– MN 118 – Kinh niệm hơi thở vào hơi thở ra (Anāpānasati sutta)

KINH MN 118 – KINH NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA (Anāpānasati sutta)

Còn được dịch  là “Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm” hoặc “Kinh Quán Niệm Hơi Thở”

———-

I. BẢN KINH MN 118 – Kinh Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra (Anāpānasati sutta)

1. Bản tiếng Việt của HT Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung118.htm

2. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda

http://paliviet.info/VHoc/15/15_118.pdf

3. Bản tiếng Việt của Thích Nhất Hạnh

http://m.langmai.org/tang-kinh-cac/kinh-van/kinh-van/kinh-quan-niem-hoi-tho

4. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.118.than.html

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO cho BÀI KINH MN 118

1. Chánh Niệm-Thực Tập Thiền Quán, tác giả Henepola Gunaratana.  Nguyên Duy Nhiên dịch Việt, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-125_4-5927_5-50_6-1_17-79_14-1_15-1/

2. Làm thế nào để tu tập Niệm Hơi Thở đến An Chỉ Định. Trích từ sách “Biết vàThấy” tác giả Pa Auk Sayadaw.

http://www.budsas.org/uni/u-biet_thay/01.htm

3. Quán Niệm Hơi Thở – Dr Binh Anson

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-vbud/vbthn033.htm

4. Về Pháp Quán Niệm Hơi Thở, tác giả Sanghabhara, Tỳ khưu Tâm Hạnh dịch Việt

http://www.budsas.org/uni/1-bai/phap040.htm

5. Anapanasati – Meditation on breathing, by Ven. Mahathera Nauyane Ariyadhamma

http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/ariyadhamma/bl115.html

6. Mindfulness of Breathing by Bhikkhu Nanamoli

http://www.urbandharma.org/pdf1/MindfulnessBreathing.pdf

.

* Tài liệu của các truyền thống tu tập ngoài Theravada

1. Kinh Quán Niệm Hơi Thở-Thích Nhất Hạnh giảng – Chú ý các tiểu-mục nằm

phía bên trái của bài viết

http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/kinh-quan-niem-hoi-tho-dich-chu-giai

2. Tinh Yếu Kinh Quán Niệm Hơi Thở – Thích Nhất Hạnh giảng

http://www.daophatngaynay.com/vn/phap-mon/thien-dinh/nguyen-thuy/9578-Tinh-Yeu-Kinh-Quan-Niem-Hoi-Tho.html

3. Kinh An Ban Thủ Ý Lược Giải – Thích Đạt Đạo biên soạn

http://www.quangduc.com/kinhdien/259anbanthuy.html

4. Một số links quan trọng có trong Anapanasati sutta by Wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/Anapanasati_Sutta

5. Mindfulness by Wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/Mindfulness

6. Mindfulness (Psychology)

http://en.wikipedia.org/wiki/Mindfulness_%28psychology%29

7. Định Niệm Hơi Thở HT TThông Lạc

http://chonlac.org/Kinhsach/19DeMucDinhNiemHoiTho_1.pdf

Link update sách Định Niệm Hơi Thở của Thầy Thích Thông Lạc:

http://chonnhu.net/thuvien/Sach-2012/Nhung%20CDTH%20cua%20nguoi%20Cu%20si%20-dinh%20chinh-%2006-4-2012.pdf

III. ĐỀ CƯƠNG

  • Tìm hiểu các từ Pali trong bài kinh, được xem là khó hiểu, gây tranh cãi, quan trọng, hoặc có xuất hiện nhiều trong văn bản Pali. (Vì sự sống còn của Pháp Bảo, kính thỉnh sự giúp đỡ đặc biệt của quý sư có hiểu biết về ngôn ngữ Pali.)
  • Cố gắng học hiểu chính xác nội dung của bài kinh, bằng cách so sánh các bản dịch (mọi ngôn ngữ) với nguyên bản Pali.
  • ANAPANASATI là một trong 22 bài kinh Pali không có trong A-Hàm (xem phụ lục số 6 của luận án của HT Thích minh Châu SO SÁNH KINH TRUNG A-HÀM VÀ KINH TRUNG-BỘ). Tuy nhiên để sự nghiên cứu được toàn triệt, đối với các bài kinh này, các thành viên PLCĐ vẫn có thể tìm thêm các tài liệu tham khảo, không phân biệt tông phái hay truyền thống. Nếu các tài liệu, được đánh giá là nguồn bổ sung có giá trị, thì sẽ được lưu lại sau khi kết thúc bài học.
  • Thảo luận để xác định phương pháp thực hành đúng “Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra”.
  • Các thành viên tự nhận định và rút ra kết luận riêng cho mình.
  • Khuyến khích các thành viên tạo Document trình bày quan điểm của mình về bài kinh NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA. Với điều kiện phải phù hợp với Luật, Kinh và Thắng Pháp của Đạo Phật nguyên thủy.

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn

KINH NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA (Anāpānasati) là bài kinh MN 118. Theo tiến trình dự định, ta sẽ học về sau. Tuy nhiên bài kinh này chính là phần phần Niệm Hơi Thở trong kinh NIỆM XỨ được chi tiết hóa. Vậy tôi post bài kinh này để sự học về Tứ Niệm Xứ, Niệm Hơi Thở v.v.v… được liên hệ và hổ trợ lẫn nhau. Thien Nguyen Ba có thể giúp nghiên cứu xem có thể đưa một phần trong các thảo luận về Niệm hơi thở vào Doc này hoặc SUbDoc của nó. Niệm hơi thở cũng là một trong các phương pháp Quán Thân !

Chanhphatphap Nguyenthuy

Tôi có ý kiến nhỏ kính gởi BS Phạm Doãn
BS có ghi: “Tuy nhiên để sự nghiên cứu được toàn triệt, các thành viên PLCĐ vẫn nên tìm thêm các tài liệu tham khảo không phân biệt tông phái hay truyền thống.”
Vì vậy, kính đề nghị BS Phạm Doãn (nếu

được) có thể thêm Định Niệm Hơi Thở của Trưởng Lão Thích Thông Lạc vào văn bản trên để thể hiện tính đa dạng của các bài giảng về hơi thể, không phân biệt tông phái hay truyền thống.
http://chonlac.org/Kinhsach/19DeMucDinhNiemHoiTho_1.pdf
Xin cám ơn!
Kính ghi,
Chanhphatphap Nguyenthuy

Phạm Doãn Được. Tôi sẽ bổ sung đường link này!

Chanhphatphap Nguyenthuy Vâng. Tôi cám ơn BS Phạm Doãn!

Hạnh Trương

Có một đoạn trong tạng luật, kể về “lai lịch” bài kinh này hay lắm ạ, vị nào thuộc Luật có thể tìm và đưa lên cho mọi người tham khảo :)

Đại ý câu chuyện đó là trong khi Phật độc cư an tịnh, thì ở ngoài các vị tỷ kheo tập quán thân bất tịnh và do đó các vị thấy thật chán ngán cái thân bẩn thỉu này. Lúc đó trong tăng chúng lại có một vị có nghiệp binh đao, và vị ấy được nhờ “

xử lý” . Kết quả là khi Phật đi ra sau thời gian độc cư thì tăng chúng đã vơi đi gần 1/3.

Hình như đó cũng là một duyên để Phật thuyết bài kinh này, HT kể lại theo trí nhớ, mong các vị nào tìm được thì đưa đoạn đó lên.

Phạm Doãn

Thích Nhất Hạnh: Kinh Quán Niệm Hơi Thở: Kinh này được dịch từ tạng Pali, tên kinh là Anapanasatisutta, dịch theo Hán là Nhập Tức Xuất Tức Niệm Kinh. Kinh này là kinh 118 của Trung Bộ (Majjhima Nikàya). Trong tạng Hán, nếu ta góp chung các kinh số 815, 803 và 810 của bộ Tạp A Hàm (kinh 99 của tạng kinh Ðại Chính) lại thì sẽ có nội dung tương đương với kinh này.

Hoa Nguyen

Pháp quán niệm hơi thở ở kinh tạng Bắc tông được pháp sư Tăng-già-bạt-đà-la (Sanghabhadra – Chúng-Hiền) dịch sang Hoa văn năm 488 TL. Tỳ kheo Tâm Hạnh dịch Việt, xem tại:
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/1-bai/phap040.htm

Kinh này được ngài Khương Tăng Hội dịch là An ban thủ ý. Ðây là pháp niệm A-na-ba-na (Anàpànasati – quán hơi thở), khác kinh Xuất tức Nhập tức ở chỗ kinh An Ban có thêm pháp Sổ Tức, là đếm hơi thở (ra) từ 1 tới 10, rồi đếm ngược lại từ 10 trở về tới 1. Mục đích là giúp tâm an định, tránh tán loạn, phóng dật, vọng tưởng. Nhất là kinh An Ban khác ở chỗ quán hơi thở để vào định An Chỉ, tức Tứ Thiền. Chép vài đoạn giới thiệu :

“Ðặt niệm ở trước (mặt) (parimukham), là chánh niệm vào pháp thiền và đặt nó trước mặt.

Hơi thở vào ra, là sau khi ngồi kiết già ổn định, Tỳ kheo chánh niệm tỉnh giác niệm hơi thở vào ra như sau: Biết rõ thở hơi dài, biết rõ thở hơi ngắn. Nhờ biết rõ hơi thở dài ngắn nên tâm được tịnh, không còn tán loạn; nhờ không tán loạn nên thành tựu chánh niệm. Nhờ niệm và tuệ phát sinh nên biết rõ hơi thở dài, ngắn.
Biết rõ toàn thân, ta thở ra; biết rõ toàn thân, ta thở vào, biết rõ hơi thở vào ra toàn thân; biết rõ hơi thở dài, ngắn, trước, giữa, sau một cách rõ ràng, bằng tâm biết rõ sự biết này, biết hơi thở trước và sau. …
Lại có Tỳ kheo thấy rõ hơi thở ở cả ba giai đoạn đầu, giữa, cuối, vì tâm vị ấy không có mệt mỏi. Ai đạt được như vậy là thiện xảo với pháp thở ra vào…

Ghi nhận trong tâm là đếm, theo dõi (tùy), xúc chạm, an trí, quan sát, quay lại, thanh tịnh, quán sát lại (ganàna anubadhanà thabanà sallakkhanà vivattanà pàrisuddhi tesan ca patipassanà).

– Ðếm là bắt đầu với số một, hai.
– Theo dõi là ghi nhận liên tục hơi thở ra vào.
– Xúc chạm là nơi hơi thở tiếp xúc (khi ra vào).
Vậy đếm đến bao giờ mới ngưng? Nếu tâm không còn loạn mà vẫn biết rõ hơi thở ra vào thì không cần đếm nữa. Như vậy là đã bằng phương tiện đếm mà được tùy niệm (an trú niệm).

Thế nào là tùy niệm? Biết rõ hơi thở ra vào, không cần nhờ vào sự đếm nữa mà vẫn biết rõ và an trú niệm trên ba chỗ (hơi thở ra đi). Nếu thở ra thì bắt đầu là rốn, giữa là tim, cuối là chóp mũi (nàbhi àdi hadayam majjham hàsikà poriyosàham). Nếu thở vào thì bắt đầu ở chóp mũi, giữa là tim và rốn là cuối. Nếu tâm đi theo hơi thở thì tâm không định. Do tâm không định thì tâm bị dao động.
Pháp sư nói: – Thiền định sổ tức này khác với những thiền định khác. Những thiền định khác thì trước vi tế sau thô. Tỳ kheo nào vào thiền sổ tức này mà thiền tướng không hiện rõ thì không nên đứng dậy mà nên yên tâm ngồi ngay thẳng và tư duy.
Tỳ kheo thiền định về thở ra thở vào khi quá mệt thì tạm thời ngừng lại và nghỉ ngơi, không theo dõi hơi thở ra vào nữa mà chỉ đặt (niệm) ở chóp mũi, chú ý và đếm hơi thở ra vào với chánh niệm ví như sợi dây (cột mũi bò) và trí tuệ ví như cây gậy và cứ tiếp tục chú ý đến (chỗ) hơi thở vào ra.

Nếu làm được như vậy thì không bao lâu thiền tướng (nimitta) sẽ hiện rõ (trở lại) và thân thể khoan khoái như tiếp xúc với bông gòn, thân cảm thấy mềm mại. Có người thấy như chạm vải kiết bối, có người thấy như chạm luồng gió mạnh, có người thấy như các vì sao, có người thấy như chuỗi ngọc, có người thấy như ngọc trắng bị vung vãi, có người thấy như (chạm) phải hạt hoa kiết bối, có người thấy như sợi dây, có người với sự tiếp xúc thô cứng, có người thấy như ánh lửa, có người thấy như con khỉ, có người thấy như mây nổi, có người thấy như hoa sen, có người thấy như bánh xe, có người thấy như trăng tròn”. (Hết trích)

Tóm lại, đây là pháp Niệm Hơi thở của thiền sư Pa-Auk, mục đích để thấy Thiền tướng (định tướng, nimitta)) và vào Sơ Thiền. Chỉ chú tâm (giữ chánh niệm) hơi thở ra vào ở chót mũi.
Xem thêm Kinh An Ban Thủ Ý lược giải do Thích Đạt Đạo biên soạn, tại :
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-abty/abty01.htm

Tanggiabatdala – Niem Hoi Tho

www.buddhanet.net

Trích: “Chú giải Luật Thiện Kiến”, quyển 10-11, Pháp sư Tăng-già-bạt-đà-la dịch sang Hoa văn năm 488 TL, Tỳ kheo Tâm Hạnh dịch sang Việt văn năm 2000 TL.

Hoa Nguyen ‎”Định Niệm Hơi Thở” của Trưởng Lão Thích Thông Lạc chỉ là sửa lại, thêm đôi chút, pháp quán hơi thở trong kinh Xuất tức Nhập tức của thiền Nguyên Thủy (từ 16 pháp quán thành 19 pháp quán khi theo dõi hơi thở).

Phạm Doãn

Tôi đã đọc kỹ bài kinh này nhiều lần. Có nhân xét như sau:
– Giai đoạn đầu : Nhận biết theo dõi riêng chỉ “hơi thở vào, ra”
– Tiếp theo: Nhân biết và theo dõi với mức độ cao hơn “biết hơi thở dài hay ngắn”
– Giai đoạn kế:
Vị ấy tập luyện:[

7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

Ta có thể nhận ra rằng, với sự tập luyện lâu ngày và thuần thục thì
Mỗi khi thở vào hay thở ra, vị ấy đều rất dễ dàng có cảm giác toàn thân (tức Chánh Niệm trên Thân)

Có người giải thích “hiện tượng” này là:
CÓ CÁI NÀY – THÌ CÓ CÁI KIA
(có Hơi Thở thì có Chánh Niệm trên các niệm xứ)
Con người ai cũng thở, lúc nào cũng phải thở vào ra.
Như vậy, với sự luôn luôn hiện diện của hơi thở vào ra, thì vị ấy luôn có Chánh Niệm trên các niệm xứ.

Tương tự như vậy cách luyện tập trong suốt bài kinh ANAPANASATI giúp hành giả gắn kết:
HƠI THỞ
với CHÁNH NIỆM trên cảm giác Hỷ Lạc, Sự Tạo Tác của Tâm, Sự an tịnh các Tạo Tác của Tâm, của Tâm, Tâm Hân hoan, Tâm Định Tĩnh v.v…cho đến Ly ái dục, Tịch diệt, Từ bỏ, (theo cách dịch của TK Indacanda)

Suy Nghĩ riêng:
Tôi cho rằng: Sự LIÊN KẾT giữa HƠI THỞ và CHÁNH NIỆM (trên Thân, Thọ, Tâm Pháp) trong kĩ thuật thực hành “Niệm Hơi Thở” này, chính là sự thiết lập một PHẢN-XẠ CÓ ĐIỀU KIỆN.
– Điều kiện ở đây là HƠI THỞ vào ra
– Đáp ứng ở đây là CHÁNH NIỆM
– CUNG PHẢN-XẠ hình thành do các mối liên hệ thần kinh, giữa trung tâm Hô hấp và Vỏ não. Phản xạ hình thành có thể bền vững do tập luyện thường xuyên.

Quan điểm này giải thích:
– Tại sao Đức Phật không dạy tu tập Chánh Niệm trên một đối tượng, bằng cách chỉ đơn thuần đặt Niệm trên đối tượng đó, mà phải liên kết với Hơi Thở?
– Trả lời: Nếu lấy một hiện tượng có đặc tính “liên tục xảy ra” như Hơi Thở làm điều kiện kích thích cung Phản Xạ, thì Chánh Niệm (tức đáp ứng với điều kiện đó) cũng sẽ xảy ra liên tục.

Hạnh Trương

<<- Giai đoạn đầu : Nhận biết theo dõi riêng chỉ “hơi thở vào, ra”
– Tiếp theo: Nhân biết và theo dõi với mức độ cao hơn “biết hơi thở dài hay ngắn”>>

Nghĩa là đối tượng của nhận biết, theo BS là HƠi THỞ ạ?

HT không thấy khái niệm hơi thở này trong kinh, câu kinh chỉ có 2 động từ Biết và Thở, chứ không thấy xuất hiện danh từ hơi thở như đối tượng cho động từ biết. Đặc biệt hơn nữa, cụm từ ” tôi thở ra (dài, ngắn), tôi thở vào (dài ngắn)” được nhấn mạnh bằng cách cho vào ngoặc kép ( ở Pali là đi với chữ ti)

“Dīghaṃ assasāmī”ti pajānāti

( mượn cớ nói lại cho rõ, hihi)

Hoa Nguyen

Phần đầu kinh An Ban là tập chánh niệm, và làm tâm an định bằng cách đếm và theo dõi hơi thở (không khác kinh quán hơi thở mấy). Ở phần sau của niệm hơi thở trong kinh An Ban là chỉ đặt niệm ở chót mũi, tức ở một đối tượng (cố định) duy

nhất, khi nhận biết hơi thở qua đó. Đến khi thấy được định tướng xuất hiện thì “quên ” hơi thở đi, và tâm (hay niệm) chỉ theo dõi định tướng. Bí quyết giữ định tướng bền vững (và để vào định) là đem nó về chót mũi hay chỗ gần đó.

Phạm Doãn Ở đây không bàn tới “hơi thở” hay “sự thở” Hạnh Trương à! Đề tài này Hạnh đã căn cứ vào Pali và đã làm rõ rồi! Comment này là giải thích, thử tìm ta nguyên lý của tu tập hơi thở. Tại sao sự tu tập lại dựa vào hơi thở? Tại sao phải dùng hơi thở (hay sự thở hay một cái gì đó…bất kỳ) để làm điều kiện cho một cung PHẢN XẠ, mà Đáp ứng của nó là CHÁNH NIỆM. Đó là muốn tạo ra một CHÁNH NIỆM bền vững và liên tục.

Hạnh Trương Lấy cớ ạ, hihi.

Cái câu hỏi tại sao lại là hơi thở, chắc cũng phải nhờ tới Karmalaw Net đó, ra tay đi anh bạn ơi, hihi. Góp thêm ý kiến về vai trò của hơi thở trong việc tu tập.

Karmalaw Net

ơ sao lại lôi KN vào??? pháp “hành” của Kn rất pha trộn, nhưng nhờ pha trộn nên Kn có thể lý giải chuyện này hơi off-topic một chút. Cái “nguyên lý” thì dài dòng lắm nhưng KN nhận thấy hình như Kn ko bao giờ để tâm vào hơi thở hay chót mủi,

vách mủi,..mà, chắc tại vì mấy cái “tác dụng tác hại” của Khí Công, nên mỗi khi thở thì cả toàn thân cùng thở ra thở vào, như là các tế bào cùng thở vậy, và cứ thở ra thở vào thì các luồng khí (kinh mạch) cứ tuần hoàn khắp thân theo hơi thở. Nên tự nhiên, hoàn toàn tự nhiên, cứ mỗi khi chánh niệm ở hơi thở thì sẽ kéo tới chánh niệm ở thân liền ngay sau đó.

Hoa Nguyen PHẢN-XẠ CÓ ĐIỀU KIỆN xảy ra khi tu tập nhiều, thành thói quen (tốt). Lúc mới đầu phải mất gần 1 giờ mới thấy tợ tướng, sau thời gian ngắn dần, nhưng khi ngồi xuống không thể bỏ qua các bước đếm, theo dõi hơi thở. Khi đã tu tập thành thục nhiều, có người cho chỉ cần vài phút. Tập theo câu dạy của thiền sư Nhất Hạnh (Thở vào tâm tĩnh lặng, Thở ra miệng mỉm cưới ) cũng có thể thành phản xạ tự nhiên.

Phạm Doãn

Bài Kinh MN 118 dùng cho hai mục đích.
Tùy theo mục đích mà người tập phải sử dụng cách nào!
1. Mục đích đầu tiên của Pp Quán niệm Hơi thở là phát triển CHÁNH NIỆM, sau đó dùng năng lực của Chánh Niệm để thực hành các pháp quán trên thân

thọ tâm pháp (như chính nội dung bài kinh đề cập đến!).
2. Người thực hành Thiền Định cũng sử dụng bài kinh này. Lúc đó đối tượng khi đặt Niệm phải thu gọn (thân hơi thở), hoặc thu thật nhỏ lại (chỉ trên một điểm tiếp chạm) mà thôi! Chính sự tập trung tại một điểm trên thân tạo ra Định. Tuy nhiên khi tu tập Định chỉ dựa vào sự “tập trung” (mà không chú ý làm sạch tâm) thì rất “đè nén tâm” . Khi có lực đè nén thì cũng đồng thời có lực phản ứng chống lại sự đè nén đó. Do đó người tu thường phải đối mặt với nguy hiểm nhiều hay ít (tùy vào độ sạch tâm của từng người).

Hạnh Trương haha, Karmalaw Net vào cái khác liền nha :) Sẽ có nhiều cái hay từ đoạn “ngắn ngủn” của KN đó

Hoa Nguyen Đè nén tâm là câu chữ của TL Thông Lạc dùng chỉ trích cách loại thiền, nên cẩn thận kiểm chứng lại trước khi dùng. Cái gì cũng là đè nén , hay không phải đè nén nếu nhìn từ góc cạnh khác.

Hạnh Trương

‎206. X. Sáu Sanh Vật (S.iv,198)
1-2) …
3) — Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như vậy, này

các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ trích nói rằng: “Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh trong làng”. Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai (người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì và có hộ trì.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý nhận biết pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn…

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc… Sau khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”.Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: ” Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét bỏ đối với các sắc không khả ái… Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn… khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc… khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

7) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu… Sau khi bắt được con chim… Sau khi bắt được con chó… Sau khi bắt được con giả can… Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào gò mối”. Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào trong nước”. Con chim lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ bay lên trời”. Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào làng”. Con giả can lôi kéo nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến nghĩa địa”. Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: “Ta sẽ đi vào rừng”. Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái, không ghét bỏ… lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị không khả ái, không có ghét bỏ… ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.

8) Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ lực”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

Hạnh Trương Đoạn kinh này quá hay ạ, nên đọc rất kỹ, so sánh kỹ hai ví dụ để thấy hiệu quả, công năng của phần niệm thân

Ở Tương Ưng bộ, pháp hành này có tên là ānāpānassatisamādhi ( định niệm hơi thở), có thêm chữ samādhi.

Không biết điều này có nói lên chuyện gì không nhỉ?

Ngoài ra bên Tương Ưng còn nêu thêm rất nhiều điểm lý thú của pháp hành này.

Hạnh Trương

‎8) Rồi Thế Tôn đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

9) — Này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này được tu tập, được làm cho sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất

‎11. I. Icchànangala (S.v,325)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khóm rừng ở Icchànangala.

2) Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
2) Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
– Ta muốn sống độc cư Thiền tịnh trong ba tháng, không tiếp một ai, trừ một người đem đồ ăn lại.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến viếng Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn lại.

3) Rồi Thế Tôn, sau khi ba tháng ấy đã mãn, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi các Ông: “Với sự an trú nào, này chư Hiền, Sa-môn Gotama an trú nhiều trong mùa mưa?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy trả lời cho cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này chư Hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các mùa mưa”.

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh niệm Ta thở vô, chánh niệm Ta thở ra.

5-10) Hay thở vô dài, Ta rõ biết: “Ta thở vô dài”. Hay thở ra dài, Ta rõ biết: “Ta thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở ra ngắn”… “Quán từ bỏ, Ta thở vô”, Ta rõ biết như vậy. “Quán từ bỏ, Ta thở ra”, Ta rõ biết như vậy.

11) Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.

12) Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, sẽ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc. Và này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc, tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh giác.

13) Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.

Lưu ý trong đoạn kinh trên là ở mỗi đề mục đều có động từ TA RÕ BIẾT (pajānāmi – nó là pajānāti được dùng ở ngôi thứ nhất số ít (ta, tôi))

idhāhaṃ, bhikkhave, sato assasāmi, sato passasāmi.
dīghaṃ assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāmi, dīghaṃ passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāmi; rassaṃ assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāmi, rassaṃ passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāmi;

‘sabbakāyappaṭisaṃvedī assasissāmī’ti pajānāmi
… pe …

‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti pajānāmi, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti pajānāmi”

Hạnh Trương Ở đây dùng từ là pajānāmi, còn trong MN10 và MN118 thì dùng là sikkhati …. vậy … hihi

Hơn nữa , ở MN10, Yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti, tathā tathā naṃ pajānāti.

” thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy pajānāti nó ( đang được sử dụng) như thế ấy”

Thở cũng là một cái gì đó đang được làm …

Phạm Doãn Để giúp cho mọi người đuổi theo kịp các comments này. Hạnh nên cho liền kết luận. Vì dụ như sự so sánh giữa pajānāmi và sikkhati cho thấy điều gì? Nên cho nhận xét và giải thích cùng một lúc! Thank!

Hạnh Trương

Trong bài kinh này, có đoạn khó đó là … vị ấy tập. Cái từ “vị ấy tập” làm nhiều người không biết là tập cái gì ạ. Thành ra tập rất nhiều pháp môn khác nhau.

Nếu so sánh với đoạn kinh mà đức Phật tự mình mô tả về cách tập của mình thì hóa

ra, ngài tập Pajānāti.

Phần tiếp theo ở MN10 cũng như vậy, nói một cách tổng quát, thân thể đang làm cái gì, thì vậy ấy tuệ tri nó như thế ấy. Mà thở thì cũng là một hoạt động của thân ( khi ngồi im, thì hoạt động này là nổi bật nhất), cho nên khi ngồi im, thì đối tượng của tuệ tri là sự thở.

Tóm lại, vị ấy tập, ở đây có thể hiểu là vị ấy tuệ tri sự thở vào, sự thở ra tương ứng theo các đề mục. Tập ở đây chính là TUỆ TRI.

Ý kiến cá nhân của HT thôi ạ

Hạnh Trương

Tiếp theo, đoạn kinh quán thọ của Niệm Xứ, tương ưng Nhóm 4 hai của bài kinh MN118.

MN118
Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyệ

n: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thọ khác nữa trong số các thọ, tức là sự chú tâm tốt đẹp đối với sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống CÓ SỰ QUÁN SÁT THỌ Ở TRÊN CÁC THỌ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.

MN10
(Quán thọ)
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”.

113. Kathañca bhikkhave bhikkhu vedanāsu vedanānupassī viharati. Idha bhikkhave bhikkhu sukhaṃ vā (Sukhaṃ – Sī, Syā, I, Ka) vedanaṃ vedayamāno “Sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti. Dukkhaṃ vā (Dukkhaṃ – Sī, Syā, I, Ka) vedanaṃ vedayamāno “Dukkhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti. Adukkhamasukhaṃ vā (Adukkhamasukhaṃ – Sī, Syā, I, Ka) vedanaṃ vedayamāno “Adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti. Sāmisaṃ vā sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno “Sāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti, nirāmisaṃ vā sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno “Nirāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti. Sāmisaṃ vā dukkhaṃ vedanaṃ vedayamāno “Sāmisaṃ dukkhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti, nirāmisaṃ vā dukkhaṃ vedanaṃ vedayamāno “Nirāmisaṃ dukkhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti. Sāmisaṃ vā adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayamāno sāmisaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti, nirāmisaṃ vā adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayamāno “Nirāmisaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ vedayāmī”ti pajānāti.

Lại là pajānāti

Tương tự như vậy cho nhóm 3 và nhóm 4, phần niệm xứ tương ưng đều là THỰC HÀNH pajānāti.

Vậy có thể kết luận là VỊ ẤY TẬP, ở bài MN118 chính là THỰC HÀNH TUỆ TRI

Phạm Doãn

Cũng có thể nhìn như vầy:
Bài kinh này dạy thực hành CHÁNH NIỆM
bằng công cụ (tool) mà ai bình thường cũng có đó là Tuệ-Tri (pajānāti).
Hạnh và mọi người thấy sao?
– Tuệ Tri là năng lực tự nhiên người bình thường đều có (đã thảo luận nhiều rồi!).
– Còn Như-Thật Tuệ-Tri (yathabhutam pajanati) thì có được sau khi có Thiền Định.
Bài kinh Đại Niệm Xứ ở những đoạn đầu chỉ đòi công cụ là Tuệ Tri (pajanati).
Nhưng ở đoạn Quán Bốn Sự Thực đòi hỏi phải có công cụ là “Như Thật Tuệ Tri” (yathabhutam pajanati)

Hoa Nguyen

Trích từ kinh Tương Ưng Bộ – 9. IX. Vesàli (S.v,320)
và 11. I. Icchànangala (S.v,325):

“những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, sẽ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc. Và này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc

A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc, tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh giác.”

Chú ý câu kinh “làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh giác”. Trong một bài kinh đã học, Phật nói “hiện tại lạc trú” là trạng thái của định Tứ Thiền, vậy cách tập hơi thở như trên (định niệm) sẽ đưa tới Tứ Thiền định. Đó là cách tu tập của bậc A-la-hán để “đoạn trừ lậu hoặc, tận trừ hữu kiết sử ” đi tới “chánh trí, giải thoát”. Vì vậy mới gọi tên là “định niệm hơi thở vô, hơi thở ra” để làm cho “sung mãn là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất (asecanako), lạc trú, làm cho các ác, bất thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức (thànaso)”, cũng nói là “Thánh trú, Phạm trú, Như Lai trú”. (Các chữ trong ” ” trích từ kinh). Nhắc lại hiện tại lạc trú, hay lạc trú là trạng thái của định Tứ Thiền.

Nguyen Ba Thanh

‎@ Quý Sư, Bs. Phạm Doãn, anh Hạnh Trương và quý đạo hữu cho con hỏi trong Vi diệu pháp hay ở chỗ nào có nói về Diệt tầm, Giữ tứ không ạ?

Hạnh Trương Cái này hình như nó là nhị thiền của thiền năm bậc trong vi diệu pháp ( ngũ thiền sắc giới ), Nguyen Ba Thanh tìm hiểu thêm nhé.

Thien Nguyen Ba

Đoạn kết của bài kinh MN062. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la (Mahà Ràhulovàda sutta)

“Tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, này Rahula, làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rahula hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung62.htm

Khó hiểu từ ngữ ở đoạn:

“thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri.”

Hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt?

Giác tri là gì? Nó có tương đương với những cái tri nào sau đây được liệt kê trong link: http://www.facebook.com/notes/hạnh-trương/về-cái-loại-tri/10150948259959759?

Karmalaw Net Quay lại câu hỏi của anhHạnh Trương, tại sao Đức Phật dạy lúc nào cũng là biết hơi thở ra trước rồi mới biết hơi thở vào? Có ai cho ý kiến gì không?

Hoa Nguyen

Trích kinh Quán Niệm hơi thở, bản dịch HT Minh Châu :
“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt

, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “.

Xin thành thật hỏi có ai thực tập được theo đoạn kinh trên không. Vì làm sao trong khoảng thời gian rất ngắn giữa hơi thở ra và thở vào (hay thở vào và ra), hành giả có thể làm được các việc :”Quán vô thường… Quán ly tham… Quán đoạn diệt… Quán từ bỏ… “. “Quán” không phải đọc thầm lời nói, mà là thực hiện hành động (xem xét kỹ sự việc, hiện tượng). Vậy làm thế nào để được vậy.

Karmalaw Net

KN thấy là quán vô thường, quán ly tham, quán xx, trên hơi thở trên thân. Các thuộc tính “vô thường”, “xả bỏ”,..đều nằm trên hơi thở đó và trên thân mình. Chẳng cần phải “quán tưởng” ra, mà là thấy rõ nó như vậy.
Vì một hơi thở tuy thời gi

an ko có mấy giây nhưng rất dài đối với người đang thiền, nó có 4 giai đoạn với 4 “cảm giác” khác nhau, cảm giác khi thở ra và khi thở ra dứt rất dễ nhận diện, nó mang tính xả lạc hơn là hít vào.
Thực sự lúc đó tâm đang trên hơi thở và biết thân, các “ly tham” “đoạn diệt” chỉ là các phần để thấy biết. Vd. ở hơi thở ra và kéo dài 1 chút nghỉ ngơi, KN thấy sự xả bỏ trong an lạc, không có tham muốn gì hết, Kn biết vậy và sống trong sự ly tham ấy. ở cuối hơi thở ra, KN thấy sự đoạn diệt của tưởng (có lẽ vì não thiếu oxy chăng) và KN sống trên sự đoạn diệt yên lặng ấy cho tới khi thân khởi lên một hơi thở vào, cũng có sự xã và đoạn diệt trong ấy.
Không thể nào có chuyện vừa thở vừa suy nghĩ (đọc) câu kinh đó.

Hoa Nguyen

Ý kiến của Karmalaw.net cũng rất hay. Nhưng có người đã nhấn mạnh đến “sẽ” trong câu kinh, nghĩa là ý nói hành động sắp làm (không phải đang xảy ra, khi thở). Quán xong mới thở, không phải thấy vô thường, đoạn diệt trong hay qua hơi thở. Khi nói “Cảm giác lạc thọ,…Với tâm hân hoan,… định tĩnh, …, tôi “sẽ” thở ra, thở vào” thì dễ hiểu , nên không có gì đáng thắc mắc.
Ai biết gì về TL TL cứ đưa lên. Kinh Tứ Niệm xứ không gợi lên các thắc mắc tôi nêu (ý dễ hiễu).

Hoa Nguyen

Cùng đoạn kinh Quán Niệm Hơi Thở trên có các bản dịch khác như sau, thử so sánh:

Tỳ kheo Indacanda dịch:
Vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát[11] về vô thường, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào.’

HT Nhất Hạnh dịch:

13. Ta đang thở vào và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp. Ta đang thở ra và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp. Người ấy thực tập như thế.
….
16. Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ. Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ. Người ấy thực tập như thế.

HT Thông Lạc đặt tên kinh là “Định Niệm Hơi Thở”, nhưng không nói rõ được dịch từ kinh Pali, hay tự sáng tác, và có thêm quán ly sân, ly si:
….
1- ĐỀ MỤC THỨ TÁM:
“Quán thân vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thân vô thường tôi biết tôi thở ra”. Khi thân tâm được an trú trong hơi thở vô, hơi thở ra thì suốt trong
2- ĐỀ MỤC THỨ CHÍN:
“Quán thọ vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thọ vô thường tôi biết tôi thở ra”.

Nhận xét :
1/ TK Indacanda giữ từ “sẽ”, nhưng dùng “Có sự quan sát” thay cho Quán.
2/ HT Nhất Hạnh dùng từ “đang” (thở vào) thay cho “sẽ”.

3/ HT TL không dùng đang hay sẽ. Nhưng viết khi “quán thân hay quán thọ vô thường” thì “tôi biết tôi hít vô, thở ra” (“Quán thọ vô thường tôi biết tôi thở ra”).
Quán điều này mà biết điều kia có hợp logic không. Nếu có biết thì cũng không biết rõ, tức thiếu chánh niệm, tỉnh giác trong việc thở.

Hoa Nguyen

Phần giải thích của ni sư Trí Hải ở chỗ này như sau, rất đáng chú ý : ” Ðoạn bốn pháp này hoàn toàn đề cập tuệ giác, không giống ba đoạn trước đề cập cả chỉ lẫn quán. Quán ly tham và quán đoạn diệt có thể hiểu là tuệ quán đi sâu vào tính vô thường của các hành, và là đạo lô siệu thế chứng niết bàn ly dục (viràga) và chấm dứt khổ đau. Quán từ bỏ là sự từ bỏ nhiễm ô nhờ tuệ và sự thể nhập niết bàn nhờ đạo.” (Toát yếu Kinh Trung Bộ – Ni sư Thích Nữ Trí Hải tóm tắt & chú giải)

Hiểu là khi nói “Quán vô thường… Quán ly tham… Quán đoạn diệt… Quán từ bỏ… (tôi thở vào)” không phải là “chỉ hay quán (thông thường)”, mà là “tuệ quán đi sâu vào tính vô thường của các hành…”. Cũng là một cách giải thích.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s