. Sub-DOC MN10: Tâm Sở Niệm

Tâm Sở Vấn Đáp

Phần III – Tâm sở Tịnh hảo(Sobhanacetasikā)

Tỳ khưu Chánh Minh

——00O00—–

2- Tâm sở Niệm (saticetasika)

————

13- Hỏi: Sati (niệm) có những ý nghĩa gì?

Đáp: Xuất phát từ ngữ căn sar, nghĩa là nhớ đến [68] , từ ngữ căn sar có động từ sarati (căn sar + a) là “ghi nhớ, mang theo” [69] .

Sati là một danh từ mang nhiều ý nghĩa, trước tiên là “sự chú ý ghi nhớ”, ngoài ra còn một số ý nghĩa khác như “thận trọng ghi nhận, sự tỉnh táo…”.

– Ngài Buddhaghosa có định nghĩa sati (niệm) như sau [70] :

“Sarantitāya, sayaṃ vā sarati saraṇamattameva vā esāti sati: Gọi là niệm vì đã nhớ lại do gìn giữ, hoặc chính nó nhớ lại, hoặc theo dõi (esāti) ”.

Hay: “Saraṇakavasena sati: Niệm là trú nơi cần phải nhớ.” [71] . Như Tứ niệm xứ là: “Bốn nơi cần phải nhớ”, Buddhanussati: “Hồng ân Phật là nơi cần phải nhớ thường xuyên” (tùy niệm Phật)…

– Bộ Pháp tụ (Dhammasaṅgani) có định nghĩa như sau:

Katamā tasmiṃ samaye satindriyaṃ hoti?

Thế nào là chánh niệm trong khi ấy?

Yā tasmiṃ samaye sati anussati paṭissati satisaraṇatā dhāraṇatā apilāpanatā asammussanatā sati satindriyaṃ satibalaṃ sammāsati. Idaṃ tasmiṃ samaye satindriyaṃ hoti.

Trong khi ấy, pháp là sự ghi nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên, niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm. Đây là niệm quyền trong khi ấy [72].

– Sách Atthasālinī có giải thích như sau (sđd):

*- Punappunaṃ saraṇato anussaraṇavasena anussati: Tùy niệm là trú ở nơi cần phải nhớ thường xuyên (như Buddhanussati: Tùy niệm Phật chẳng hạn..)

*- Abhimukhaṃ gantvā viya saraṇato paṭisaraṇavasena paṭissati:

Tưởng niệm là ẩn trú nơi giúp đởcho sự ghi nhớ, như sự ghi nhớ đã đến (gantvā) hiện diện (abhimukha).

*- Saraṇākāro saraṇatā: Làm nhớ lại là ký ức.

*- Dhāraṇabhāvato dhāraṇatā: Thực trạng (bhāva) có mang theo là không quên.

Tức là những gì ghi nhớ rồi, đều được mang theo, nên gọi là “không quên”.

*- Apilāpanabhavo apilānatā: Thực trạng không trôi nổi là chìm vào.

Ārammaṇañhesā anupavisati, tasmā apilāpanatāti vuttā: Sự ghi nhớ chìm sâu vào cảnh, đó gọi là”không lơ đãng” [73] .

Không giống như trái bí hay cái bình rổng không thể chìm vào nước, niệm có tính cách chìm sâu vào đối tượng, nên niệm mang ý nghĩa là “chìm vào (apilānatā)”.

*-Cirakatacirabhāsitānaṃ asammussanabhāvato asammussanatā:

“Không quên là thực trạng không nhầm lẫn các hành động hay lời nói, với thời gian dài”.

14- Hỏi: Sự nhớ lại của niệm và tưởng (saññā) khác nhau như thế nào?

Đáp: Tuy niệm và tưởng có sự nhớ lại, nhưng có sự khác biệt là:

Tưởng nhớ lại do một dấu hiệu (nimitta) đã từng gặp, sự nhớ lại này có khi đúng có khi sai. Vì sự nhớ của Tưởng ví như trái bầu hay trí bí trôi nổi trên nước, còn sự nhớ của Niệm thì chìm sâu trong cảnh.

Có nhiều lần chúng ta thấy một người lạ, có cảm tưởng đã từng gặp, nhưng thật ra chưa từng gặp bao giờ, chỉ vì người lạ này có những dấu hiệu giống như người đã từng gặp.

Trái lại, sự nhớ lại của niệm là sự nhớ lại chính xác vì dấu hiệu được ghi rõ ràng.

Có thể hiểu như vầy: “Người thợ mộc thấy miếng gỗ y nghĩ sẽ dùng miếng gỗ này làm mặt bàn, vài ngày sau y nhìn miếng gỗ khác y nghĩ “đây là miếng gỗ mà ta định dùng làm mặt bàn”, sở dĩ y nhầm lẫn vì mảnh gỗ thứ 2 có những nét giống mảnh gỗ thứ nhất. Đây là ví như sự nhớ của tưởng.

Cũng trong ví dụ trên, người thợ mộc ghi dấu vào mảnh gỗ, khi nhìn lại y nhớ ngay và không nhầm lẫn. Đấy ví như sự ghi nhớ của niệm.

Chính vì sự nhớ lại của tưởng có đúng có sai nên tưởng thuộc tâm sở tợ-tha. Sự nhớ lại của niệm luôn chính xác, có sự phân biệt đúng sai, tốt xấu nên niệm là tâm sở Tịnh – hảo biến hành.

Đức Nagāsena (NaTiên) có cho ví dụ như sau:

Như người canh giữ Hoàng cung, y ghi nhận và biết rõ “đây là người có lợi ích đến Đức vua, đây là người xa lạ với Đức vua, đây là người mang tai họa đến đức vua”.

Với người có lợi ích cho Đức vua, người gác cửa sẽ cho vào, người xa lạ hay mang tai họa đến Đức vua, người gác cổng ngăn chặn lại.

Cũng vậy, niệm ví như người gác cửa Hoàng cung, cảnh ví như người khách, Đức vua ví như tâm; cảnh nào làm cho tâm phát sinh bất thiện pháp, niệm sẽ ngăn chận lại, còn cảnh nào làm cho tâm sinh khởi hay tăng trưởng thiện pháp thì niệm sẽ đón nhận.

Đức Phật có dạy:

“Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekadhammampi samanupassāmi yena anuppannā vā kusalā dhammā uppajjanti uppannā vā akusalā dhammā parihāyanti yathayodaṃ, bhikkhave, appamādo”.

“Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳkhưu, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sinh khởi và các pháp bất thiện đã sinh được đoạn tận, này các tỳ khưu như không phóng dật”[74] .(Appamāda là tên gọi khác của niệm).

Một điểm biệt nữa: Dấu hiệu (nimitta) mà tưởng nhớ lại, dấu hiệu ấy có tính hời hợt,. Còn sự ghi dấu của niệm có tính thận trọng, chú ý.

Ví như ba loại chữ viết [75] : Chữ viết trên đá (pasāṇalekhūpamo), chữ viết trên đất (pathavilekhūpamo), và chữ viết trên nước (udakalekhūpamo).

Chữ viết trên đá ví như sự nhớ lại của niệm (sati).

Chữ viết trên đất ví như sự nhớ lại tưởng (saññā) và chữ viết trên nước ví như phóng dật (uddhacca).

Nên ghi nhận: Trong bản kinh, người có tâm hiềm hận lâu dài, Đức Thế Tôn ví như người có chữ viết trên đá; ở đây mượn ví dụ trên để minh họa cho phóng dật, tưởng và niệm.

Nhưng có câu hỏi: Người có hiềm hận lâu dài có phải do niệm tác động không? Không, đó là do tác ý không khéo (ayonisomanasikāra) hợp với phẫn nộ (paṭigha) tăng thịnh.

Còn niệm do có tác ý khéo (yonisomanasikāra) làm duyên. Đức Phật có dạy:

“Manasikārasambhavā sabbe dhammā.

“Các pháp lấy tác ý làm sinh khởi” [76] .

15- Hỏi: Niệm có phải là trí nhớ không?

Đáp: Có một số sách dịch sati là trí nhớ, không hẳn là sai nhưng xét ra thì không chuẩn lắm. Vì rằng:

– Trí chỉ có ba là: Trí văn (sutāmayā paññā); trí tư (ciñtāmayā paññā) và trí tu (bhāvanāpaññā).

Không có loại trí phát sinh do nhớ lại, cho dù Bồtát Siddhattha (Sĩđạtta) khi hành khổ hạnh, Ngài kiệt sức ngất xỉu.

Tỉnh dậy Ngài nhớ lại khi bảy tuổi Ngài chứng đắc Sơ thiền dưới cội cây trâm trong buổi lể hạ điền và Ngài chuyển cách hành đạo, từ khổ hạnh sang trung đạo, đây là loại trí sanh lên do suy tư, không phải do nhớ lại.

Nghĩa là: Nhớ lại làm duyên cho trí tư sinh lên, nói cách khác: Nhớ lại là một việc, hiểu được nguyên nhân cùng kết quả của sự kiện là việc khác.

Xét từ ngữ Pubbenivāsānussatiñāṇam (Túc mạng minh) chúng ta thấy có hai từ sati (niệm) và ñāṇa (trí), nếu cho sati là trí nhớ, sẽ dẫn đến hiểu lầm “trong một thời điểm có hai loại trí: trí và trí nhớ” cùng có mặt.

Hoặc các từ ngữ sau : sati pajānāti (ghi nhớ và biết); sati sampajaññā (ghi nhớ – biết trọn vẹn đúng đắn), nếu sati là trí nhớ cũng sẽ dẫn đến hiểu lầm như đã giải ở trên.

Trí nhớ là tên gọi chung cho sự phối hợp giữa hai pháp: Niệm và trí, hoặc ba pháp: Niệm, tưởng và trí (trong thiền chỉ tịnh thì có ba pháp niệm – tưởng và trí hiển lộ sức mạnh, trong thiền quán chỉ có hai là niệm và trí).

Tức là: Bao giờ niệm đi chung với trí, bấy giờ được gọi là trí nhớ, nếu niệm không đi chung với trí thì không được gọi là trí nhớ, như niệm trong tâm tịnh hảo ly trí.

Cũng nên ghi nhận từ anussati (tùy niệm) như: Tùy niệm Phật (anussati buddha)…

“Idha, Visākhe, ariyasāvako tathāgataṃ anussarati”.

“Ở đây, này Visākhā, Thánh đệ tử niệm Phật…” [77] . Đây là niệm đi chung với tưởng.

16- Hỏi: Sati (niệm) có phải là lương tâm không?

Đáp: Đại Trưởng lão Nārada có ghi nhận: ”Hardy đi xa đến mức phiên dịch sati là “lương tâm” nhưng điều này làm tổn thương sự khác biệt hứng thú giữa tư tưởng Đông Phương và Tây Phương… [78] .

Nếu hiểu “lương tâm” là tâm tốt hay tâm thiện, thì rõ ràng nhà học giả Hardy đã đi quá xa.

Cũng nên ghi nhận: Sati (niệm) cũng không phải là “lương tri”, vì lương tri là “sự hiểu biết tốt đẹp”, tín (saddhā), vô tham (alobha), vô sân (adosa)… cũng hiểu biết tốt đẹp, nào phải chỉ có niệm.

Các tâm sở này cùng đi chung với nhau trong một tâm, chúng đồng biết một cảnh, rõ ràng tín không phải là niệm, niệm không phải là tín.

17- Hỏi: Sự khác biệt giữa niệm (sati) và chánh niệm ra sao?

Đáp: Theo từ nguyên thì chánh niệm là sammāsati; sammā + sati = sammāsati.

Trong kinh Tứ niệm xứ [79] , Đức Phật có dạy:

“Idha, bhikkhave bhikkhu kāye kāyanupassī viharati ātāpī sampajāno sātimā vineyyaloke abhijjhādomanassaṃ”.

“Ở đây, này các Tỳkhưu, tỳ khưu sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chú tâm ghi nhận (satimā) để chế ngự (vineyya) tham ưu ở đời”.

(Chữ vineyya theo nghĩa gốc là: đã dời đi, đã được huấn luyện, vineyya ở đây nên hiểu là tạm thời giải thoát (tadaṅgavimutti), vì “giai đoạn đầu, tạm thời đã dời đi bất thiện”- Ns).

Hoặc là: “Atthi kāyo ti vā paṅassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvad-eva ñāṇamattāya patissatimattāya…”

“Có thân đây, vị ấy an trú “niệm” như vậy, (vị ấy) hướng đến niệm hân hoan, trí hân hoan (ñāṇamattāya) theo ý”.

Nói gọn trong bài kinh Tứ niệm xứ kinh văn chỉ ghi là: sati (niệm).

Lại nữa, trong Tăng chi bộ kinh (Aṅguttāranikāya), chương một pháp, phẩm “gìn giữ một pháp – ekadhammapāli”.

Đức Phật có dạy mười đề mục Tùy niệm là: Buddhanussati (Tùy niệm Phật), dhammanussati (Tùy niệm Pháp),…

Nhưng trong kinh Chuyển pháp luân, khi đề cập đến con đường trung đạo có tám nhánh, Đức Phật dùng sammāsati (chánh niệm).

Như vậy, rõ ràng niệm (sati) khác với chánh niệm (sammāsati). Vì sao?

Vì rằng: “Niệm chỉ là ghi nhận dù là chế định hay chơn đế, còn chánh niệm là ghi nhận rõ một trong ba tướng: vô thường tướng, khổ tướng và vô ngã tướng”.

Chính tám chi của trung đạo khi sung mãn và đồng đẳng dẫn đến Nípbàn. Muốn chứng đạt Nípbàn phải thấy và biết rõ một trong ba tướng của pháp hữu vi.

Ở giai đoạn tu tập ban đầu, hành giả dùng niệm để ghi nhận chế định, khi tu tập tiến triển, chế định mất để lộ ra chân đế và tiếp theo là xuất hiện một trong ba tướng, bấy giờ mới là chánh niệm (sammāsati).

“Yato ca kho, Kassapa, saddhammappatirūpakaṃ loke uppajjhati, attha saddhammassaantaradhānaṃ hoti”.

“Này Kassapa, diệu pháp xuất hiện ở đời thời nghĩa của diệu pháp (attha saddhammassa) biến mất” [80] . (Nghĩa của diệu pháp ở đây chỉ cho nghĩa chế định – attha paññatti – Ns).

Dễ hiểu hơn: “Khi niệm ghi nhớ được một trong tam tướng, bấy giờ trở thành chánh niệm; chưa ghi nhận được một trong tam tướng thì chỉ là niệm, cho dù là “ghi nhớ” được cảnh chân đế”.

18- Hỏi: Thế nào là tà niệm? Thế nào là thất niệm (sammohasati)?

Đáp: Tà niệm (micchāsati) là ghi nhớ sai hay ghi nhận sai.

Ngay cả chế định, nếu ghi nhớ tên khu rừng này nhầm với tên khu rừng kia, tên người này với tên người nọ… cũng là tà niệm, nhưng loại tà niệm này không cho ác quả, chi pháp của loại tà niệm này là tâm sởphóng dật.

Ghi nhận hay ghi nhớ sai đối với chân pháp là: Tâm bất thiện cho là tâm thiện, như một lương y, thấy bịnh nhân đau đớn ông cho bịnh nhân uống thuốc chết. Và vị lương y cho rằng: “đó là việc tốt vì giúp bịnh nhân không bị khổ bịnh dày vò”. Đó là tà niệm vì nó sẽ cho ác quả.

Hoặc ghi nhận “thọ lạc bất thiện cho là thiện”, như cho rằng thọ dụng dục lạc không là chướng ngại…

Tà niệm đối với chân pháp theo cách này mới tạo ác nghiệp, có tai hại lớn. Và chi pháp của loại tà niệm này là tâm sở si hợp với sân hoặc tâm sở si hợp với tà kiến.

Kinh Phạm võng (Brahmajālasuttaṃ) trong Trường bộ I có mô tả những Samôn Bàlamôn có thắng trí đắc Túc mạng minh nhớ lại kiếp sống trước đồng thời ghi nhận được “có vị Phạm thiên sinh ra trước tiên”, cho rằng: “Vị Phạm thiên này là sáng tạo chủ”. Đây là một tà kiến do tưởng làm duyên, gọi là “tưởng kiến”.

Hoặc như vua Adục (asoka) khi sắp lâm chung có tâm hiềm hận với quan thủ khố, mệnh chung sanh làm rắn ở ngạch cửa. Đây là tưởng đi chung với sân.

“Ghi nhớ” những điều như đã nêu trên là ”tà niệm”.

Thất niệm (sammohasati) theo nguyên ngữ là: “sự ghi nhớ bị mê muội” hay “mê muội ghi nhớ”. Ghi nhớ bị mê muội, hay trong lúc mê muội mà ghi nhớ thì sự ghi nhớ này không gọi là niệm, mà là “mất niệm”.

Chi pháp của thất niệm là tâm sở si hợp phóng dật (trong tâm si phóng dật). Tuy nhiên, cũng không thể khinh thường “thất niệm”, vì nó có thể tạo điều kiện cho các ác- bật thiện pháp khác sinh lên, như kinhPháp cú có câu:

Appamādo amatapadaṃ; pamādo maccuno padaṃ

Appamattā na nāyanti; ye mattā yathā matā.

Không phóng dật đường sống; phóng dật là đường chết.

Không phóng dật, không chết; phóng dật như chết rồi. (HT. TMC dịch) [81] .

Appamāda = Na + pamāda (không hờ hửng, không khinh thường) là danh từ khác chỉ cho niệm.

19- Hỏi: Cảnh (ārammaṇa) của niệm (sati) ra sao?

Đáp: Niệm là một tâm sở Tịnh hảo biến hành nên niệm có thể nhận biết tất cả cảnh hữu vi (saṅkhārārammaṇa), cảnh chế định (paññattārammaṇa) lẫn cảnh Nípbàn.

a-Đối với cảnh chế định.

Đó là tu tập 40 đề mục thiền chỉ tịnh (samathajhāna).

Ngoài ra, sự ghi nhớ cảnh chế định cũng được thực hiện như học kinh tụng, học pháp hay nhận biết tên tuổi người nam, người nữ, …

Thất niệm trong cảnh chế định không đem đến tác hại lớn, tuy nhiên cũng là duyên khiến cho phóng dật tăng trưởng trở thành một chướng ngại (nīvāraṇa) khi tu tập.

Do đó Đức Phật dạy: “niệm đại oai nghi, tiểu oai nghi (trong kinh Tứ Niệm Xứ, phần niệm thân trong thân)” để huân tập niệm được vững vàng, dù đó là cảnh chế định.

“Puna ca paraṃ bhikkhave bhikkhu gacchanto vā; gacchāmīti pajānāti, ṭhito vā; ṭhito’m hīti pajānāti, nisinno vā; nīsinno’mhīti pajānāti, sayāno vā; sayāno’m hīti pajānāti…

Lại nữa, này các Tỳkhưu, vị Tỳkhưu đi, biết rằng “đang đi”, hay đứng biết rằng “đang đứng”, hay nằm biết rằng “đang nằm”, hay ngồi biết rằng “đang ngồi” [82] .

Hoặc niệm tiểu oai nghi như: ”khi bước tới, bước lui, biết rõ việc mình đang làm… (sđd).

Mặt khác, “tà niệm” trong chế định thường dẫn đến những tà kiến, cho nên cần phải chú ý đến danh chế định (nāmapaññatti) lẫn nghĩa chế định (atthapaññatti).

“Cattārome, bhikkhave saññāvipallāsā, cittavipallaasā, diṭṭhivipallāsā-katame cattāro?

Này các Tỳkhưu, có bốn tưởng hư hoại (saññāvipallāsā), tâm hư hoại (cittavipallāsā), kiến hư hoại (diṭṭhivipallāsā). Thế nào là bốn?”

“Anicce, bhikkhave, niccanti saññāvipallāso, cittavipallāso, diṭṭhivopallāso”.

“Trong vô thường nghĩ là thường, này các Tỳkhưu đó là tưởng hư hoại, tâm hư hoại, kiến hư hoại”.

“Dukkhe bhikkhave, sukhanti saññāvipallāso, cittavipallāso, diṭṭhivopallāso”.

“Trong khổ nghĩ là lạc, này các Tỳkhưu đó là tưởng hư hoại, tâm hư hoại, kiến hư hoại”.

“Anattanti, bhikkhave, attāti saññāvipallāso, cittavipallāso, diṭṭhivopallāso”.

“Trong vô ngã nghĩ là ngã, này các Tỳkhưu đó là tưởng hư hoại, tâm hư hoại, kiến hư hoại”.

“Asubhe, bhikkhave subhanti saññāvipallāso, cittavipallāso, diṭṭhivopallāso”

Trong không trong sạch nghĩ là trong sạch, này các Tỳkhưu đó là tưởng hư hoại, tâm hư hoại, kiến hư hoại” [83] .

Tỳkhưu Sati con người đánh cá hiểu lầm lời dạy của Đức Thế Tôn, chỉ vì Tỳkhưu Sati nghe Đức Thế Tôn thuyết lên “câu chuyện tiền thân”, nên cho rằng:

“Tathā’haṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ajānāmi yathā tad’ev’idaṃ viññānaṃ sandhāvati saṅsarati anaññan-ti”.

“Theo như tôi hiểu Pháp Thế Tôn thuyết giảng, thời thức này dong ruỗi, luân chuyển nhưng không đổi khác” [84] .

Đây là “cảnh chế định làm duyên cho tà kiến sinh khởi”.

Mặt khác, lời Phật dạy tuy dùng ngôn từ (chế định pháp) để chuyên chở ý nghĩa thâm sâu của diệu pháp, nhưng nếu “ghi nhớ sai” sẽ tạo ra ác trọng nghiệp là “xuyên tạc Đức Thế Tôn” hay “vu khống Đức Thế Tôn”.

Vua Pasenadi (Batưnặc) có bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng:

“Bhagavantaṃ etadavoca: sutaṃ me bhante

Bạch Thế Tôn, con có nghe như sau:

Samaṇo Gotamo evaṃ āha: Na’tthi so samaṇo vā brahmaṇo vā yo sabbññū sabhadassavī aparisesaṃñaṇadassanaṃ paṭijānissati; n‘etaṃ ṭhānaṃ vijjatīti.

Samôn Gotama có nói: “không một Samôn hay Bàlamôn nào toàn tri toàn kiến có thể tự cho là chứng được tri kiến viên mãn, sự tình như vậy không xảy ra” [85] .

Và Đức vua hỏi “đó có phải là sự thật?”. Đức Thế Tôn khẳng định “đó là sự xuyên tạc Như lai, không đúng sự thật”.

Thật ra, Đức Thế Tôn thuyết giảng như sau:

“Na’tthi so samaṇo vā brahmaṇo vā yo sakideva sabaññassati sabbaṃ dakkhīti, ṅetaṃ ṭhānaṃ vijjatīti”.

“Không một Samôn hay Bàlamôn nào, có thể trong một lúc (sakideva) biết tất cả, thấy tất cả, không thể có sự tình như vậy”.

Lời xuyên tạc ấy do Bàlamôn Sañjaya thuộc giòng họ Ākāsa nói lên, Vua Pasenadi truy hỏi thì Bàlamôn Sañjaya đổ cho Viḍūḍabha, Viḍūḍabha lại đổ cho Sañjaya.

Nhưng ý chính ở đây là: ”Do ghi nhớ sai, nên trở thành xuyên tạc Đức Thế Tôn”.

b- Đối với cảnh hữu vi.

Niệm ghi nhớ được cả chân pháp hữu vi như thân, thọ, tâm, pháp trong kinh Tứ Niệm xứ.

“Idha bhikkhave, bhikkhu sukhaṃ vedanaṃ vedigamāno: sukhaṃ vedanaṃ vedigāmīti pajānāti.

Ở đây, này các tỳ khưu, vị Tỳkhưu cảm giác (vedigamāno) lạc thọ, biết rằng “đang cảm giác lạc thọ”….

Hay:

“Idha bhikkhave, bhikkhu sarāgaṃ vā cittaṃ sarāgaṃ cittaṃ-ti pajānāti.

Ở đây, này các Tỳkhưu, vị Tỳkhưu với tâm có tham, biết rằng “tâm có tham…”

Hoặc là: “Rāgassa bhikkhave, abhiññāya tayo dhammā bhāvetabhā. Katamo tayo?

Suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi”

“Này các Tỳkhưu, để thấu đáo (abhiññāya) về tham ái, ba pháp cần phải tu tập. Thế nào là ba? Không tánh định, vô tưởng định, vô nguyện định” [86]

Tà niệm trong cảnh hữu vi ra sao?

Tức là: ghi nhận sai thực trạng của pháp hữu vi.

Trong kinh Đoạn giảm (sallekhasutta) [87] , Đức Phật có giảng cho Tôn giả Mahācunda: “Vị Tỳkhưu chứng được bốn thiền sắc, vị ấy cho rằng: “Sallekhena viharāmīti: Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Đó là sự hiểu sai về đoạn giảm.

Và Đức Phật dạy đó “chỉ là hiện tại lạc trú (diṭṭhadhammasukhavihārā) trong luật bậc Thánh”; không phải là đoạn giảm trong luật bậc Thánh.

Tương tự như thế, vị Tỳkhưu chứng đạt tứ thiền vô sắc, chỉ là “tịch tịnh trú (santā ete vihārā) trong luật bậc Thánh”.

c- Đối với cảnh Nípbàn.

Bấy giờ niệm trở thành chi đạo trong tâm đạo (maggacittaṃ); trong tâm quả Siêu thế (lokuttaraphalacittaṃ) tuy không là chi đạo nhưng niệm vẫn biết cảnh Nípbàn.

Tà niệm trong cảnh Nípbàn ra sao?

Đó là loại tà kiến, gọi là Nípbàn hiện tại kiến được mô tả trong kinh Phạm võng [88] .

– Cho rằng: “Thọ hưởng năm dục lạc là NípBàn (ám chỉ sinh về cõi Chư thiên)”.

– Cho rằng: “Lạc Sơ thiền là Nípbàn.

– Cho rằng: “Lạc Nhị thiền là Nípbàn.

– Cho rằng: “Lạc Tam thiền là Nípbàn.

– Cho rằng: “Lạc Tứ thiền là Nípbàn”.

20- Hỏi: Hãy nêu lên bốn đặc tính của tâm sở niệm.

Đáp: Ngài Buddhaghosa có nêu lên bốn đặc tính của tâm sở niệm là:

– Trạng thái: Không trôi nổi (apilāna lakkhanā).

– Phận sự: Không quên lãng (asammosarasā).

– Thành tựu: Canh giữ, bảo vệ (ārakkhapaccupaṭṭhānā).

Hay: Visayābhimukhabhāvapaccupaṭṭhānā: Đạt cao tột trong tu tập là thành tựu (của Niệm).

– Nhân cận: Có tưởng vững mạnh (thirasaññā padaṭṭhānā)

Hay: Kāyādisatipaṭṭhāna padaṭṭhānā: Ghi nhớ từ nơi thân (tức là Thân niệm xứ) [89] .

Giải:

1- ”Không trôi nổi”. Niệm (sati) có trạng thái không trôi nổi (apitāpana) như mảnh gỗ trôi trên nước, không yên vị. Trái lại, niệm chìm vào nước như chiếc neo thuyền.

Hoặc ví như người lái tàu luôn yên vị trên chỗ ngồi. Cũng vậy, niệm luôn chìm vào đề mục ở vị trí cố định, kinh văn có nêu:

“Idha sāriputta bhikkhu pacchābhattaṃ piṇdapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā yuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ…”

“Ở đây, này Sāriputta, vị Tỳkhưu sau khi đi khất thực về, sau buổi ăn, ngồi kiết già thân thẳngđặt niệm trước mặt” [90] .

Ngài Bhuddhaghosa có giải thích về ”đặt niệm trước mặt” là: “Chú ý ở mũi hay môi trên” và cho ví dụ: Anh què phải trông nom đứa bé ngồi trên xích đu, anh đẩy chiếc xích đu qua lại và ngó chừng chứ không chạy theo chiếc xích đu. Cũng vậy, niệm có trạng thái yên vị, không trôi dạt nơi này nơi nọ.

Đây là trạng thái của niệm.

2-”Không quên lãng”. Là không nhầm lẫn, niệm có tính chất ghi nhận rõ ràng, như ví dụ người thợ mộc thiện xảo ở trên, nên khi niệm khởi lên (uggaṇhi – hồi nhớ) thì sự nhớ lại này không hề bị nhầm lẫn.

Như người chú ý, ghi nhận những dấu hiệu con đường đang đi, lần sau trở lại người này không hề bị lạc đường. Đây là phận sự của niệm.

3-” Canh giữ, bảo vệ”. Niệm có phận sự ngăn chận không cho ác – bất thiện pháp xâm nhập vào tâm, như người gác cửa Hoàng cung của Đức vua đã nói ở trên.

Trước tiên, niệm gìn giữ năm giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân khi tiếp xúc với năm trần cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc không cho sinh khởi tham- ưu. Bằng cách nào? Bằng cách không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.

Tiếp đến, niệm gìn giữ ý căn (manindriya) không cho khởi lên tham ái, ưu bi, các bất thiện pháp.

Nói cách khác, niệm gìn giữ tâm không rơi vào bất thiện pháp bởi cảnh bên ngoài (bahiddhārammaṇa – cảnh ngoại phần) là năm trần cảnh bên ngoài, lẫn cảnh bên trong là cảnh pháp (cảnh nội phần – ajjhattārammaṇa).

Chính thành tựu của niệm là một trong những pháp tác thành bậc Samôn. [91]

Lại nữa, thành tựu của niệm là chứng đắc thiền định và đạt được Nípbàn, đó là “sự thành tựu tối thắng – abhirasa”.

Trong sự diệt trừ phiền não thì trí tuệ là chủ yếu, nhưng niệm lại có vai trò chỉ đạo vì niệm phân biệt được tốt xấu, như Ngài Buddhaghosa giải thích:

“Ārammaṇa daḷhapatiṭṭhitattā pana esikāvīya:

“(Niệm) xem như trụ cột (esikā) cắm vững chắc vào đối tượng (ārammaṇa)”.

4.a- “Có tưởng vững mạnh”. Chính tưởng trợ giúp đắc lực cho niệm sinh khởi, như những đề mục tùy niệm (anussati) hoặc những đề mục thể trược…

Khi hành giả tu tập những đề mục này, rõ ràng tưởng là pháp chủ yếu, từ đó niệm sinh lên và vững mạnh.

Điều cần nêu ra ở đây là: Tưởng phải là tưởng đúng như tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng vô ngã,…

Chính tưởng đúng (sammāsaññā) là nhân gần cho niệm, ngược lại tưởng sai dẫn đến tà niệm.

Ở giai đoạn đầu tu tập, hành giả dùng tưởng để tạo điều kiện cho niệm sinh lên, tưởng càng mạnh thì niệm càng vững vàng.

Khi niệm vững mạnh rồi, hành giả bước vào giai đoạn quán minh (vipassanā), bấy giờ có thể không nương vào sức mạnh của tưởng (tưởng chỉ phát huy sức mạnh khi nhận cảnh chế định).

4.b- “Ghi nhớ từ nơi thân”. Trong bốn pháp niệm xứ: “Thân, thọ, tâm, pháp”, thì thân niệm xứ bao gồm hai pháp: Chế định lẫn chân đế (paramatthasacca).

Tâm niệm xứ, thọ niệm xứ, pháp niệm xứ là ghi nhận hay ghi nhớ pháp chân đế pháp. Do đó, Ngài Buddhaghosa giải thích: “Thân niệm xứ là nhân gần của niệm”.

21- Hỏi: Tâm sở Niệm làm thành tựu nhiều lợi ích, vì sao trong bảy tài sản của bậc Thánh không có Niệm tài sản?

Đáp: Bảy tài sản của bậc Thánh là: Tín tài sản (saddhādhanaṃ), giới tài sản (sīladhanaṃ), tàm tài sản (hiridhanaṃ), quý tài sản (ottappadhanaṃ), văn tài sản (sutadhanaṃ), xả tài sản (cāgadhanaṃ – cāga là dứt bỏ), tuệ tài sản (paññādhanaṃ).

Trong văn tài sản bao hàm có niệm, được gọi là văn tài sản vì là do nghe, nắm giữ được pháp – nghĩa, đồng thời làm cho điều được nghe được nổi lên (uggaṅha).

Đức Phật có dạy: “Appassuto sutena upapanno:

– “Ít nghe, điều đã nghe khởi lên [92] .

Đó là người tuy nghe (hay học) ít kinh điển nhưng thực hành đúng pháp và thành tựu được pháp.

Bahussuto sutena upapanno.

– Nghe nhiều, điều đã nghe khởi lên (sđd).

Đó là người học nhiều pháp luật của Đức Thế Tôn, đồng thời thực hành pháp và thành tựu được pháp.

Đức Phật có giảng về văn tài sản như sau:

“Idha, bhikkhave, ariyasāvako bahussuto hoti…pe…diṭṭhiyā suppaṭividdho. Idaṃ vuccati, bhikkhave, sutadhanaṃ”.

“Ở đây, này các Tỳkhưu, vị Thánh đệ tử được nghe nhiều… khéo thể nhập với tri kiến. Này các Tỳkhưu, đây gọi là văn tài. [93]

Và:

“Catuppadāya cepi bhikkhu, gāthāya atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti bahussuto dhammadharoti alaṃ vacanāyā’ti.

“Này Tỳkhưu, nếu ai hiểu nghĩa một bài kệ bốn câu, hiểu pháp và thực hành pháp tùy pháp, người ấy được gọi là vị nghe nhiều và trì pháp.” [94]

Như vậy, khi thành tựu được pháp do nghe, do học hỏi (cho dù là nghe nhiều hay nghe ít), khi ấy mới được gọi là văn tài sản và như thế đã bao hàm có niệm trong đó.

Kệ ngôn Pháp cú sau đây sẽ thấy rõ ý nghĩa văn tài sản:

“Bahum pi ce sahitaṃ bhāsamāno. Na takkaro ho ti naro pamatto

Gopo’va gāvo gaṇayaṃ paresaṃ. Na bhāgavā sāmaññassa hoti.

“Dầu thông suốt Kinh Luật [95] mà không hành đúng (lời dạy), con người dễ duôi (pamatto) ấy tựa như mục đồng, đếm bò của kẻ khác, người ấy không hưởng được quả vị của đời sống Thiêng liêng Đạo hạnh” [96] .

Pamatta là danh từ khác chỉ cho phóng dật, đối trị với pamatta la appamatta (không dễ duôi), là tên gọi khác của Niệm – Ns.

“Đời sống Thiên liêng Đạo hạnh” là chỉ cho bốn quả Samôn: Quả Dự lưu (sotāpatti), quả Nhất lai (sakadāgāmi), quả Bất lai (anāgāmi) và quả Alahán (Arahanta).

Rõ ràng, tuy thông thuộc Pháp-luật nhưng không hành pháp để chứng đạt pháp thì không có được “văn tài sản”.

Và:”Appam pi ce sahitaṃ bhāsamāno; dhammassa hoti anudhammacāri

Rāgañ ca dosañ ca pahāya mohaṃ; sammappajāno suvimuttacitto.

Anupādiyāno iddha vā huraṃ vā; sa bhāgavā sāmaññassa hoti.

“ Dầu ít thuộc Kinh – Luật nhưng hành đúng lời giáo huấn, từ bỏ tham, sân, si, hiểu biết chân chánh, tâm siêu thoát, không bám vào điều chi ở đây và sau đây. Con người ấy hưởng quả vị của đời sống Thiêng liêng Đạo hạnh” (Dhp. Câu 20 – sđd).

Khi chứng đắc quả Thánh mới có được văn tài sản, và “ghi nhớ” được xem là văn tài sản.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s