. Sub-DOC MN-10: Katame cattāro?

Ven Adhiṭṭhāna

Cố gắng dịch và phân tích một cách khách quan nhất.

‘‘Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

“Bốn điều nào? Ở đây (ngay trong giáo pháp này), này các thầy tỳ khưu ! một vị tỳ khưu trú trên thân có sự theo dõi thân, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các cảm thọ, có sự theo dõi cảm thọ, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên tâm, có sự theo dõi tâm, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các pháp, có sự theo dõi pháp, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian.

Phân tích ngắn:

•           Idhāti imasmiṃ sāsane – ngay trong giáo pháp này

•           Ātāpīti tīsu bhavesu kilese ātāpetīti ātāpo, vīriyassetaṃ nāmaṃ. Thiêu đốt ba phiền não gọi là ātāpa, với sự tinh tấn như vậy gọi là ātāpa. ( ā + căn tap với căn tap mang nghĩa thiêu đốt)

•           Sampajānoti sampajaññasaṅkhātena ñāṇena samannāgato – sự sở hữu được trí tuệ (saṃ + pa + căn ñā)

•           Kāyānupassī = kāyaṃ + anupassīti đây là 1 dạng dutiya vibhatti tappurisa samāsa (sử dụng như tính từ) – (người) có sự theo dõi trên thân

•           anupassī – anu + căn dis + ṇī tiếp vĩ ngữ – người nào đó có sự theo dõi, quan sát; đây là một dạng assatthi taddhita.- ‘‘anupassī’’ti tattha katamā anupassanā? Yā paññā pajānanā…pe… sammādiṭṭhi. Ayaṃ vuccati anupassanā. Imāya anupassanāya upeto hoti samupeto upāgato samupāgato upapanno sampanno samannāgato. Tena vuccati anupassīti. (trong chú giải aṭṭhakathā chỉ giải thích đại khái vậy thôi)

•           vineyya – đây là dạng sattamī vibhatti của từ vineti (vi + ni +e), căn ni có nghĩa là dẫn dắt, nhưng lại có nghĩa khác là loại bỏ.

Nhờ sư huynh Từ Minh kiểm tra lại trong Nissaya của Myanmar, hay trong tự điển họ phân tích các từ anupassī, kāyānupassī, ātāpī, v.v. như thế nào.

Ven Adhiṭṭhāna

‎Tiểu Lâm vô phụ tí đi, coi có chỗ nào lỗi không ? :D

Hạnh Trương : Sợ lỗi kìa, hehe

Hạnh Trương

Kāyānupassī = người đang quán sát thân.

Sư dùng từ này với vai trò nào trong câu ạ, chủ ngữ đi với viharati, hay là ….

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Hạnh Trương

chủ ngữ (subject) là bhikkhu, các từ như kāyānupassī, ātīpī, satimā, sampajāno đều là tính từ bổ nghĩa cho 1 vị tỳ khưu :D ., với viharati là động từ.

Quên phân tích chữ santimā là dạng biến thể chủ cách số ít từ chữ santimantu (với tiếp vĩ ngữ mantu- mang nghĩa là có, hay sở hữu)

Hạnh Trương

Vậy nhờ Sư giải đáp tiếp nha

1. Vị tỷ khưu làm gì? Vị ấy trú (viharati)

2. Trú ở đâu? ở thân ( kāye)

3. Thân nào? Cái thân mà đang được quán sát đó (Kāyānupassī)

4. Trú như thế nào? Trú với nhiệt tâm, với niệm, với sự biết rõ ( nhờ tuệ)

Vậy đã đúng ý Sư chưa ạ?

Ven Adhiṭṭhāna

theo suy nghĩa cá nhân của sư là vậy đó :D

Hạnh Trương

Có vị nào có suy nghĩ khác không ? Cái suy nghĩ cá nhân này của Sư quá gớm nha, hehe

Ven Tiểu Lâm và Ven Từ Minh có phản biện gì không ạ?

Hạnh Trương

Có cảm giác là một quả bom sắp nổ :D

‎Ven Adhiṭṭhāna là “kẻ châm ngòi”, tội vạ nếu có thì chuẩn bị chịu chung nha Sư, hihi.

Hiếu Nguyễn

Vậy câu đó hiểu 1 lèo là: vị tỳ khưu trú với nhiệt tâm, có niệm, có sự biết rõ (nhờ tuệ) ở trên thân, cái thân đang được quán sát -> chứ không phải là quán thân trên thân?

Viết dài ra hơi lủng củng nhưng rõ nghĩa hơn hẳn. Mời Ven Tiểu Lâm và Ven Từ Minh đưa ra ý kiến riêng ạ.

Ven Adhiṭṭhāna

Một điểm đáng lưu ý tiếp tục – Chữ viharati nên hiểu thế nào cho đúng bây giờ? nếu dùng chữ “trú”, không khéo lại có thể hiểu lầm (hiểu nhầm là an trú trong thanh tịnh phiền não); để đơn giản hóa cách hiểu của chữ này theo chú giải đành phải truy tìm chủ từ bhikkhu ở đây đang nói về 1 vị tỳ khưu như thế nào?

Bhikkhūti paṭipattisampādakapuggalanidassanametaṃ. Aññepi ca devamanussā paṭipattiṃ sampādentiyeva- (ở đây) chữ tỳ khưu là hình ảnh của hạng người có sự cố gắng trong việc thực hành. Nói một cách khác, (chữ tỳ khưu) cũng dùng cho chư thiên và nhân loại đang cố gắng thực hành. Như vậy, chủ từ ở đây bhikkhu đang nói về 1 vị tỳ khưu đang cố gắng thực hành, 1 người bình thường. Như vậy, chữ viharati nên được hiểu theo nghĩa là “sống” , “sống” như thế nào ? kāyānupassī- theo dõi thân, ātāpī – có nhiệt tâm, sampajāno – có sự hiểu biết, satimā – có chánh niệm, kāye – trên thân, (thì mới) có thể loại bỏ- vineyya, abhijjhādomassaṃ – tham ái và sân hận, loke- tại thế gian.

Hạnh Trương

“có thể loại bỏ- vineyya?”

Sư giải thích thêm chỗ này đi nhé.

Chữ “sống” nó có vẻ rộng quá Sư ạ, đang ngủ cũng là sống mà, ngủ thì một vị tỷ kheo bình thường làm sao mà có nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm được ?

Nếu Sư đưa hết toàn bộ cụm sau vào bổ nghĩa cho “sống”, trả lời cho câu hỏi sống như thế nào, HT thấy có vẻ cũng rộng quá. HT nghĩ ngữ pháp Pāḷi rất chặt chẽ ạ.

Đành phải nhờ Sư phân tích lại lần nữa ạ.

bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ

1. ai viharati? bhikkhu

2. viharati chỗ nào, ở đâu? ở thân (kāye)

3. thân nào (kāyā): thân đang được quán (kāyānupassī)

4. viharati như thế nào ? ātāpī sampajāno satimā

5. làm cả 4 cái trên thì có thể đạt cái gì? (để làm gì?) vineyya loke abhijjhādomanassaṃ

Có gì hơi sai là Sư xử lý luôn nhé, mình đang thuần túy nghiên cứu ngữ nghĩa thôi ạ, chứ giờ áp thực hành vào là nó ra tè le liền :)

Ven Adhiṭṭhāna

đơn giản hóa chữ sống (viharati) cũng là vì mục đích nhấn mạnh “sự duy trì niệm (satimā), sự nhận biết (sampajāno), nhiệt tâm (atīpī), sự theo dõi thân (kāyānupassī) trong đời sống của một vị tỳ khưu thời Đức Phật, và cũng nhằm mục đích đơn giản hóa đi ngay trong chính đời sống của các vị, không có gì cao siêu, huyền bí cả”. Một lẽ tự nhiên 1 vị tỳ khưu sẽ phải nỗ lực, nhận biết, duy trì chánh niệm, sự theo dõi thân cho đến khi nào vị đó tự chìm vào giấc ngủ thôi :D

1. ai viharati ? bhikkhu (paṭipattisampādaka bhikkhu) 1 vị tỳ khưu đang hành pháp (nói cách khác 1 vị phàm nhân tỳ khưu)

2. vị đó làm gì ? vị đó sống (viharati)

3. vị đó sống ở đâu ? kāye (kāyarūpe) ngay trên thân

4. vị đó “sống” như thế nào (bao gồm các yếu tố nào trong đời sống của 1 vị tỳ khưu)? ātīpī (nhiệt tâm, tinh cần); sampajāno (có sự nhận biết), satimā (có chánh niệm), kāyānupassī (có sự theo dõi, quan sát thân)

5. “nếu” thành tựu 4 các yếu tố đó, vị tỳ khưu sẽ “có thể” có được những gì ? vineyya loke abhijjhādomanassaṃ (có thể loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian)

eyya là 1 tiếp vị ngữ dùng chia động từ ở dạng điều kiện số ít, “nếu” có cái này, thì “sẽ có thể” có cái kia (nếu 1 vị tỳ khưu có 4 yếu tố kể trên, thì sẽ có thể loại bỏ được tham ái và sân hận)

Hạnh Trương

‎”4 cái đó” là giữ vai trò ngang nhau, hay là 3 cái kia bổ ngữ cho 1 cái kāyānupassī hả Sư.

Ven Adhiṭṭhāna

‎4 chi đó ngang nhau bổ sung cho bhikkhu.

Hạnh Trương

Về mặt ngữ pháp nó là ngang nhau phải không Sư, nếu hiểu 3 cái kia bổ ngữ cho kāyānupassī thì có bị sai không?

Vì trên thực tế, khó mà làm việc 4 cái đó ngang nhau được, không thể vừa quán thân ( lấy thân và .. làm đối tượng), không thể duy trì một niệm quán thọ, hoặc nhiệt tâm làm việc cdf….

Hơn nữa, sampajāno là một trợ thủ đắc lực của kāyānupassati, giờ là tới lúc gí Sư đó, hihi.

Ven Adhiṭṭhāna

về mặt ngữ pháp các chữ này ngang nhau nhưng qua tới phần nhìn trên thọ (vedanāsu) thì lại đổi thành vedanānupassī, cũng như vậy, cho hai phần còn lại. Đức Phật Ngài giảng theo tuần tự, thì tuần tự mà hành thôi

Kāye, vedanāsu, citte, dhammesu (trên thân, trên thọ, trên tâm, trên pháp)

Hạnh Trương

Vậy hiểu là 3 cái kia bổ trợ cho cái này đúng không Sư?

(vì) Nếu không phải vậy thì ta sẽ có tới 7 pháp độc lập, 3 cái này và 4 cái kia (TTTP), hihi.

Hạnh Trương

<<Đức Phật Ngài giảng theo tuần tự, thì tuần tự mà hành thôi>>

cái này HT có quan điểm khác, nó như học võ thôi, lúc học thì có thứ tự, vì không thể nói 1 lúc hết các thứ được, còn khi thực hành thì tùy địch thủ ra sao mà mình dùng chiêu phù hợp.

Nếu quán thọ mà nhiếp phục được tham ưu thì dùng quán thọ, nếu quán tâm mà nhiếp phục được … thì dùng quán tâm… làm riết rồi nó … hihi.

Chanhtrikien Nhanqua Hay quá!

“Nếu không phải vậy thì ta sẽ có tới 7 pháp độc lập, 3 cái này và 4 cái kia (TTTP), hihi.””Nếu quán thọ mà nhiếp phục được tham ưu thì dùng quán thọ, nếu quán tâm mà nhiếp phục được … thì dùng quán tâm… làm riết rồi nó … hihi.”

Bạn Hạnh Trương làm rõ 3 cái này là gì luôn nhé! Cho rõ thêm mà.

Câu hỏi: Nếu là độc lập: Vậy ta có thể luôn luôn quán tâm không? Không cần quán 3 cái còn lại?Hay là có lúc ta quán tâm, có lúc ta quán thọ, có lúc ta quán thân, có lúc ta quán pháp?

Hạnh Trương

Đã nói chuyện đánh nhau rồi mà, địch nó đá vào dưới thắt lưng, lại cứ đỡ mặt sao :)

Chanhtrikien Nhanqua

‎:) hiểu rồi!

Nhưng vẫn chưa thỏa mãn :) . Hỏi tiếp:7 pháp độc lập: 3 cái này và 4 cái kia (quán thân, thọ, tâm, pháp).

3 cái này có phải là: ātīpī (nhiệt tâm, tinh cần); sampajāno (có sự nhận biết), satimā (có chánh niệm) không vậy bạn Hạnh Trương?

==> Và kết quả có phải là chế ngự tham ưu ở đời, và tổng hợp kết quả cuối cùng là Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Hạnh Trương

‎3 cái này đúng là 3 cái đó :) , còn kết quả thì còn tùy làm 3 cái đó với 4 cái kia tới đâu :) ( ý riêng của HT thôi nha)

Thuận Pháp Dhammiko to ‎Ven Adhiṭṭhāna:

<<“Bốn điều nào? Ở đây (ngay trong giáo pháp này), này các thầy tỳ khưu ! một vị tỳ khưu trú trên thân có sự theo dõi thân, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các cảm thọ, có sự theo dõi cảm thọ, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên tâm, có sự theo dõi tâm, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các pháp, có sự theo dõi pháp, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian.>>

một vị tỳ khưu trú trên thân có sự theo dõi thân, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, NẾU VẬY THÌ (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian;…(TP cảm ơn Ven Adhiṭṭhāna nhiều vì kiểu dịch này :)

Bài kinh nói rằng, một vị muốn niệm thân thì phải trú trên thân mà niệm, muốn niệm thọ thì phải trú trên thọ mà niệm,…và muốn sự niệm có hiệu quả thì phải có sự hiểu biết, có nhiệt tâm, làm miết như vậy thì loại bỏ được tham, ưu ở trên đời.

Hạnh Trương ‎

Ven Adhiṭṭhāna ơi, chữ Abhijjhā chiết tự thế nào mà nó ra thành THAM Sư nhỉ, cứu đi, hihi.

Abhijjhā (f.) [fr. abhi + dhyā (jhāyati),

dhyā này có liên quan gì tới từ THIỀN không Sư nhỉ?

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Hạnh Trương

căn dhyā này của Saṅkrit à nha, của Pāḷi là căn Jhā, căn jhā này có nghĩa là thiêu đốt, có lẽ đây là 1 cách chơi chữ khi ví abhijjhā (abhi +jhā) như là 1 sự đốt nóng, nói cách khác lửa tham.

Tại sao nó gọi là tham, vì trong chú giải của Dhammasaṅginī Aṭṭhakathā dùng chữ abhijjhāyati để diễn tả tính chất của abhijjhā như 1 lobha. :D

Hạnh Trương

trời ơi, không chơi lôi chú giải ra dọa chứ, hihi. Jhā có phải là căn trong chữ jhāna không Sư nhỉ?

Ven Adhiṭṭhāna

nếu hiểu abhijjhā theo nghĩa đen (về mặt từ ngữ) thì có thể dùng căn jhā trong chữ jhāyati sự thiêu đốt, để ví tham như 1 sự thiêu đốt.nếu dùng chú giải dhammasaṅginī aṭṭhakathā thì abhijjhā được định nghĩa bằng từ abhijjhāyati. Theo tự điển thì chữ Jhāyati – thiền tập, lại từ căn Jhe. Cái này cần phải coi lại :D

Hạnh Trương:

Sư coi giùm thêm nha Sư :)

Không là HT hiểu nó là sự thiêu đốt tâm ưu một cách abhi đó, hihi

Ven Adhiṭṭhāna

cứ hiểu là lobha – tham là tốt nhất, còn cái vụ thiêu đốt chỉ là cách chơi chữ thôi :) )

Hạnh Trương

Ủa , chữ nó khác mà sao mình lại cứ hiểu là lobha được ạ, hihi.

Thuận Pháp Dhammiko

Đức Phật chơi chữ kinh quá? Vì sao THAM được ví như sự thiêu đốt Ven Adhiṭṭhāna? Thường thì tham là muốn thêm, nắm giữ thêm; còn sân mới là thiêu đốt chứ!

Hạnh Trương

chữ thiêu đốt có từ bài kinh được nói cho các du sỹ của ngài Kasapa rồi, nhưng không lẽ dùng ở đó một lần là chỗ khác cũng phải hiểu thiêu đốt là tham :)

Thuận Pháp Dhammiko

Có thể đây là một từ khác mang nghĩa là Lobha thôi, như Paṭigha cũng mang nghĩa là Dosa vậy???

Ven Adhiṭṭhāna

nói đi nói lại quên nói chỗ này chữ abhijjhādomanassaṃ trong trường hợp này nên được hiểu là abhijjhā ca domanassaṃ ca

Hạnh Trương

Nói vậy chứ Ven Adhiṭṭhāna trích giùm chỗ chú giải đi nhé, nếu ở đó chú giải hợp lý thì ta nghe theo, không hợp lý thì ta đào tiếp, hihi. Còn bắt ép là nó là lobha thì ta không chịu :)

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Hạnh Trương

cái này chắc phải đợi 2 vị này vô phụ tiếp quá Ven.Từ Minh, Ven. Tiểu Lâm

Thuận Pháp Dhammiko ‎to Chanhtrikien Nhanqua:

<<Câu hỏi:Nếu là độc lập: Vậy ta có thể luôn luôn quán tâm không? Không cần quán 3 cái còn lại?Hay là có lúc ta quán tâm, có lúc ta quán thọ, có lúc ta quán thân, có lúc ta quán pháp?>>

Nếu một hành giả mới tu tập thiền, thì tốt nhất nên quán thân trước. Vì thân là cái dễ thấy nhất để mà theo dõi, ghi nhận. Phần thọ, tâm, pháp thuộc phần tinh thần rất khó thấy, khó ghi nhận.+ Còn đ/v vị hành thiền thuần thục rồi thì ghi nhận cái nào trước cũng được trong 4 cái, miễn là dễ ghi nhận nhất.

Đó là nói đến NIỆM thôi, còn thực hành TỨ NIỆM XỨ như thế nào để loại trừ được tham, ưu vẫn còn dài dài, tốt nhất là tìm một vị thầy có kinh nghiệm hướng dẫn cho. Pháp hành của đức Phật có sự truyền thừa, không dễ gì mà tự học kinh điển rồi thực hành để đạt được kết quả tốt đẹp đâu!

Tiểu Lâm ‎

1/Yasmā panassa na kāyamatteyeva abhijjhādomanassaṃ pahīyati,vedanādīsupi pahīyatiyeva, tasmā ‘‘pañcapi upādānakkhandhā loko’’ti

2/Ayamevettha attho,tasmiṃ loke abhijjhādomanassaṃ vineyyāti evaṃ sambandho daṭṭhabbo.

Yasmā panettha abhijjhāgahaṇena kāmacchando, domanassaggahaṇena byāpādo saṅgahaṃ gacchati, tasmā nīvaraṇapariyāpannabalavadhamma-dvayadassanena nīvaraṇappahānaṃ vuttaṃ hotīti veditabbaṃ.

(Sutta Pi./Maj.Ni/Mula./Aṭṭhakatha)

TL chỉ có thể tìm và copy như vậy thôi. và cũng hiểu theo cách tra từ điển. kính!!

Rama Bhik

Parasampattiṁ abhimukhaṁ jhāyatīti abhijjhā Nghĩ tưởng về của cải người khác nên gọi là abhijjhā ( tham muốn)

jhāyati (v)nghĩ về, suy tưởng. jhāyati là liên tục nghĩ trên một đề mục duy nhất. Nếu tốt thì Chánh Thiền, nếu xấu là Tà Thiền. Định tâm trên sự khao khát vật sỡ hữu của người khác cũng là một thứ “ Định”

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Rama Bhik

kính xin đại đức cho biết nguồn gốc của câu Pāḷi trên

Rama Bhik

Dạ: ṭīkā / Vinayapiṭaka (ṭīkā) / Sāratthadīpanī-ṭīkā-1Abhijjhābyāpādamicchādiṭṭhiyoti ettha parasampattiṃ abhimukhaṃ jhāyatīti abhijjhā, parasampattīsu lobho. Sā pana ‘‘aho vata idaṃ mamassā’’ti evaṃ parabhaṇḍābhijjhāyanalakkhaṇā. Adinnādānaṃ viya appasāvajjā mahāsāvajjā ca. Tassā dve sambhārā – parabhaṇḍaṃ, attano pariṇāmanañca. Parabhaṇḍavatthuke hi lobhe uppannepi na tāva kammapathabhedo hoti, yāva ‘‘aho vata idaṃ mamassā’’ti attano na pariṇāmeti.

Hạnh Trương

Nhờ các Sư nên đoạn đó có thể được hiểu rõ ràng rồi ạ, cảm ơn Sư Ven Adhiṭṭhāna, Sư Tiểu Lâm, và Sư Rama Bhik nhiều ạ.

Phạm Doãn

Trong phần Quán Thân của bài kinh, đoạn 3:
“Atthi kāyo”ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya.
Được Việt dịch là:
”Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.

Kính nhờ Cô Nguyen Huong, các Sư Ven Adhiṭṭhāna, Tiểu Lâm, Rama Bhik v.v… phân tích giúp cụm từ này:
“yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya”
“với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.”
Đã dịch chuẩn chưa?
Hy vọng hướng đến “Chánh Trí” thì hợp lý với bài kinh
Nhưng sao lại còn hy vọng hướng đến “Chánh Niệm”
Tại sao hai hi-vọng lại có khoảng cách quá xa như vậy?
Hoặc là bài kinh Niệm Xứ này có thể được thực hành ở hai giai đoạn khác nhau?
– Giai đoạn đầu lúc mới tu, để đạt Chánh Niệm
– Giai đoạn sau, lúc đã có Định, để đạt Chánh Trí (giác ngộ)
Cám ơn Cô và các Sư rất nhiều.

Phạm Doãn

Câu hỏi của comment trên đã không được mọi người hưởng ứng!
Vì rằng PD cũng không thể tự mình giải quyết được, nên cố xin được đặt lại câu hỏi “gần gần” giống như vậy, một lần nữa:
– Hạng người nào có thể thực hành được bài Kinh Niệm Xứ?
1. Các vị đã tu tập đầy đủ Giới Hạnh?
2. Các vị đã tu tập Giới và đã có Chánh Niệm (đã thành tựu Chánh Niệm)?
3. Các vị đã có Giới, có Chánh Niệm và đã có Cận Định hay một bậc Thiền?
PD đọc Đại Niệm Xứ giảng dạy của Pa Auk Sayadaw, cũng không thấy có giải thích rõ!
Mọi người ai quan tâm xin giúp cho một vài ý kiến!

Phạm Doãn

Thien Nguyen Ba có đặt câu hỏi (trong thread nào đó) khi đã thiết lập Niệm, mà Niệm lại mất đi thì phải thiết lập lại phải không?. Góp ý với trải nghiệm riêng: Khi đã thành tựu Chánh Niệm thì Niệm sẽ bền vững và không mất đi quá nhanh! Năng lực tâm của người đang tu tập Chánh Niệm khác với người đã có Chánh Niệm!

Nguyen Huong

“Atthi kāyo”ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya. Tôi dịch là: “thân này đây” vị đó an trú chánh niệm với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm.” Ở đây nói đến người đang thực hành chánh niệm. Vâng đang thực hành thì khi được khi mất, điều này ai đã thực hành đều biết mà! Người chuyên tâm tu tập thì khi biết mình thất niệm, liền (nỗ lực) thiết lập lại niệm trên thân để không bị vong thân. Trong những khóa tu miên mật, niệm có mặt liên tục và sâu một cách tự nhiên mà không cần phải nỗ lực để đạt được. Đó mới thực sự là có chánh niệm (satimâ). Vì niệm của người sơ cơ và bậc hữu học thì không liên tục và bền vững nên họ phải thực tập (sekhaa) hay tôi luyện thêm càng nhiều càng tốt với mục đích như đã nói trên.

Hạnh Trương

BS Phạm Doãn, đoạn này đã được Ven Adhiṭṭhāna dịch kỹ lại

<<“yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya”
“với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm.”
Đã dịch chuẩn chưa?>>

Phần II : yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya.(phần này cực kì chua )

ñāṇamattāya (chỉ định cách của ñāṇamattā = ñāṇa + mattā)
paṭissatimattāya (chỉ định cách của paṭissatimattā = paṭi + sati + mattā)
với cấu trúc yāvadeva …. mattāya như thế này nên hiểu thế nào cho đúng?

Yāvadevāti payojanaparicchedavavatthāpanametaṃ – yāvadeva ở đây được dùng cho xác định dùng cho một giới hạn – (có nghĩa là) chỉ dành cho (yāva + eva)

Idaṃ vuttaṃ hoti – yā sati paccupaṭṭhitā hoti, sā na aññatthāya. Ở đây được nói là – một cái (chánh) niệm nào được thiết lập, thì cái (niệm) đó không dành cho một lợi ích nào khác. (vậy thì cho lợi ích gì)

Atha kho yāvadeva ñāṇamattāya aparāparaṃ uttaruttari ñāṇapamāṇatthāya ceva satipamāṇatthāya ca, satisampajaññānaṃ vuḍḍhatthāyāti attho.

Vậy thì, chỉ dành cho giới hạn của trí, hơn nữa chỉ dành cho lợi ích “dung lượng” của trí và dành cho lợi ích “dung lượng” của chánh niệm, “nhằm mục đích cho sự tăng trưởng niệm và tỉnh giác” (satisampajaññānaṃ vuḍḍhatthāyāti attho).

Kết lại phần II, như vậy yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya phải được hiểu là “ chỉ dành cho sự phát triển của trí và niệm” nói cách khác (theo chú giải) “nhằm mục đích cho sự tăng trưởng niệm và tỉnh giác” (satisampajaññānaṃ vuḍḍhatthāyāti attho).
Đây là đoạn khó cần làm rõ, vì vấn đề cần đặt ra là hiểu đoạn này như thế nào…

Nguyen Huong

Ngay cả khi hành giả đã đạt đến định tâm khá sâu hay rất sâu, thì trạng thái thiền định đó cũng không phải là vĩnh cửu. Những khi vì các nguyên nhân điều kiện nào đó mà niệm hay định bị mất, hành giả phải thực hành trở lại.

Nguyen Huong

yāvadeva …. mattāya là một dạng idiom, tương đương với “cho đến chừng nào mà…” hay “đến mức độ mà….”

Hạnh Trương

Sư cô có thể viết lại đủ ý của cô muốn diễn đạt cho đoạn văn đó không ạ.

Nguyen Huong

Để trả lời câu hỏi: – Hạng người nào có thể thực hành được bài Kinh Niệm Xứ? Theo tôi thì bất cứ người nào cũng có thể thực hành Từ niệm xứ, trừ người mất trí! Hiện nay Mindfulness-base-stress- management đã được áp dụng cho nhiều bệnh nhân tâm thần dạng nhẹ ở Mỹ và kết quả khá thành công, here

http://www.youtube.com/watch?v=_If4a-gHg_I

Jon Kabat-Zinn – “The Healing Power of Mindfulness”

The Tucker Foundation and Dartmouth Hitchcock Medical Center present Jon Kabat-Z…See More

Hạnh Trương

<<Kết lại phần II, như vậy yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya phải được hiểu là “ chỉ dành cho sự phát triển của trí và niệm” nói cách khác (theo chú giải) “nhằm mục đích cho sự tăng trưởng niệm và tỉnh giác” (satisampajaññānaṃ vuḍḍhatthāyāti attho).
Đây là đoạn khó cần làm rõ, vì vấn đề cần đặt ra là hiểu đoạn này như thế nào…>>

Sư cô Nguyen Huong có phản biện gì về đoạn trên không ạ.
Ngoài ra, chỗ paṭissati(mattāya) , cụm từ paṭissati nên hiểu thế nào cho đúng ạ? khác gì với sati và sammāsati ?

Thuận Pháp Dhammiko

Thực hành Tứ niệm xứ để làm gì mới quan trọng. Thực hành như kiểu trị liệu và chuyển hóa thì không phải là mục đích cao nhất của Tứ niệm xứ. Bài kinh Tứ niệm xứ này đức Phật giảng cho xứ Kuru họ đã có đức tin và giới hạnh trong sạch, kết q…See More

Phạm Doãn

Ghi nhận: Theo cách giải thích của Sư cô Nguyen Huong là Bài kinh TNX dùng cho cả hai mục đích : 1. Thực hiện Chánh Niệm và 2. Thực hiện Chánh Trí. Tất cả các hạng người đều có thể thực hành (trừ người mất trí). Thank cô đã cho ý kiến.

Nguyen Huong

Nó là: cho đến khi nào mà (chánh) niệm và (chánh) trí

Hạnh Trương

Câu trả lời của Sư Cô đã giải tỏa được vướng mắc của BS Phạm Doãn chưa ạ, hihi.

Phạm Doãn

‎”Chánh Trí” là chi thứ 9 trong A La Hán Đạo. Con e rằng một vị mới bước vào tu tập cùng thực hành chung một bài thực tập với một vị sắp thực hiện giác ngộ (qua chi phần thứ 9), thì chắc là có nhiều khó khăn!

Hạnh Trương

Nó là nhầm lẫn trong dùng từ tiếng Việt thôi ạ, cũng như từ chánh niệm vậy ạ, ở Bát Chánh Đạo nó là sammāsati, còn ở đây nó là paṭissati ạ.

Paṭissati được cô Nguyen Huong giải thích ở trên là “cho tới khi nào có sự thường trực của niệm trên bốn xứ..”
Em thấy có sự khác biệt rất rõ đó ạ. Chánh niệm là khác, Chánh Trí là khác, còn ở đây trí và niệm là khác, nó như việc mình làm chủ hoàn toàn một kỹ thuật, thực hiện kỹ thuật đó tới mức toàn mỹ, tới mức tự động…

Nguyen Huong

Vâng, nó là không dễ, và cần rất nhiều “nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác”! Theo tôi được biết thì ở Phương tây, nhiều người đến với Đạo Phật trước hết là vì họ muốn tìm cách thoát khỏi stresses. Khi thực hành thiền Tứ Niệm xứ hay thiền tâm từ, hay bất cứ một phương pháp thiền nào khác, họ mới khám phá ra những mục đích khác cao thượng hơn thường được khuyến khích trong Đạo Phật. Và một số họ bắt đầu tập bố thí (xả bỏ), xuất gia tu hành, vv.

Nguyen Huong Chữ ñāṇamattāya này cũng tương đương với sampajano, tuy nhiên sampajano là một thành tố để có ñāṇamattāya, và ngược lại, ñāṇamattāya có mặt nên cái biết mới là sampajano.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s