– MN 009 – Kinh Chánh-Tri-Kiến

KINH MN 009 – Kinh CHÁNH-TRI-KIẾN (Sammādiṭṭhi sutta)

 

 

I.          BẢN KINH MN 009 – Kinh Chánh Tri Kiến (Sammādiṭṭhi sutta)

 

1.         Bản tiếng Việt của HT. Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung09.htm

2.         Bản tiếng Anh của Nanamoli Thera & Bhikkhu Bodhi

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.009.ntbb.html

3.         Bản tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.009.than.html

4.         Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/13/009.htm

 

II.        TÀI LIỆU THAM KHẢO cho bài kinh MN 009

 

1.         Luận Giải Kinh Chánh Tri Kiến – Tỳ Khưu Chánh Minh

http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/ctk00.htm

2.         Chú Giải Kinh Chánh Tri Kiến – Tỳ Khưu Thiện Phúc dịch

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-009b.htm

3.         Giảng Kinh Chánh Tri Kiến – Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-009.htm

4.         Toát Yếu Kinh Trung Bộ – Thích Nữ Trí Hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm

5.         The Sammaditthi Sutta and its Commentary

translated from the Pali by Bhikkhu Ñanamoli – edited and revised by Bhikkhu Bodhi

http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/nanamoli/wheel377.html

 

III. THẢO LUẬN

Chua Nhu Phap

Đọc xong rồi thưa Bác Phạm Doãn. Hoan hỷ lắm….sadhu sadhu.

Phạm Doãn
Bài kinh CHÁNH TRI KIẾN, do ngài Sariputta giảng dạy, đã tóm lược toàn bộ triết lý cơ bản của Đạo Phật. Sự học hiểu triết lý này rất quan trọng vì đây là chi phần đầu tiên của “Bát Chánh Đạo”, tức là bước đầu tiên trên con đường tu tập của mọi Phật tử.

Nội dung kinh giảng dạy thế nào là “những quan điểm chính thống” của Đạo Phật, tức CHÁNH KIẾN về:
1. Sự phân biệt giữa
THIỆN và BẤT THIỆN
2. Bốn yếu tố “NUÔi DƯỠNG” (nutriments) đã duy trì sự hiện hữu của chúng sanh và các loại hữu tình, đó là:
Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực.
3. Bốn Diệu Đế:
KHỔ – TẬP – DIỆT – ĐẠO
4. Mươi hai NHÂN DUYÊN từ
Già chết đến Sanh, Hữu, Thủ, Ái, Thọ, Xúc, Nhập, Danh sắc, Thức, Hành, Vô Minh
5. Sự tiêu trừ các LẬU HOẶC

Kèm theo đó, là phương pháp tu tập để giải thoát.
Phương pháp này luôn nhất quán theo một nguyên lý:
– Phải TUỆ TRI các bất thiện pháp, các yếu tố nuôi dưỡng, các nhân duyên và các lậu hoặc.
– phải tuệ tri sự TẬP KHỞI của chúng
– Phải tuệ tri sự ĐOẠN DIỆT của chúng
– Phải tuệ tri CON ĐUỜNG đưa đến sự đoạn diệt đó.

Bài kinh rất quan trọng. Có nhiều từ ngữ và khái niệm mang tính triết lý cao, tiên lượng sẽ có nhiều thảo luận thú vị. Do đó rất cần phải nhờ đến quý sư và đạo hữu biết tiếng Pali giúp phân tích ngữ nghĩa.

Chua Nhu Phap

sadhu Bác Phạm Phạm Doãn đã tóm lượt bài kinh Chánh Tri Kiến với đầy đủ chi tiết.

Phạm Doãn

Sư Cô Chua Nhu Phap đã đọc xong, thấy hoan hỉ, thích thú! Vậy Cô xung phong làm người đầu tiên đưa ý kiến hoặc câu hỏi thảo luận đi :P . Mọi người đang mong chờ! hi hi…

Thien Nguyen Ba

‎”Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn? Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.”

“Katamo panāvuso āhāro, katamo āhārasamudayo, katamo āhāranirodho, katamā āhāranirodhagāminī paṭipadā. Cattārome āvuso āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃ ṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya. Katame cattāro, kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ. Taṇhāsamudayā āhārasamudayo, taṇhānirodhā āhāranirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo āhāranirodhagāminī paṭipadā. Seyyathidaṃ, sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammā-ājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.”

1. Đoàn thực thì dễ hiểu, chính là thực phẩm chúng ta dùng hằng ngày.

2. Xúc thực là gì?

3. Tư niệm thực là gì?

4. Thức thực là gì?

Phạm Doãn

– Thay vì dùng và hiểu chữ “THỰC” (được dịch bởi HT Minh Châu) như là “thực phẩm”, “thức ăn” “đồ ăn”,
– Ta nên hiểu chữ “THỰC” như là “nguồn nuôi dưỡng” hoặc “maintain power” thì đoạn kinh sẽ dễ hiểu hơn!

– Nguồn nuôi dưỡng cho Thân thể: THỨC ĂN là nguồn nuôi dưỡng cho sắc pháp
– Nguồn nuôi dưỡng cho sáu Xúc: CẢM THỌ là nguồn nuôi dưỡng cho sáu Xúc
– Nguồn nuôi dưỡng cho Tư Niệm: TAM GIỚI (ba cõi) là nguồn nuôi dưỡng cho Tư niệm (manosañcetanā)
– Nguồn nuôi dưỡng cho sáu Thức: TÁI SANH là nguồn nuôi dưỡng cho Thức
Tham khảo cho khái niệm XÚC và THỨC nằm trong bài kinh MN 137 –Phân Biệt Sáu Xứ. Link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung137.htm

137. Kinh Phan biet sau xu

www.budsas.org

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông …See More

Hạnh Trương

Nhờ quý Sư và các vị thạo Pāḷi phân biệt giùm mấy khái niệm này ạ:
– abhijjhā : tham dục là một bất thiện với lobha (tham) là căn bản bất thiện
– byāpādo : sân là bất thiện với dosa cũng là sân, lại là căn bản bất thiện

Phạm Doãn

Suy nghĩ riêng về đoạn kinh:
“…Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn…”

ÁÍ DỤC được phát sinh do các nguồn từ:
– Thực phẩm: để bảo dưỡng cơ thể
– Cảm thọ: giúp Sáu Xúc (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) hưởng thụ và cột buộc
– Tư niệm (manosañcetanā) vì có yếu tố của “tưởng”: khiến sinh ước muốn được tồn tại (existence). Tùy theo cá nhân mà ước muốn đó hướng về một trong ba cõi luân hồi
– Và Tái Sanh là cách giúp Sáu Thức thực hiện được ước muốn quay lại kiếp sau (để tiếp tục hưởng thụ cái ảo tưởng về Ái Dục)

Chấm dứt ÁI DỤC cũng có nghĩa là chấm dứt, là không cần đến các nguồn nuôi dưỡng nó.

Hạnh Trương

chữ veramaṇī (được dịch là từ bỏ ) cũng tuyệt thật đấy, sao mà các Sư giỏi Pāḷi “hên” thế không biết, hihi.

Hạnh Trương

Đoạn sau có nguồn phát sinh của Ái thế này ạ:

“Từ tập khởi của thọ, có tập của ái, từ đoạn diệt của thọ, có đoạn diệt của ái, và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của ái, tức là: Chánh Tri kiến… Chánh Ðịnh”

Sư Trung Thiện

Cảm ơn bác Doãn. Bài kinh rất sâu sắc, là thể hiện sự hiểu-biết Pháp toàn diện, triệt để của tướng quân Chánh Pháp. Sadhu! lành thay! Trí Tuệ thay! cho những ai thực hành để cảm nhận,thật thấy- thật biết những lời pháp này

Phạm Doãn

Sư Cô Chua Nhu Phap đang bận làm luận án nên chưa thể góp ý kiến trong bài kinh này. Kính mới các Sư Trung Thiện, Sư Ven Adhiṭṭhāna, Sư Đức Hiền, Sư Tiểu Lâm, Sư admin Rama Bhik v.v.. giúp cho ý kiến về ý nghĩa của bài kinh này. Bài MN 009 này hơi “bị khó” về mặt từ ngữ nên có thể mọi người sẽ hiểu sai nội dung. Kính!

Phạm Doãn

Rất vui khi nhìn thấy Do Vi có bước vào đây (nhìn thấy cháu click LIKE qua nhiều Document. hi hi hi… Đọc mấy bài kinh này thực sự rất khó với nhưng ai mới nghiên cứu. Bài kinh nói về Triết lý tổng quát của Đạo Phật. Biết cháu đang tìm hiểu về “samadhi in relation to enlightenment” nên chú sẽ post riêng cho cháu một vài thông tin. Nếu cháu đã nắm rồi thì… cho phép những bạn mới đọc ké. Nếu cháu phát hiện được một vài điều thú vị, thì đó là món quà của group gởi đến cháu. OK!

Hoa Nguyen ‎@Thien Nguyen Ba.

Có đoạn giải thích của ni sư Trí Hải sau đây, ngắn nhưng cũng đủ nghĩa.
“Thức ăn có bốn loại: đoàn, xúc, tư niệm và thức. Đoàn thực (“đoàn” là nắm cơm, theo kiểu ăn bốc) nuôi thể xác hay sắc; xúc thực (sự tiếp xúc giữa căn và trần) nuôi thọ; tư niệm thực nuôi dưỡng thức; thức thực nuôi dưỡng danh sắc ” (NS Trí Hải).
Tư niệm thực hiểu như những ý tưởng, suy nghĩ, hồi ức, tạo và nuôi dưỡng thức.

Thuận Pháp Dhammiko

Năm thủ uẩn là Khổ – pañcupādānakkhandhā dukkhā??? Có năm uẩn này là khổ hay chấp thủ vào năm uẩn là khổ? Xin ý kiến quý Sư, quý vị ạ!

Hạnh Trương chữ THỦ có đó mà đ/c ơi ?

Thuận Pháp Dhammiko

Tại sao trong kinh nói đại ý là cái thân ngũ uẩn này sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ,…mà đức Phật còn nói thêm năm thủ uẩn là khổ nữa để làm gì??? :)

Hoa Nguyen

Năm uẩn là khổ ? Tôi không biết được giải thích thế nào, nhưng năm uẩn cũng là nguồn an lạc, nếu chúng hoà hợp, lành mạnh, không chấp trước 6 trần, và cùng làm thiện pháp. Ít ra, phải có thức uẩn mới có các Tri và Trí (tuệ), và phải có đủ n…See More

Hoa Nguyen

Bài kinh Chánh Tri kiến do ngài Sariputta (Xá-lợi-phất) là đệ tử có trí tuệ bậc nhất của Phật thuyết giảng. Điều này có ý nghĩa đặc biệt gì không.

Thien Nguyen Ba

Dạ, Thọ trong duyên danh sắc (Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, chư Hiền, như vậy gọi là danh) và duyên “Thọ” trong mười hai nhân duyên có giống nhau hay là khác nhau?

Hoa Nguyen

Ta thấy Thọ trong ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và nằm trong Danh ((Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý) là một. Trong 12 Nhân Duyên, Thọ nằm sau Thức, Danh Sắc, Lục nhập (6 căn), Xúc (và Thọ). Như vậy, Thọ cũng do 6 căn tiếp xúc với đối tượng của chúng (trần cảnh, pháp) mà sinh ra.
Nhưng câu hỏi của Thien NB làm tôi thắc mắc một điều. Theo thứ tự 12 Nhân Duyên, khi đến Danh (sắc) đã bao gồm có Thọ bên trong (danh), mà lúc đó thì chưa có Lục nhập, và Xúc. Vậy Thọ trong Danh từ đâu mà có ? Danh này (nằm sau Thức) có lẽ chưa phải là Danh có đầy đủ các thành tố tạo ra nó ?

Hoa Nguyen

Thử tìm cách giải đáp thắc mắc trên. Trước hết, chúng ta không biết vòng 12 Nhân Duyên bắt từ lúc nào. Kinh sách nói Vô minh khởi từ vô thuỷ, và tiếp theo là Hành, Thức, Danh Sắc,…Thọ,…rồi trở lại Vô minh, lặp thành chu kỳ mới. Danh Sắc đầu tiên (nếu tưởng tượng được DS đầu tiên) chỉ mới là phôi thai, tuy tiềm ẩn Thọ, nhưng chưa có nhân tố Thọ rõ rệt, nên chưa thể là Danh Sắc đúng nghĩa (hay như sau này). Đến khi có Nhập, Xúc, Thọ, Ái…, thì Thọ được Xúc nuôi dưỡng, phát triển, và Thọ trở lại nuôi dưỡng, phát triển Danh Sắc. Tính cách tương tác giữa các nhân tố trong 12 nhân duyên là hiển nhiên, và từ kiếp này qua kiếp khác, vòng 12 Nhân duyên cứ tiếp diễn, để Danh Sắc lại là nhân phát sinh ra (dẫn tới) Thọ, và Thọ lại nuôi dưỡng trở lại Danh Sắc ở kiếp này và mang sang kiếp khác. Vì thế trong Danh Sắc (ngay ở thai nhi) luôn hàm chứa nhân tố Thọ sau này.

Hoa Nguyen

Ngài Sariputta (Xá lợi phất) giảng nhiều kinh trong Trung bộ, như kinh Thừa tự pháp (số 3, phần cuối), kinh Không Uế nhiễm (số 5), kinh Chánh tri kiến (số 9), Đại kinh Ví dụ dấu chân voi (số 28)., và các kinh số 43, 69, 97, 114, 143. Bài kinh ngài giảng thường đi sâu vào nhiều chi tiết, rất khúc chiết.

Hoa Nguyen

Ngài Sariputta (Pali) hay Sariputra (Sanskrit), tức Xá lợi phất, là bậc đại trí tuệ, xuất thân từ gia đình Ba-la-môn. Ngài được coi là đã thuyết giảng lại theo lời giảng của Phật, hay chính là soạn giả, bộ luận Abhidharma (A-tỳ đạt ma, Vi Diệu pháp) được truyền tụng từ thời các bộ phái, và sau này được Nam tông và Bắc tông chú giải, phát triển thêm. Quan niệm thông thường cho Nam tông sùng kính nhất ngài Sariputta (chỉ sau Phật), còn Bắc tông sùng kính ngài Maha Ca Diếp hơn. Nhưng kinh Kim Cang trong bộ Bát Nhã của Bắc tông là ghi lại những lời đối thoại giữa Phật và ngài Xá lợi phất (về phá chấp), và Bát nhã Tâm kinh là lời bồ tát Quán Tự Tại nói với ngài Xá lợi phất (“Xá lợi tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc…”). Ngài Sariputta viên tịch sáu tháng trước khi Phật nhập Niết bàn.

Hạnh Trương

“Từ tập khởi của lậu hoặc, có tập khởi của vô minh; từ đoạn diệt của lậu hoặc, có đoạn diệt của vô minh” và
“Từ tập khởi của vô minh có tập khởi của lậu hoặc; từ đoạn diệt của vô minh có đoạn diệt của lậu hoặc”
Giải quyết chỗ nào sao giờ , hihi

Phạm Doãn

Lại gặp cái paradox: Con Gà sinh ra cái Trứng hay Cái Trứng sinh ra con Gà !!!:P

Phạm Doãn

Kính thỉnh các PhD và chuyên gia các nghành khoa học tham gia trong “Pali Chuyên Đề” xúm nhau lại thử đưa ra một resolution cho những cái paradox mà chúng ta cũng rất thường hay gặp như vậy từ triết học cả Đông lẫn Tây, và có khi ngay cả trong khoa học thực nghiệm. Kính mời anh Binh Anson, Vo Thi Huyen Chi, Pham Van So, Hạnh Trương, Sư cô Pham Hoa, Thich Nu Nguyen Huong, Hiếu Nguyễn, Nguyễn Viết Huy, Nguyen Ba Thanh, Thien Nguyen Ba v.v…

Thien Nguyen Ba

Câu hỏi của Anh Hạnh Trương hơi khó đây :) .
Khi em đọc MN 009 đến đoạn này, em phải đọc ngược lại đoạn vô minh và lậu hoặc nhiều lần.
Theo cách nghĩ của riêng em:
“TUỆ TRI VÔ MINH” là cái “quyết định” nhất.
“ĐOẠN DIỆT LẬU HOẶC” là cái “quan trọng”.

1. “TUỆ TRI VÔ MINH” thì trong MN 009 có dạy: “Sự không tuệ tri về khổ, không tuệ tri về khổ tập, không tuệ tri về khổ diệt, không tuệ tri về con đường đưa đến khổ diệt, Chư Hiền, như vậy gọi là vô minh”.
2. “ĐOẠN DIỆT LẬU HOẶC” thì lại liên quan đến bài kinh MN 002 Kinh Tất cả các lậu hoặc (Sabbàsava sutta) http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung02.htm

Hoa Nguyen

Ngài Sariputta đã suy tư 12 Nhân Duyên theo chiều ngược, đi từ Lão Tử trở lên đến Vô minh, và Phật trước khi xuất gia cũng từng suy nghĩ như vậy: chứng kiến cảnh sinh lão bệnh tử, ý thức là Khổ , và quyết chí xuất gia để tìm thấy Khổ đế (là do Vô minh). Đây là điều thường thấy trong phát kiến khoa học, từ quan sát hiện tượng suy ra nguyên lý vận hành chung. Thí dụ Newton thấy trái táo rụng mà suy ra luật hấp dẫn của vũ trụ.

Nguyễn Viết Huy

Nếu lấy Tứ Diệu Đế làm hệ quy chiếu thì ta thấy hai đoạn văn trên không rơi vào Paradox: Con gà và quả trứng, em diễn giải lại mệnh đề trên như sau: Gọi lậu là Khổ 1, Vô minh là Khổ 2, ta không bàn tới sự liên quan giữa Khổ 1 và Khổ 2.

“Từ nguyên nhân của khổ 1, có tập khởi của khổ 2, (cả hai đều do không biết quán chiếu Tứ Diệu Đế), từ đoạn diệt của khổ 1, có đoạn diệt của khổ 2, ( cả hai đều diệt do biết phương pháp quán chiếu Tứ Diệu Đế)

Tương tự như vậy với mệnh đề 2, như vậy ta quy về hệ quy chiếu Tứ Diệu Đế mà không rơi vào hệ quy chiếu là mối liên quan giữa Lậu và Vô Minh cái nào có trước. Bởi cái ta quan tâm là Tứ Diệu Đế.
Đây là ý kiến chủ quan của em.:)

Hạnh Trương

Không đơn giản vậy đâu Huy ơi, cái này cần quán chắc bể đầu đó.
Trong kinh, gặp 2 nút thắt là ở chỗ này { vô minh và lậu hoặc } và chỗ { thức và danh sắc }.

Nguyễn Viết Huy

Anh lăn tăn chuyện con gà và quả trứng, nút thắt về mặt logic là do A sinh ra B rồi lại gặp đoạn khác là do B sinh ra A đúng không ạ?

Em thấy bản tiếng Anh họ dịch là : ” With the arising of the taints there is the arising of ignorance “
Như vậy thì nó khác so với Because of, tại sao họ không dịch là Because of, tức ở đây không dùng mệnh đề kéo theo, suy ra, mà dùng With tức là có phép giao hai mệnh đề với nhau chứ chưa chắc đã phải dịch là Từ cái này ra cái kia đâu anh.

Bản thân em thì em không thấy mâu thuẫn hay nút thắt gì vì về mặt logic nó rất phù hợp với Tứ Diệu Đế, bài Kinh này chủ yếu Ngài Xá Lợi Phất đề cao phép quán Tứ Diệu Đế: Đây là khổ, nguyên nhân của khổ, diệt khổ và con đường diệt khổ, thay từ khổ bằng vô minh, lậu, thức,… trong 12 nhân duyên kết quả vẫn như vậy, còn chúng ta hình như sa đà vào việc phân tích chuỗi 12 nhân duyên và mối liên quan thì phải, theo em thì ý Ngài dạy là quán chiếu mắt xích nào trong 12 mắt xích đến mức tuyệt đối thì thoát khỏi nó và thoát khổ chứ Ngài không dạy mình quán chiếu mối liên quan giữa nó. Thoát khổ mới là mục đích tối thượng.

Nguyễn Viết Huy

Đoạn đầu bài Kinh Ngài dạy phương pháp quán chiếu chung là Tứ Diệu Đế, sau đó lần lượt Ngài thay từ Khổ ở phương pháp ấy bằng các từ như : hữu, thủ, ái, thọ……. lần lượt 12 duyên khởi Ngài thay nó vào rồi dùng Tứ Diệu Đế là quán xét đến mức giải thoát, giải thoát khỏi một trong 12 là giải thoát tất cả, vì nó có mối liên quan đến nhau, Ngài dạy chúng ta quán chiếu một trong tất cả, còn chúng ta thì đi tìm mối liên quan trong cái tất cả kia thì phải, tất nhiên là liên quan nhưng nếu chúng ta tìm hiểu nó thì nó chính là Tập của cái nào đó sinh khởi thì sao, biết đâu Tham tùy miên sanh khởi, rồi Ái lại sinh khởi, rồi Thủ, Hữu lại sinh khởi, thế là vẫn chẳng thoát khổ, mà vẫn chưa tìm ra câu trả lời. Ngài dạy quán một cái nào mà hiểu rõ, biết rõ, tuệ tri chỉ cần một duyên nào đó trong 12 duyên khởi chứ không phải đi tìm mối liên quan giữa chúng.

Nguyen Ba Thanh

Trong MN38 có nói về duyên theo chiều thuận và nghịch. Thường em đọc đến cái nào mà thấy khó thì … bỏ qua :D Rồi nghe giảng pháp quán của các Sư. Về 12 nhân duyên em thấy Ngài thiền sư Mogok Sayadaw dạy rất hay.

Hạnh Trương

<<chứ Ngài không dạy mình quán chiếu mối liên quan giữa nó.>>
Cái này là trái hoàn toàn với lý duyên khởi, do có cái này mà có cái kia, do cái này diệt mà cái kia diệt.
Tạm thời ngưng cái này thôi :)

Nguyễn Viết Huy

Một là : Ngài dạy quán chiếu mối liên quan giữa nó ở bài khác không phải bài này. Đang nói về bài này mà anh.

Hai là: Cái do cái này có mà cái kia có, do cái này diệt mà cái kia diệt là đoạn này cần phải xem và nghiên cứu kỹ lại đó bác. Trong đoạn Kinh nào, bác vẫn khắt khe trong chuyện trích dẫn mà :)



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s