, tasmā sallekhoti vuccati. Esa nayo sabbattha. Ayaṃ pana viseso
Theo định nghĩa này, sallekha được biết đến là sự vô hại, sự không ra sự tổn thương. “Vô hại” là sự cắt sự chặt đi “điều gây ra tai hại”, vì vậy có được gọi là “sự cắt đi”
Tại sao lại cắt đi? Cắt gì đây?
tassa evamassa sallekhena viharāmīti, yaṃ paṭipattividhānaṃ kilese saṃlikhati, tenāhaṃ viharāmīti, taṃ na yujjati, na hi adhimānikassa bhikkhuno jhānaṃ sallekho vā sallekhapaṭipadā vā hoti
“Như vậy ta sống với “sự cắt đứt” là như thế nào? Bằng nhiều phương pháp tu tập để cắt đi các phiền não, như vậy ta sống với “sự cắt bỏ” đó; không bị buộc vào điều đó, thiền định của 1 vị tỳ khưu “cao mạn” (1) không phải là sự cắt đứt hay phương pháp thực hành để cắt đứt.
(1)Tattha adhimānikā nāma yesaṃ appatte pattasaññāya adhimāno uppajjati- Như vậy, ở đây chữ cao mạn (adhimānikā) được gọi như vậy là vì trong khi chưa đạt tới (đạo quả) nhưng với tưởng tri cho rằng đã đạt được nên sanh ra “cao mạn”
Tại sao lại có cao mạn (adhimanika), tại sao lại có những thuyết nào là attavādapaṭisaṃyuttā (thuyết dính mắc vào bản ngã) hay lokavādasaṃyuttā (thuyết dính vào thế gian) >>> đơn giản là vì tưởng lầm 8 bậc thiền này là cứu cánh. Họ xem 8 bậc thiền này là sự cắt đứt (sallekha).
Lặp lại lời của Đức Phật : ‘‘na kho panete, cunda, ariyassa vinaye sallekhā vuccanti, diṭṭhadhammasukhavihārā ete ariyassa vinaye vuccantī’’ti āha
Này Cunda ! Sự “cắt đứt đó” không được gọi là giới luật của bậc thánh, những sự chứng đắc (trong 8 bậc thiền) này được gọi là “sự an trú trong lạc với chánh kiến” (diṭṭhadhamme sukhavihāraṃ) trong giới luật của các bậc Thánh.
_ Có thể bác bỏ ý tưởng này, vì những gì được viết trên đây chỉ là suy nghĩ của cá nhân khi cố gắng đọc và hiểu Aṭṭhakathā của bài kinh Sallekha sutta này.

Hoa Nguyen

Cách giải thích của sư Adhittana về nghĩa của “đoạn giảm” rất hợp lý. Nhưng hơi tiếc là chúng ta phải qua bài học mới, nên không đào sâu tìm hiểu nhiều hơn.

Sư Trung Thiện

Cảm ơn Hạnh Trương đã kì công post nhiều bản dịch. Mong sao người thiện trí này luôn nhiệt tâm, tinh cần trong thiện pháp, không coi thường bất cứ một thiện pháp nào dù là nhỏ!!!

Sư Trung Thiện

Đây là bải kinh đặc biệt hay, rất rõ ràng, rất cụ thể, rất chi tiết, thâu tóm toàn bộ các bước tu tập một cách có thứ lớp. Sadhu! lành thay Pháp đã được Đức Thế Tôn khéo phơi bày, làm cho hiển lộ, diễn giải một cách chi tiết, từ cạn vào sâu, khiến người có mắt có thể thấy, có trí để suy xét, có đức tin để nghe, có Tuệ để quán xét, có nhiệt tâm tinh cần để thực hành. Hoan hỷ thay Pháp đã được nghe như vậy! An lạc thay, cho những ai chú tâm lắng nghe, ghi nhớ, hỏi lại những chỗ còn chưa hiểu và chăm chuyên thực hành, không thối thất.

Hạnh Trương
Cảm ơn Sư.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s