– MN 001- Kinh Pháp Môn Căn Bản

MN 001- KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN (Mùlapariyàya sutta)

I. Giới thiệu Trung Bộ:

1. Lời giới thiệu Trung Bộ Kinh của Hòa Thượng Thích Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-a.htm

2. Lời giới thiệu Trung Bộ Kinh của Dr. Binh Anson

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-d.htm

II. Bản kinh MN 001

1. Bản được trình bày song ngữ trên paliviet.info

http://paliviet.info/VHoc/13/001.htm

2. Bản Pali của PTS

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/sltp/MN_I_utf8.html#pts.001

3. Bản dịch tiếng Việt của Hòa Thượng Thích Minh Châu

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung01.htm

4. Bản dịch tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.001.than.html

5. Bản dịch tiếng Việt từ bản tiếng Anh từ chú giải của Tỷ kheo Bodhi.

http://www.budsas.org/uni/u-mula/mula2.htm

III. Tài liệu tham khảo cho kinh MN001

1. Luận giải kinh Căn Bản Pháp Môn của Tỷ Kheo Chánh Minh

http://www.budsas.org/uni/u-chanhminh/cbpm01.htm

2. The Discourse On The Root Of Existence by Bhikkhu Bodhi

http://www.dhammatalks.net/Books11/Bhikkhu_Bodhi-Discourse_on_the_Root_of_Existence.pdf (chưa có bản tốt, bản này bị mất ký tự với các từ Pali, ai tìm được xin bổ sung)

3. Chú giải kinh Căn Bản Pháp Môn của Tỷ Kheo Bodhi, Tỷ kheo Giác Lộc dịch

http://www.budsas.org/uni/u-mula/mula1.htm

4. Bản kinh tương đương trong Trung A Hàm,Tưởng Kinh – Thích Tuệ Sỹ dịch từ tiếng Hán

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham106.htm

5. Giảng Kinh của tỷ kheo Bửu Hiền

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-001.htm

6. Bài giảng của Thầy Nhật Từ.

http://www.daophatngaynay.com/vn/mobile/kinh-dien/pali/3305-Kinh-Trung-Bo-giang-giai-Bai-001-Cac-cap-do-nhan-thuc.html

7. Toát yếu Trung Bộ, bài kinh số 1, Ni sư Thích Nữ Trí Hải tóm tắt & chú giải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm

Một số vấn đề đã được thảo luận.

  1. Một số từ được làm rõ: Nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, dục hỷ, nhờ tham dục đã được đoạn trừ, sanh vật, sanh chủ, Abhibhù (Thắng Giả), sở kiến… sở văn… sở tư niệm… sở tri… đồng nhất… sai biệt… tất cả…, dục hỷ là căn bản của đau khổ, .v.v…
  2. Tưởng Tri, Tuệ Tri, Thức Tri, Thắng Tri, Liễu Tri.
  3. Cấu trúc chính của bài kinh

——————

– Theo đề nghị của một số thành viên, nhóm “Pali Chuyên Đề” sẽ đọc, nghiên cứu và thảo luận và tìm hiểu lần lượt tất cả 152 bài kinh của Kinh Trung Bộ. Tùy theo mức độ khó hoặc dễ của từng bài kinh mà sự nghiên cứu & thảo luận sẽ có sự sâu cạn tương ứng.

– Những đề tài nào đã thảo luận rồi sẽ được bỏ qua. Chỉ nhắc lại, nếu có phát hiện gì mới mẻ hơn.

– Sư Indacanda và nhiều thành viên muốn sự học hỏi kinh Trung Bộ (trong nhóm Pali Chuyên Đề) được giới hạn và vận dụng vào việc tìm hiểu PHÁP HÀNH của Đạo Phật nguyên thủy. Thiết nghĩ đây là một khía cạnh rất quan trọng của việc học hỏi và tìm hiểu kinh điển.

– Kính mời các thành viên của nhóm đọc, đưa câu hỏi và thảo luận về bài kinh Trung Bộ số 1 này.

______________

IV. THẢO LUẬN

Phạm Doãn

Chúng ta sẽ bắt đầu thảo luận bằng cách tiếp tục với comment này.

Bhikkhu Indacanda

Bs. Phạm Doãn à, Sư nghĩ không cần post nội dung bài Kinh ở doc, để khoảng trống đó cho các phần quan trọng hơn.

Hôm nay, có dịp trở lại với tưởng tri, thức tri, thắng tri, và liễu tri. Có vị nào còn nhớ từ Pali không? Mong rằng một vị nào đó chịu khó sao lục và tóm tắt lại các phần đã thảo luận trước đây được lưu trữ ở doc. Xin cám ơn trước.

Thuận Pháp Dhammiko

Nội dung sau đây của Bhikkhu Indacanda, Thuận Pháp có xào lại ở trên Blog cá nhân:

Những điều trình bày ở dưới đây ghi lại từ sự hiểu biết của cá nhân, theo trí nhớ, chỉ trình bày khái quát, mong rằng người đọc nên cẩn thận lúc tham khảo và sử dụng:
– jānāti = tri, biết. Danh từ liên quan có thể ghi là ñāṇaṃ = trí. ĐỘNG TỪ “BIẾT” ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA THÔNG THƯỜNG CỦA TIẾNG VIỆT: Tôi biết cái đó.
– pajānāti = tuệ tri, nhận biết, (cái biết do nhận thức chơn chánh, sáng suốt, NTD). Danh từ là paññā = tuệ. CŨNG LÀ BIẾT, NHƯNG TRONG CÁI BIẾT NÀY CÓ MỘT SỰ HƯỚNG ĐẾN, CÓ MỘT SỰ NỖ LỰC, với sự thêm vào của tiếp đầu ngữ pa.
(Hai từ Trí và Tuệ ở trên chỉ thấy được sử dụng ở ngữ cảnh khác có tầm quan trọng hơn).
– vijānāti = nhận thức (từ của HT. MC ?), (thức tri, cái biết do nhận thức bằng các giác quan đơn thuần, NTD). Danh từ là viññāṇaṃ = thức. BIẾT VỚI SỰ PHÂN BIỆT RẠCH RÒI, BIẾT CÁI NÀY VÀ CÁI KHÁC, tiếp đầu ngữ vi có thể hiểu là tách ra, chia chẻ.
– sañjānāti = tưởng tri, nhận biết (cái biết của tưởng hay tri giác). Danh từ là saññā = tưởng. BIẾT DO TỰ MÌNH, tiếp đầu ngữ saṃ có nghĩa là: do bản thân, của bản thân, tự mình.
– parijānāti = liễu tri, biết toàn diện. BIẾT TRỌN VẸN, BIẾT ĐẦY ĐỦ, tiếp đầu ngữ pari có nghĩa là vòng tròn, bao quanh lại.
– abhijānāti = thắng tri, biết rõ ràng không bị mê mờ. BIẾT MỘT CÁCH ĐẶC BIỆT, MỘT CÁCH QUAN TRỌNG, tiếp đầu ngữ abhi là ở trên, cao thượng.
– paṭijānāti = cho biết, hứa hẹn, bằng lòng, (to acknowledge, agree to, approve, promise, consent – ghi theo tự điển), (ứng tri: ứng ra để biết, NTD). LÀM CHO ĐỐI TƯỢNG KIA NHẬN BIẾT, tiếp đầu ngữ paṭi có nghĩa là nghịch lại, đối đầu. Ví dụ gacchati là đi, paṭigacchati là đi ngược chiều.
——————-
– yathābhūtaṃ pajānāti = như thật tuệ tri, nhận biết đúng theo thực thể (biết như thực, biết như đang là, NTD). Cả cụm từ này mới là “seeing as it is”, as it is = yathābhūtaṃ.

By Bhikkhu Indacanda in PALI-Chuyên Đề FB Group.

Bhikkhu Indacanda

Có 1 số từ cần tìm hiểu thêm ý nghĩa của Pali, trước tiên cần phải tìm từ Pali tương đương của một số từ tiếng Việt sau: Pháp môn căn bản tất cả pháp, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, dục hỷ, nhờ tham dục đã được đoạn trừ, Sanh vật, Sanh chủ, Abhibhù (Thắng Giả), sở kiến… sở văn… sở tư niệm… sở tri… đồng nhất… sai biệt… tất cả…, Dục hỷ là căn bản của đau khổ, .v.v…

Bhikkhu Indacanda

Đề nghị các thành viên chớ nên “edit doc”, công việc này chỉ dành riêng cho Bs. Phạm Doãn. Xin cám ơn.

Phạm Doãn

Thưa Sư, tất cả comments ở đây đều đã lọt vào cái document con vừa create. Trước đây con rất chán vì đã create document xong rồi thì mọi người lại vẫn cứ post comment ra ngoài. Ví dụ Document “Thảo luận liên quan đến Quán bất tịnh và…”. Một số comment cuối cùng đã lọt ra ngoài Document vì không đáp lại lời yêu cầu “Mời các vị comment tiếp ở đây ạ”!

Phạm Doãn

Facebook “hay” ở chỗ mình chỉ cần create một cái đề tài thảo luận, rồi tất cả các comments theo sau đều tự động nằm chung trong một DOCUMENT. Như vậy rất đỡ tốn công sức và tất cả mọi người đều có thể edit lại (nếu thấy có gì sai)!

Phạm Doãn

Bây giờ quí vị có thể open cái DOCUMENT “Bài Kinh trung bộ số 1″ xem. Tất cả các comments đều đi theo và “dính” với Document. Về sau rất dễ tìm!

Bhikkhu Indacanda

Sở dĩ Sư nhấn mạnh việc: Cái doc căn bản chỉ nên để 1 mình Bs. Phạm Doãn (+ một số admin tích cực) edit để tránh trường hợp nhiều người edit một cách tùy tiện sẽ làm hỏng cái doc đó. Chưa nói đến những kẻ xấu hoặc không kinh nghiệm mở doc ra rồi xóa bớt, thêm vào, hoặc sửa đổi nội dung (đã xảy ra rồi).

Bhikkhu Indacanda

– Đầu tiên Bs. Phạm Doãn chỉ cần mở doc với đầu đề:
MN001- KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN (Mùlapariyàya sutta)
– rồi cho thêm cái link của bài Kinh
– sau đó từ từ có thời gian và gợi ý của các comments mới thêm vào các đề cương
– LÀM NHƯ VẬY THÌ CÔNG VIỆC TẠO DOC SẼ NHẸ NHÀNG HƠN.

Phạm Doãn

Kính nhờ đạo hữu Hạnh Trương biên tập lại DOCUMENT (với đề-cương cho việc nghiên cứu bài kinh TB số 1). Cùng kính mời tất cả thành viên và đạo hữu trên Pali Chuyên Đề tham gia đặt câu hỏi, nêu ý kiến để cùng thảo luận về bài kinh này.

Hạnh Trương

Yes sir, tối nay em sẽ bắt đầu ạ. Ai không tham gia hỏi, trao đổi thiệt ráng chịu , hihi

Bhikkhu Indacanda

Mời Bà Con Cô Bác xem văn bản song ngữ tại đây:
http://www.paliviet.info/VHoc/13/001.htm

Hạnh Trương

Đọc bài kinh song ngữ, con thấy có lẽ cần bắt đầu bằng việc hiệu đính bản dịch Sư ạ. Chắc Sư và các vị thạo Pali làm rõ 1 số điểm trước cho bà con

Bhikkhu Indacanda

Đề nghị về nội dung của doc:
– Đại ý bài Kinh (có thể tìm ở đâu đó ở mạng, hoặc thực hiện lại cho đầy đủ hơn)
– Một số link cần thiết
– Đóng góp của Pali Chuyên Đề: tuyển chọn ở các commnents.

Bhikkhu Indacanda

Có 1 số từ Hán Việt đã nêu ở comment phía trên, phải xem Pali mới hiểu được. Nhưng không thấy ai thắc mắc và nêu lên nên khỏi phải đề cập đến.

Hạnh Trương

Chưa thắc mắc thôi Sư, hehe, Sư không sợ bị thất nghiệp đâu

Phạm Doãn

Trước hết xin thăc mắc về tựa đề kinh : MŪLAPARIYĀYASUTTAṂ
1. Nếu y cứ vào nghĩa của các từ Pali
MŪLA = gốc, rễ, căn bản, nguồn gốc, nền tảng
PARIYĀYA= phương pháp, lớp học, thứ lớp, tượng trưng, biểu hiện
Thì cách dịch của Thày Thích Minh Châu: “Kinh Căn Bản Pháp Môn” là phù hợp.
2. Khu vực nói tiếng Anh dường như có tư duy khác, nên cách dịch cũng khác hẳn:
– Bhik Bodhi: The Root of Existence (Căn bản của hiện sinh)
– Bhik Thanissaro: The Root Sequence (Gốc rễ của sự diễn tiến)
Có đạo hữu nào để ý đến sự khác biệt này xin cho ý kiến. Nhất là các vị đang sống và tu tập ở các nước nói tiếng Anh như sư cô Nguyên Hương, cư sĩ Bình Anson v.v…Rất cám ơn!

Hạnh Trương

Pariyāya

[fr. pari+i, cp. Class. Sk. paryāya in all meanings, already Vedic in meaning of “formula,” in liturgy, cp. below 4] lit. “going round” analysed by Bdhgh in 3 diff. meanings, viz. vāra (turn, course) desanā (instruction, presentation), and kāraṇa (cause reason, also case, matter), see DA i.36 and cp. Kindred Sayings i.320.

– 1. arrangement, disposition, in phrase ˚ŋ karoti to arrange D i.179 (trsln takes it literally “departure,” i. e. going out of one’s way, détour; or change of habit, see Dial i.245); M i.252, 326; iii.7 62; S i.142 (trsl. “make occasion” [for coming]). <->

–2. order, succession, turn, course (=vāra) D i.166 (˚bhatta i. e. feeding in turn or at regular intervals expld as vāra — bhatta PugA 232); M i.78, 282, 481 S ii.51 sq.; A ii.206; J v.153 (=vāra); PvA 242 (aparā˚)

– 3. what goes on, way, habit, quality, property S i.146 (ceto˚; habits of mind, thoughts, but see also pariya); A v.160 (citta˚, see ceto).

– 4. discussion instruction, method (of teaching), discourse on ( — ˚) representation of ( — ˚) (=desanā); thus āditta˚ (of Vin i.34) DhA i.88; esp. in cpd. dhamma˚; disquisition on the Dhamma D i.46; ii.93; M i.83; iii.67; S ii.74 v.357; A iii.62; iv.166, 381; Sn p. 218; also in foll. vitakka˚ M i.122; deva˚ A iii.402 sq.; peta˚ PvA 92 cp. Vism 41 (˚kathā).

– 5. in Abhidhamma terminology specifically: pariyāyena, the mode of teaching in the Suttanta, ad hominem, discursively, applied method, illustrated discourse, figurative language as opposed to the abstract, general statements of Abhidhamma=nippariyāyena, nippariyāyato Vism 473 499; cp. DhsA 317 (figuratively).

– 6. mode, manner reason, cause, way (=kāraṇa) D i.185 (iminā ˚ena), 186 (id.); ii.339 (ayaŋ p. yena ˚ena); DA i.106 (tena tena ˚ena in some way or other); DhsA 366 (iminā ˚ena for this reason); esp. in phrase aneka — pariyāyena in many (or various) ways Vin i.16, 45; D i.1 (cp. DA i.36), 174 M i.24; A i.56; Sn p. 15.

– 7. winding round (of a tree: branch), in doubtful reading at J vi.528 (see pariyā). — See also nippariyāya.

Hạnh Trương

Đọc các nghĩa ở trên, mới thấy dịch Kinh quả là một công việc vĩ đại

Hoa Nguyen

Người xưa dịch thật cẩn trọng và xác nghĩa, khi tuy là cao tăng chưa chắc họ giỏi về từ nguyên. “Căn bản”, nghĩa đen là gốc rễ (rễ và gốc), cho nghĩa hay, đúng và đủ ý hơn “root” trong tiếng Anh. “Pháp môn” dùng dịch cho các nghĩa “class, way, instruction, method of teaching, way, discourse…” đều được. “Existence” cho ý rất xa.

Hoa Nguyen

Tôi viết là “người xưa” vì không phải HT Minh Châu là người đầu tiên dịch bản kinh, mà kinh này đã được dịch từ Sanskrit qua Hán trong bộ kinh Trung A Hàm của Nhất Thiết Hữu Bộ. Với tựa đề thấy được ý kinh trong bản Sanskrit và Pali cũng rất gần.

Phạm Doãn

Từ “exsistence” theo tôi hiểu có thể tương đương với hiện sinh, hiện hữu, hiện tồn, pháp. Có lẽ Bhikkhu Bodhi dùng cụm từ “The root of exsistence” với ý nghĩa là “gốc rễ của các pháp”. Từ “pháp” ở đây có nghĩa là cái hiện hữu, các pháp hiện hữu.

Do đó trong cuốn luận giải về bài kinh MN 001 (The Discourse On The Root Of Existence), Ngài Bodhi tập trung vào sự mô tả và thảo luận về tất cả 24 “pháp” hiện hữu trong thế gian mà Đức Phật đề cập tới trong bài kinh.

Hạnh Trương Nếu là em, em sẽ dịch là ” lý học hiện sinh”, hehe

Hoa Nguyen

Tôi lờ mờ thấy “Căn bản pháp môn” nói về Thiền Định (!?). Còn chưa được nghe Forum phân tích, chỉ là bị ám ảnh bởi các đề mục thiền định khác đã thảo luận.

Phạm Doãn

Theo bản dịch tiếng Việt, bố cục của cuốn The Discourse On The Root Of Existence có phần chính như sau:

Phần hai: Chú giải
Phần Mở đầu
2. Phần Đất
3. Phần Nước, ….
4. Phần Chúng sanh, …
5. Phần Không vô biên xứ, …
6. Phần Sở kiến, Sở văn, …
7. Phần Đồng nhất, …
8. Phần Hữu học
9. Phần Thánh vô lậu
10.Phần Như Lai

Phạm Doãn

Cuốn “Luận giải Kinh căn bản pháp môn” của Tỳ Khưu Chánh Minh cũng có bô cục “rất giống”  như vậy. Nghĩa là cũng có cùng quan điểm và cách trình bày với TK Bodhi. TK Chánh Minh cũng nêu lên 24 đối tượng (hiện hữu, pháp) cùng với rất nhiều chú thích và luận giải về 24 pháp đó.
Xem bố cục chính của cuốn luận giải của TK Chánh Minh bên dưới:
C.1- Phàm Phu (Puthujjana)
I) Sắc Pháp
II) Danh Sắc pháp
III) Vô sắc Pháp

C.2 Vị Thánh hữu học
I) Sắc Pháp
II) Danh Sắc pháp
III) Vô sắc Pháp
C.3- Vị Thánh A La Hán.
C.4- Đấng Như Lai

Phạm Doãn : Anh Hoa Nguyen đã lờ mờ thấy rồi…cố lên!

Hạnh Trương

Đọc cả bài kinh thì thấy toát lên một điều là cái thế giới, chúng sanh, vạn vật, sự hiện hữu mà chúng ta đang thấy, đang nhận thức đều phụ thuộc hoàn toàn vào chính chúng ta. Nói cách khác tùy theo mức độ tu tu chứng mà người nhận thức thấy cái thế giới theo cách của mình.

Nó cũng như Đạo Đức Kinh được bắt đầu bằng câu ” đạo khả đạo phi thường đạo”

Hoặc Đại Học được bắt đầu bằng câu : ” Đại học chi đạo/tại minh Minh Đức”

Một cách sâu xa, dường như các Trưởng Lão có ý rằng ” này các vị , toàn bộ những thứ mà các vị đang nhận thức, kể cả những bài kinh đây, chỉ thuần túy là do quý vị tạo ra…”

Vị ấy tưởng tri địa đại là địa đại…

Cũng đúng y như thế ta có thể nói “vị ấy tưởng tri bát chánh đạo là bát chánh đạo” chăng.

Hoa Nguyen

Ý nghĩa chứa trong bản kinh thật sự sâu thẳm, đọc thấy có 500 vị A-la-hán thuộc hàng thạc học (gốc Ba-la-môn, tinh thông kinh điển) vậy mà vẫn không lãnh hội được lời Phật. Chắc phải nên lần dò tìm hiểu ý kinh.
Trước hết xin đề nghị giảng lại cho thật rõ nghĩa về : tưởng tri, thức tri, tuệ tri, thắng tri và liễu tri. Phần tôi vẫn chưa thấy quen thuộc. Cũng có thể bắt đầu ngay từ đầu bản kinh (sau khi đã tím hiểu ý nghĩa tựa bản kinh).

Phạm Doãn

Anh Hoa Hoa Nguyen có thể tạm tham khảo trong comment của Thuận Pháp Dhammiko tại phía trên của đề tài này.

Phạm Doãn

Bhikkhu Thanissaro đã có một lời giới thiệu cho bài kinh MN. 001
– Nguyên văn:
“The Buddha taught that clinging to views is one of the four forms of clinging that tie the mind to the processes of suffering. He thus recommended that his followers relinquish their clinging, not only to views in their full-blown form as specific positions, but also in their rudimentary form as the categories & relationships that the mind reads into experience. This is a point he makes in the following discourse, which is apparently his response to a particular school of Brahmanical thought that was developing in his time — the Samkhya, or classification school.
This school had its beginnings in the thought of Uddalaka, a ninth-century B.C. philosopher who posited a “root”: an abstract principle out of which all things emanated and which was immanent in all things…”
– Dịch thô:
“ĐỨC PHẬT dạy rằng cột buộc vào quan điểm là 1 trong 4 hình thái cột buộc vào tri kiến trong qui trình tạo sự KHỔ. Ngài khuyên các đệ tử từ bỏ mọi sự cột buộc, không những vào các quan điểm trong hình thái toàn diện như các tư thế đặc biệt, mà còn từ bỏ các hình thái thô sơ như các phạm trù và các mối quan hệ, cái mà tâm trí đem vào trải nghiệm. Đây là một điểm nhấn mà Ngài đã đặt vào bài kinh, rõ ràng là Ngài đã đáp ứng lại một trường phái Bà La Môn đang phát triển lúc đó – Phái Samkhya hay phái Phân loại (còn dịch là phái Số luận)
Trường phái này bắt đầu bằng tư tưởng của Uddalaka, triết gia ở vào khoảng thế kỷ 09 B.C.
Người đã đề xuất một “nền tảng”: Nguyên lý giản lược những cái mà các pháp phát lộ ra, cũng như giản lược những cái nội hàm trong tất cả các pháp…”
———————————-
Bởi vì Bhik Thanissaro tin rằng bài kinh là để nói cho các vị tỳ khưu theo hay ủng phái Số Luận, nên Ngài cho rằng trong bài kinh này Đức Phật giảng dạy về cái diễn trình (sequence) của cái gọi là gốc rễ (căn bản) của các hiện tượng!

Phần mở đầu bài kinh, dòngthứ ba:
TK Thanissara dịch:
– The Blessed One said, “Monks, I will teach you the sequence of the root of all phenomena [or: the root sequence of all phenomena]. Listen & pay close attention. I will speak.”

Phạm Doãn

‎- Qua cách dịch tựạ đề bài kinh là “The root sequence”, dường như Bhik. Thanissaro không nắm được ý kinh và đã tự làm ý nghĩa bài kinh trở nên khó hiểu!
– Nhận xét này chỉ có tính cá nhân nên phải cần đến sự đóng góp ý kiến của mọi người.

—————-
Theo tôi, cách dịch “Kinh pháp môn căn bản” là đúng với ý nghĩa của chữ Pali nhất và phù hợp với ý nghĩa của nội dung bài kinh muốn nói đến. Thử so sánh đoạn dịch của tỳ khưu Th. M. Châu với đoạn dịch của Bhik Thanissaro (đã nêu ở trên)
Tỳ khưu Thích Minh Châu dịch:
– Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ giảng cho các Người “Pháp môn căn bản tất cả pháp”

‎- Trước khi thảo luận về nội dung của bài kinh, chúng ta đã thử xem xét các tựa đề khác nhau của các bản dịch. Dường như có rất nhiều cách hiểu và nhiều quan điểm khác biệt giữa các dịch giả về ý nghĩa của bài kinh.
– Anh Hạnh Trương đã tìm được 2 bản luận giải cho bài kinh. Hai bản luận này rất giống nhau vì có cùng quan điểm. Có vị nào biết đến những quan điểm khác (về ý nghĩa của bài kinh) xin giúp nêu lên để mọi người cùng biết. Rất cám ơn!
.

Hoa Nguyen

Tôi tìm lại nhưng không thấy kinh Căn Bản Pháp môn ở Hán tạng, có lẽ tôi nhớ lầm với bài chú giải của một tác giả có in lại kinh Pháp Môn Căn bản, dựa theo bản dịch của HT Minh Châu. Xin đính chính (và vẫn tiếp tục tìm, vì có khi kinh mang tên khác hay nằm đâu đó thay vì là kinh số 1 như trong Trung Bộ).

Hoa Nguyen

Phần giảng giải kinh CBPM của Tỳ Kheo Giác Minh sau đây ám chỉ có bản kinh Căn Bản Pháp môn trong Hán tạng (Trung A-Hàm):

“Hòa Thượng Thích Minh Châu khi dịch bài kinh này có chú thích: “Điều lạ là theo truyền thống thì các vị Tỷ kheo không hoan hỷ. Nhưng bản chữ La tinh (của hội Pāli text Society) và kinh tương đương trong bộ Trung A Hàm lại ghi các vị Tỷ kheo đều hoan hỷ.”

Hạnh Trương

Đây anh Hoa Nguyen :

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham106.htm

Hoa Nguyen

@ Anh Hạnh Trương. Cám ơn rất nhiều. Đúng là kinh này tương đương với Căn Bản Pháp môn bên Pali, tuy ngắn hơn nhiều. Trong chú thích thầy Tuệ Sỹ cũng ghi tương đương với kinh Mulapariyayasuttam. Tựa là “kinh Tưởng”, chắc muốn nhấn mạnh đến Tưởng tri.
Kết luận lại: Sanskrit và Pali có hai bản kinh với nội dung tương đương, tựa kinh khác nhau, và kinh Pali dài, đầy đủ hơn.
HT Minh Châu nhận định về câu cuối của kinh này khác kinh Pali: “Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-Kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành”.

Phạm Doãn

Kinh Tưởng (gồm có vài dòng chữ) là một ví dụ cho thấy sự nguy hiểm khi lời dạy của Đức Phật bị thất thoát, cắt đoạn và bị hiểu sai ý nghĩa!

Phạm Doãn

Thêm hai cách hiểu và diễn giảng về bài kinh MN 001:

1. Tỳ kheo Bửu Hiền Chùa Pháp Bảo, Mỹ Tho, Tiền Giang, tháng 01-2003
– Tỳ khưu Bửu Hiền dung cách dịch: Kinh Căn Bổn Pháp Môn. Theo thày: “Toàn bộ bài Kinh là sự phân tích tiến trình nhận thức của bốn hạng người…”
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-001.htm

2. Thầy Thích Nhật Từ dùng cách dịch khác mà thày cho là phù hợp: Kinh Các cấp độ nhận thức.
Thày chú thích:
– Nghĩa đen là “Kinh Dạy về Gốc Rễ của Sự Vật.”
– I.B. Horner dịch là “Kinh Nói về Đề Cương Nền Tảng của các Sự Vật” (The Synopsis of Fundamentals of All Things).
– HT. Minh Châu dịch theo cấu trúc chữ Hán là Kinh Pháp Môn Căn Bản, thay vì trong tiếng Việt là Kinh Căn Bản của Các Pháp Môn.
– Nguyên tác Pali ghi “sabbadhammamūlapariyāya dịch sát nghĩa là “nền tảng căn bản của các sự vật hiện tượng.” Về nghĩa đen, “sabba” có nghĩa là “tất cả;” “dhammā” trong ngữ cảnh này không có nghĩa là “pháp môn” mà là “sự vật hiện tượng;” “mūla” là “gốc rễ” hay “căn bản;” và “pariyāya” có nghĩa là “cương yếu” hay “đề cương.”
– Ở đây, chúng tôi không dịch theo nguyên tác, mà đặt tựa đề Kinh là “Kinh Dạy về các Cấp Độ Nhận Thức” theo nội dung chính yếu của kinh, nhằm giúp người đọc dễ nắm bắt được chủ đề chính của Kinh.

Trung Bo giang giai – Kinh so 001 www.budsas.org

Link của thày Nhật Từ: http://www.daophatngaynay.com/vn/mobile/kinh-dien/pali/3305-Kinh-Trung-Bo-giang-giai-Bai-001-Cac-cap-do-nhan-thuc.html

Đạo Phật Ngày Nay – Kinh Trung Bộ giảng giải – Bài 001: Các cấp độ nhận thức – Kinh Trung Bo giang g

www.daophatngaynay.com

Kinh Trung Bộ giảng giải – Bài 001: Các cấp độ nhận thức

Phạm Doãn

Ít ra là đến lúc này, ta có đã tìm được bốn cách hiểu và diễn giảng bài kinh MN 001. Mời mọi người đọc và nghiên cứu xem trong bốn “cách hiểu” này, cách hiểu nào là hợp lý nhất hoặc tất cả đều đúng hoặc tất cả đều sai! Ai không tham gia, thiệt thòi ráng chịu :p

Bhikkhu Indacanda

Mūla là danh từ (noun) nên những định nghĩa nào xem mūla là tính từ (adjective) thì nên loại ra. mūlapariyāya = pariyāya (về, của) mūla, còn sabbadhammamūlapariyāya = pariyāya (về) mūla (của) sabba (tất cả) dhamma. Mong rằng có vị nào sẽ tham khảo và cho biết quan điểm của Aṭṭhakathā.

Hạnh Trương

Theo HT, gốc rễ của vấn đề có thể nằm ở hai từ:

– sañjānāti = tưởng tri

– saññā = tưởng.

Rất cần Bhikkhu Indacanda ra tay, chiết tự, phân tích từ nguyên, từ gốc để mọi người hiểu rõ hơn.

Theo trực giác của HT thì 2 từ này rất không đơn giản, đặc biệt là khái niệm tưởng, dùng ở đây rất mơ hồ và không thể hiện được hết ý nghĩa.

Sự hỗ trợ của Sư có thể sẽ giúp con đưa ra được cái ví dụ để mọi người cùng hiểu rõ hơn mấy khái niệm đặc biệt quan trọng này.

Kính mong Sư Indacanda và quý Sư thông thạo Pāli cùng góp sức nghiên cứu.

Bhikkhu Indacanda

– sañjānāti (saṃ + jānāti) = tưởng tri, biết do tưởng, tự mình biết, biết do tự mình, biết căn cứ vào cái đã biết rồi (động từ)
– saññā = tưởng (danh từ)
TIẾP TỤC TÌM HIỂU CHO HẾT BÀI KINH RỒI TRỞ LẠI VẤN ĐỀ NÀY SAU.

Hạnh Trương

Nếu không qua được vấn đề này thì làm sao đi tiếp được ạ :)

thế nào là biết do tưởng? khi nào thì có tưởng, khi nào thì không có tưởng? Thế nào là do tự mình biết? thế nào là biết không phải do tự mìnḥ

Thế nào là biết mà không do tưởng, liệu có cái biết đó không?

Sư làm ơn soi giùm thêm đi :)

Bhikkhu Indacanda

Mấy vấn đề này trước kia Hạnh Trương thảo luận chi tiết với Tuấn Ly rồi mờ.

Bhikkhu Indacanda

Theo Sư hiểu thì tưởng tri được sử dụng nhiều trong đời sống, học bài, hiểu bài, trả bài cho thầy giáo là do tưởng tri. Biết Word 95 thì có thể dùng word 97, v.v… (cũng là do tưởng tri)

Hạnh Trương

Con góp thêm một chút:

Saŋ˚

Saŋ˚ (indecl.) [prefix; Idg. *sem one; one & the same, cp. Gr. o(malo/s even, a (/ma at one, o(mo/s together; Sk. sama even, the same; samā in the same way; Av. hama same=Goth. sama, samap together; Lat. simul (=simultaneous), similis “re — sembling.” Also Sk. sa (=sa2) together=Gr. a( — a) — (e. g. a)/ koitis); Av. ha — ; and samyak towards one point=P. sammā. — Analogously to Lat. semel “once,” simul, we find sa˚ as numeral base for “one” in Vedic sakṛt “once”=P. sakid (& sakad), sahasra 1000=P. sahassa, and in adv. sadā “always,” lit. “in one”] prefix, implying conjunction & completeness. saŋ˚ is after vi˚ (19%) the most frequent (16%) of all Pāli prefixes. Its primary meaning is “together” (cp. Lat. con˚); hence arises that of a closer connection or a more accentuated action than that expressed by the simple verb (intensifying= thoroughly, quite), or noun. Very often merely pleonastic, esp. in combn with other prefixes (e. g. sam — anu˚, sam — ā˚, sam — pa˚). In meaning of “near by, together” it is opposed to para˚; as modifying prefix it is contrary to abhi˚ and (more frequently) to vi˚ (e. g. saŋvadati> vivadati), whereas it often equals pa˚ (e. g. pamodati> sammodati), with which it is often combd as sampa˚; and also abhi˚ (e. g. abhivaḍḍhati>saŋvaḍḍhati), with which often combd as abhisaŋ˚. — Bdhgh & Dhpāla explain saŋ˚ by sammā (SnA 151; KhA 209: so read for samā āgatā), suṭṭhu (see e. g. santasita, santusita), or samantā (= altogether; SnA 152, 154), or (dogmatically) sakena santena samena (KhA 240), or as “saŋyoga” Vism 495. — In combn with y we find both saŋy˚ and saññ˚. The usual conṭracted form before r is sā˚


Mọi người CÙNG thảo luận mà Sư, hehe

Phạm Doãn

Tóm tắt năm cách hiểu khác nhau về bài kinh MN 001, thể hiện qua cách “thay đổi đề tựa” của bài kinh này.
1. Tỳ Khưu Bodhi: The Root of Existence (Căn bản của hiện sinh). Trong cuốn luận về bài kinh này, Ngài Bodhi liệt kê 24 pháp (existence) căn bản mà bài kinh đề cập tới. Cuốn luận của ngài bàn về ý nghĩa của 24 đối tượng này
– Tỳ Khưu Chánh Minh có viết một cuốn luận giải với nội dung không khác với ngài Bodhi. Nghĩa là bàn luận xung quanh 24 pháp
2. Tỳ Khưu Thanissaro có cách hiểu khác hơn (qua phần giới thiệu về bài kinh)
Ngài đặt tựa kinh là : The Root Sequence (tạm dịch: Diễn trình căn bản)
3. Tỳ Khưu Bửu Hiền: Dùng tựa đề “Kinh căn bổn pháp môn” và cho rằng: “Toàn bộ bài Kinh là sự phân tích tiến trình nhận thức của bốn hạng người…”
4. Thày Thích Nhật Từ dịch tựa bài kinh là “Kinh các cấp độ nhận thức” (xem link đã post)
5. Thày Thích Chơn Thiện dịch tựa bài kinh là: “Kinh căn bản của tất cả Pháp”
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-001b.htm

Mong sự góp ý của cô Pham Hoa, sư Rama Bhik, Ven Adhiṭṭhāna, cư sĩ Binh Anson, đạo hữu Hiếu Nguyễn, Vo Trong Phi và tất cả mọi thành viên của Pali Chuyên Đề. Kính!

Trung Bo giang giai – Kinh so 001

www.budsas.org

Hạnh Trương

Theo em hiểu, tên bài kinh chưa thể chốt được khi chưa hiểuhết nội dung bài kinh, cho nên có thể đề tài BS Phạm Doãn đưa ra chưa có kết luận ngay được.

Để tránh tưởng tri về nội dung bài kinh, hihi, thì mọi vấn đề trong bài kinh đều cần được đọc kỹ, thấy rõ, từ đầu cho tới đoạn kết :) , nhiều việc đây, hehe. Có thể cần thêm thời gian để mọi người tìm hiểu, nghiên cứu thêm BS ạ.

Rất cần, rất cần các Sư và các đạo hữu tham gia hỗ trợ!!!

Hoa Nguyen

Ni sư Thích Trí Hải không biết dựa vào sách tiếng Anh nào , hay tự mình dịch ra tiếng Anh là :
Mùlapariyàya Sutta – The root of all things.
Ni sư ghi tựa tiếng Việt bản kinh này là “Pháp môn căn bản”, có lẽ theo cách dịch của HT Minh Châu (có đảo chữ). Nhưng cũng dịch tựa tiếng Anh ra tiếng Việt là “Gốc rễ của vạn pháp” (tôi nghĩ dịch sát nghĩa tiếng Anh và hay).
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm

Trung Bo Toat Yeu – 01

www.buddhanet.net

The Buddha analyses the cognitive processes of four types of individua…See More

Phạm Doãn to ‎Hạnh Trương :

Anh không đưa đề tài nào mới cả. Chỉ nêu lên nhận xét rằng: hiện đã có nhiều cách hiểu bài kinh khác rất nhau. Vậy ta phải đọc và hiểu bài kinh theo cách nào? Đúng như Hạnh nói, phải chịu khó đọc hết nội dung bài kinh rồi mới kết luận được!

Hạnh Trương

Chữ “Vạn Pháp” chắc không ổn, vì Niết Bàn cũng là một pháp, nó chẳng có gốc rễ gì cả, vì nếu có (gốc rễ) thì nó (NB) lại là pháp hữu vi, và cũng sẽ vô thường..

Mà bài kinh thì không thể hiểu cho hết nếu không được phân tích kỹ nhiều từ Pāli, nếu không muốn lại tưởng tri khi nhìn mấy chữ được dịch việt, hihi.

Có lẽ tới lúc Bhikkhu Indacanda chia sẻ về mấy từ Sư đã nêu ra rồi đấy ạ.

Phạm Doãn

Trước hết kính nhờ Bhikkhu Indacanda cho ý kiến về tựa đề của bài kinh. Hình như tên đầy đủ của bài kinh là: “sabbadhammamūlapariyāya”. Tuy không diễn đạt hết nội dung bài kinh, nhưng ít ra cái tựa đề cũng cho ta một khái niệm cơ bản nào đó về bài kinh.

Hạnh Trương

Trong sách của cô Trí Hải mà anh Hoa Nguyen dẫn liên kết có đoạn:

“Về các pháp ấy, có những cách nhận thức khác nhau tùy theo trình độ tu học: lối nhận thức sai lầm của phàm phu gọi là tưởng tri, của người biết qua sách vở là thức tri, của bậc thánh hữu học là thắng tri, của A la hán là tuệ tri. Và cuối cùng, cái biết của Phật là liễu tri.”

“Của A-La-Hán là tuệ tri” thì không ổn, từ tuệ tri có đầy trong kinh điển, từ Niệm Xứ cho tới Nhập Tức Xuất Tức Niệm, nó không thể chỉ là nhận thức của bậc A-La-Hán được!!!

Và cũng không thể nói tưởng tri là nhận thức sai lầm, đó là một kết luận sai lầm khi chưa hiểu tưởng tri và vai trò của nó.

Vì không dùng tưởng tri thì đảm bảo ngay cả một vị thánh cũng không nhận ra đây là cái bình bát, còn kia là y thượng…

Hoa Nguyen

Tôi nghĩ Tuệ tri trên Thức tri nhưng dưới Thắng tri. Có lẽ do viết nhầm.

Hạnh Trương

Con trích lại từ bài của tỷ kheo Bửu Hiền để tiện tham khảo:

———-
Trong bài Kinh nầy, đối tượng bao gồm 24 tiêu đề như sau:

1. Pathavi (Earth): Địa đại, đất, nguyên tố của sự lan rộng. Các thể vật chất ở thể rắn đều là biểu hiện của địa đại. Có hai loại địa đại, địa đại ở trong thân và ngoài thân. Ở trong thân như: tóc, lông, móng, răng, da, … Ở ngoài thân như: mẩu bánh, viên phấn, hòn đá, …

2. Āpo (Water): Thuỷ đại, nước, nguyên tố của sự kết hợp. Thuỷ đại là dạng vật chất ở thể lỏng, cũng có hai loại là thuỷ đại ở nội thân và ở ngoại thân.

3. Tejo (Fire): Hoả đại, lửa, nguyên tố của sự bảo quản. Đây chính là yếu tố nhiệt độ của vật chất.

4. Vāyo (Air): Phong đại, gió, nguyên tố của sự chuyển động. Bốn nguyên tố trên hoà quyện lẫn với nhau và tạo nền tảng cho vật chất, chúng được biết đến với tên gọi là sắc tứ đại.

5. Bhūta (Beings): Chúng sanh, để chỉ cho những chúng sanh ở dưới cõi trời Tứ Đại Thiên Vương.

6. Deva (gods): Chư Thiên, các vị Chư Thiên ở 6 cõi trời Dục giới: Tứ Đại Thiên Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hoá Lạc Thiên, Tha Hoá Tự Tại.

7. Pajāpati (Pajāpati): Sanh Chủ, chỉ cho Ma Vương, vị Vua ở cõi trời Tha Hoá Tự Tại.

8. Brahmā (Brahmā): Phạm Thiên, các vị Phạm Thiên ở cõi trời Sơ Thiền Sắc Giới.

9. Ābhassara (the gods of Streaming Radiance): Quang Âm Thiên, các vị Phạm Thiên ở cõi trời Nhị Thiền Sắc Giới.

10. Subhakinna (the gods of Refulgent Glory): Biến Tịnh Thiên, các vị Phạm Thiên ở cõi trời Tam Thiền Sắc Giới.

11. Vehapphala (the gods of Great Fruit): Quảng Quả Thiên, các vị Phạm Thiên ở cõi trời Tứ Thiền Sắc Giới.

12. Abhibhū (Overlord): Thắng Giả, các chúng sanh ở cõi trời Vô Tưởng. Vô Tưỏng là trú xứ của các chúng sanh chỉ có hình thể vật chất mà không có 4 yếu tố tinh thần: thọ, tưởng, hành và thức.

13. Ākāsānañcāyatana (the base of infinite space): Không Vô Biên Xứ.

14. Viññānañcāyatana (the base of infinite consciousness): Thức Vô Biên Xứ.

15. Ākiñcaññāyatana (the base of nothingness): Vô Sở Hữu Xứ.

16. Nevasaññānāsaññāyatana (the base of neither-perception-nor-non-perception): Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là 4 cõi trời Vô Sắc Giới. Ngược lại với cõi trời Vô Tưởng, các chúng sanh ở cõi trời Vô Sắc chỉ có tâm (4 yếu tố tinh thần) mà lại không có hình thể vật chất.

17. Dittha (the seen): Sở kiến, những gì được thấy.

18. Suta (the heard): Sở văn, những gì được nghe.

19. Muta (the sensed): Sở tư niệm, những gì được ngửi, nếm, xúc chạm.

20. Viññāta (the cognized): Sở tri, những gì được tư duy. Bốn tiêu đề trên là đối tượng của tri giác (perception).

21. Ekatta (Unity): Đồng nhất, đặc tính của vị hành giả đắc thiền, tâm định an trú vào một đề mục nhất định.

22. Nānatta (Diversity): Sai biệt, chỉ cho vị hành giả không đắc thiền, tâm không an trú vào đề mục

23. Sabba (All) Tất cả, đây là tất cả các pháp liên quan đến một cá thể, gồm 6 căn và 6 cảnh: mắt và cảnh sắc, tai và âm thanh, mũi và mùi hương, lưỡi và các vị, thân và xúc chạm, ý và các pháp (đối tượng của tư duy).

24. Nibbāna (Nibbāna): Niết Bàn, ở đây được kể cho năm loại Niết Bàn, gồm trong 62 tà kiến được kể trong bài Kinh Phạm Võng (Trường Bộ Kinh). Đó là sự hưởng thụ ngũ dục và chứng đắc 4 tầng thiền.

Bhikkhu Indacanda ‎to Hạnh Trương:

Bài Phân Tích của Tỳ Kheo Bửu Hiền đã phân tích các từ Hán Việt rồi.
Bs. Phạm Doãn: có 2 từ cần phải chú ý desanā (giảng giải, chỉ ra) và pariyāya (đi vòng quanh, có lẽ là giởi thiệu, hướng dẫn). Như vậy:
– sabbadhammamūlapariyāya = giới thiệu về nền tảng/cội rễ của tất cả /mọi pháp (cụ thể là từ gì thì chưa nghĩ ra)
– mūlapariyāyasuttaṃ = Kinh giới thiệu về mūla (chưa chọn ra từ nghe cho êm tai).
ĐẠI KHÁI LÀ NHƯ VẬY.
Ở đoạn cuối, có nhiều bản Pali ghi là các vị tỳ khưu KHÔNG hoan hỷ (có lẽ do nội dung bài Kinh không đem lại điều gì cụ thể cho các vị chăng?)

Phạm Doãn

‎- “tưởng tri” không có nghĩa là hoàn toàn không cần thiết cho tư duy đâu. Rất đồng ý với Hạnh: Vì không dùng tưởng tri thì đảm bảo ngay cả một vị thánh cũng không nhận ra đây là cái bình bát, còn kia là y thượng…
– Ngay trong trạng thái Định, ngoài năm thiền chi là các thiền chi chủ yếu, vẫn còn có “tưởng” (saññā)
– Tuy nhiên phàm phu thì trí óc (mind) chỉ thuần có một thứ là “tưởng tri”
Còn các bậc thánh thì có “thắng tri”. Có lẽ, khi nào cần dùng đến “tưởng” thì các ngài biết đó là “tưởng”. Chứ không như phàm phu dùng “tưởng” mà lại tin đó là “sự thực”.

Bhikkhu Indacanda

Bs. Phạm Doãn ơi, – Tuy nhiên phàm phu thì trí óc (mind) chỉ thuần có một thứ là “tưởng tri”. VẬY THỨC TRI THÌ SAO? PHÀM PHU CÓ KHÔNG?

Hạnh Trương

Sư dùng từ đi vòng quanh, giới thiệu.. làm con có cảm giác như một tourguide dẫn đi vòng quanh bảo tàng vậy… có lẽ ở đây cũng như vậy chăng, đức Phật làm một tour bao quát hết các vấn đề về nhận thức?

Hạnh Trương năng lực biết từ gốc Pali của Sư lợi hại thật đấy, hehe

Bhikkhu Indacanda

ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto = không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh (có lẽ nên hiểu như sau: không có cái nhìn của các bậc Thánh, không thuần thục pháp của các bậc Thánh, không được huấn luyện trong pháp của các bậc Thánh)

Hoa Nguyen

Pháp thì có pháp hữu vi và vô vi. Niết bàn thuộc về pháp vô vi, nhưng vẫn bị (phàm phu) “tưởng tri” chớ.

Hạnh Trương

Đúng ạ, Niết Bàn có thể được tưởng tri, nhưng khi dùng một từ là “gốc rễ của vạn pháp” mà không loại trừ niết bàn ra khỏi từ “vạn pháp” thì không ổn anh Hoa Nguyen ạ.

Hạnh Trương to ‎Bhikkhu Indacanda:

<<có lẽ nên hiểu như sau: không có cái nhìn của các bậc Thánh, không thuần thục pháp của các bậc Thánh, không được huấn luyện trong pháp của các bậc Thánh>>

Cái này quá hay ạ, rõ ra rất nhiều.

Phạm Doãn

Đính chính sau comment của Sư Bhikkhu Indacanda: Phàm phu có 3 phương tiện để TRi: Tưởng tri (sañjānāti), Thức tri (vijānāti) và trí tri ((pajānāti)

Hạnh Trương pajānāti = tuệ tri chứ BS Phạm Doãn nhỉ.

Hiếu Nguyễn

Mấy cái jānāti này phức tạp, mong các Sư, các vị làm rõ ra ạ, rất là lợi lạc. Con xin ngồi một bên học hỏi từ topic.

Phạm Doãn

Không biết 3 phương tiện để TRi của các bậc Thánh có phải là Thắng tri (abhijānāti), Thức tri (vijānāti) và trí tri ((pajānāti) hay không?

Hoa Nguyen

‎”khi dùng một từ là “gốc rễ của vạn pháp” mà không loại trừ niết bàn ra khỏi từ “vạn pháp” thì không ổn “. Không biết đây có là tưởng tri :-) . Do tưởng tri về Niết Ban.

Hạnh Trương

Vấn đề này không quan trọng lắm, có thể bỏ qua anh Hoa Nguyen:)

Phạm Doãn

Khi nhóm Pali Chuyên Đề được thành lập, chẳng phải vì ngẫu nhiên mà các đề tài đầu tiên lại là vấn đề: thế nào là “tri”, “liễu tri”, “thắng tri”, “như thực rõ biết” v.v…
– Vì sao?
– Vì bất cứ ai đi trên con đường thực hành, cuối cũng phải “va” vào các vấn đề này! Mà va vào là “bí”!
– Theo Phạm Doãn, đây là “ Căn bản pháp môn” đó. Phải học hoài, học nữa, học mãi đến khi thành thục mới được.
– Nhớ có lần Sư Indacanda có comment “Lêu lêu BS Phạm Doãn đã viết Tuệ và giác ngộ mà còn cứ hỏi về Tưởng tri với Thắng tri nữa…
– Bây giờ PD lại tiếp tục hỏi nữa Sư ạ.
– Sư đừng cười nhé!
– Cứ học rồi nó lại quên! hì hì…

Bhikkhu Indacanda ‎to Ven Adhiṭṭhāna

không chịu lao vào cuộc mà cứ ngồi xem rồi bấm LIKE là không có fair đó nghe.

Hạnh Trương

Trong kinh Niệm Xứ, hành giả làm gì thì tuệ tri cái mình đang làm đó, có thể hiểu là luôn đã có pajānāti rồi, nhưng đối tượng của pajānāti là “tôi đang làm …”, không thấy nhắc tới đối tượng bên ngoài.

Vậy không rõ với đối tượng bên ngoài thì có dùng sañjānāti hay không (để nhận biết)?

Vấn đề này liên quan tới việc một vị thánh có sử dụng sañjānāti hay không.

Mở rộng ra một chút, khi chúng ta nhìn thấy một cái ly nước chẳng hạn, thì điều gì sẽ xảy ra, trường hợp nào là sự nhận thức bằng tưởng tri, trường hợp nào là nhận thức qua tuệ tri. Và có hay không việc dùng tuệ tri để nhận thức thế giới bên ngoài?

Hạnh Trương

<<Ven Adhiṭṭhāna không chịu lao vào cuộc mà cứ ngồi xem rồi bấm LIKE là không có fair đó nghe>>

Bhikkhu Indacanda

Viết lại như vầy có được không nè: tưởng tri = biết do tưởng, tuệ tri = biết do tuệ, thức tri = biết do (sự nhận) thức??? Theo Sư nghĩ, vị Thánh cũng dùng tưởng tri trong đời sống hàng ngày.

Hạnh Trương

Con hiểu ý Sư thế này có đúng không nhé, ở đây cái biết thì như nhau, nhưng cái khác là ở chỗ DO CÁI GÌ mà biết, BY WHAT mà biếṭ. Tưởng, tuệ, thức là các trợ duyên cho việc biếṭ. có hợp lý không ạ?

Bhikkhu Indacanda

Cái Biết thì tạm gọi như nhau, nhưng có trình độ cao thấp khác nhau (viết theo sự hiểu biết của cá nhân).

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Bhikkhu Indacanda

Con nghĩ bài kinh này rất cần căn bản Vi Diệu Pháp, vì con nhớ 5, 6 năm về trước khi đọc chú giải của ni sư Trí Hải, ni sư có khuyên, bài kinh này là bài kinh khó nhất trong Trung Bộ Kinh, sau khi đọc hết tất cả các kinh trong Trung Bộ rồi hãy đọc lại bài kinh này, vì tất cả những từ ngữ trong bài kinh này mang hơi hướng và định nghĩa theo lối chân đế (Paramattha paññatti) của A-tỳ-đàm luận. Con có ý vậy đó ạ, e rằng một số thành viên khác của group Pāḷi chuyên đề vẫn cảm thấy mịt mù với bài kinh cực kì hay này :P

Phạm Doãn

Bài kinh “Căn bản pháp môn” chủ yếu là để phân biệt cái “tưởng tri” và “Thắng tri”. Ta có thể giới hạn sự thảo luận với hai từ này. Trong bối cảnh bài kinh, hai từ Tưởng tri và Thắng tri đã được làm rõ nghĩa (về chức năng của chúng). Tương tự, từ “Liễu tri” cũng có thể hiểu được qua ý nghĩa bài kinh.

Hạnh Trương

Theo HT không nên mang vi diệu pháp vào để làm rối thêm vấn đề ạ.

AO Trang Nguoi

Co’ ai vao xem chu’ giai? bai kinh cua Su Giac Loc dich tu*` Ngai Bodhi chua ? Trong phan` gioi thieu keo’ xuong duoi co” : Lu*o*c. Ddo^ Mo^ Ta? bai` Kinh CBPM, trong do’ co ghi ro~ tuong? tri cua 4 hang nguoi` .

Hạnh Trương

HT xin đưa ra một ví dụ, qua đó có thể dễ trao đổi hơn về tưởng tri

Có một đối tượng A trước mặt, đối tượng đó về bản chất là mang vô hạn thông tin. Trong vô hạn thông tin đó có một tập hợp X thông tin được nhãn căn xử lý và trả về kết quả là tập hợp X’.

vđ1: Tập hợp X’ này có trùng với tập hợp X hay không là do chất lượng của nhãn căn và nhãn thức.

vđ2: Tập hợp X’ này là tập hợp nào trong vô hạn thông tin của đối tượng A thì phụ thuộc vào nghiệp, thức và tác ý của người quán sát.

Sau khi tập hợp X’ này đã được ghi nhận (và tồn tại), thì những gì sẽ xảy ra.

b1. Cần phân loại, lọc lựa các thông tin để từ đó có căn cứ, cơ sở để xác định đối tượng trong cảnh đã nhìn thấy ( từ X’ lọc ra nhiều đối tượng x, y, x)

b2. Xử lý kết quả thu được ở bước 1, xác định xem đã thỏa mãn với đối tượng đã nhận được chưa, nếu chưa thì tiếp tục làm bước 1, hoặc yêu cầu nhãn căn thu nhận thêm thông tin. Kết quả của bước 2 này là định dạng cho được đối tượng. Xong thì có cái biết.

Có lẽ toàn bộ vấn đề liên quan tới tưởng, tuệ, thức, thắng, liễu… nằm ở bước 2 này.

giả dụ để xác định được một đối tượng Z ta cần N thông tin , nhưng trên thực tế, ta chỉ thu được N-5 thông tin ( thiếu 5 thông tin), nếu ta dùng TƯỞNG, thì 5 thông tin này sẽ được bỏ qua nhờ năng lực của tưởng là lấy thông tin từ quá khứ ra và điền vào chỗ thiếu.

tiếp đầu tố saṃ với nghĩa “together”, có thể dùng được trong trường hợp này?

Ví dụ mình nghe tiếng lộc cộc ngoài cửa, mình biết đó là có người đang lại gần, nhưng thực tế không phải khi nào cũng vậy.

Hoặc mình thấy cái gì đó nằm trên đường vào lúc nhá nhem, mình biết đó là con rắn, thực tế có thể là con rắn hoặc sợi dây thừng…

Ý của Bhikkhu Indacanda về Do cái gì mà biết thể hiện rất rõ ở đây. Do cái gì mà nhờ đó, từ n thông tin nhận được ta xác định và ghi nhận được một đối tượng.

Nếu cái đó, nhờ nó, là năng lực tưởng, thì kết quả đạt được (sự ghi nhận cảnh đã thấy) là tưởng tri

Nếu cái đó, nhờ nó, là năng lực của tuệ, …. tuệ tri

…Không biết HT hiểu vậy có hợp lý không, xin được trao đổi tiếp ạ.

AO Trang Nguoi

HT đưa ra ví dụ có thể tạm hiểu, kho^ng hiểu ro~ lắm, hơi rắc rối, nhưng có thể nào cho ý kiến chia sẻ kinh nghiệm dưới đây không?

AO Trang Nguoi

Có 2 lần xảy ra, xin trình bày ở đây, nếu có giúp được phần nào tìm hiểu về tưởng tri , cùng ma^y’ cái tri khác trong bài kinh số 1 này . Kính mong quí sư và các đạo hữu cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau. Có 2 lần trong lúc đang đi,rõ ràng thấy người chị đi ngang qua, nhận biết đó là bà chị,nhưng chập giây sau thì không phải bà chị ,mà là nguòi khác củng đeo kiếng như bà chị vây, nhưng rõ ràng là nguoi này làn này nhìn lại khác xa với bà chị,có 2 cái nhìn rất khác xa, cái nhìn lần đầu xác nhận rõ ràng là bà chị, cái nhìn thư 2, gióng như hồ biến 1 cái thành 1 nguòi khác, nó rất kỳ lạ. Lúc đó con có nghĩ qua là con nhìn lầm nhưng cái nhìn lầm này nó không phải nhìn lầm như mình lầm thông thuờng, mà giống như áo thuật va^y. nó không giống như ở xa nhìn sợi giây thừng dài, tưởng là con rắn, nhưng đến gần thì nó là cọng dây , Lần thư 2 củng nhìn một nguòi lạ thành 1 nguoi ban quen, xay ra cung y như vậy, củng may là có để ý nên định gọi nguòi đó mà không gọi, cái nhìn đầu tiên thì nhận ra rõ ràng là nguòi ban, cai nhìn thu 2 khong phải, giữa 2 khoảng cách nhận dạng dó , nó có một cái gì đó, nhưng xảy ra rat nhanh

Hạnh Trương : Cả hai lần đều là tưởng tri ạ.

Bhikkhu Indacanda

pathaviṃ abhinandati = dục hỷ địa đại (dục hỷ = ???)
āpaṃ abhinandati = dục hỷ thủy đại (dục hỷ = ???)
bhagavato bhāsitaṃ abhinanduṃ = hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
abhinandati = dục hỷ, hoan hỷ tín thọ (???)
—————-
NẾU THAY THẾ BẰNG:
… thỏa thích địa đại …, … thỏa thích thủy đại …, thỏa thích lời dạy của Thế Tôn.

TRÍCH LỤC TỪ ĐIỂN:
अभिनन्दति <bmv> abhinandati
————————
– (abhi + nand + a) vui thích vì. aor. –nandi. –dana nt. sự thỏa thích, vui vẻ.
– (abhi + nand + a) rejoices at; finds pleasure in; approves of.
– To be pleased with, to approve of, to rejoice at, to delight in
– [abhi + nandati] to rejoice at, find pleasure in (acc.), approve of, be pleased or delighted with (acc.) D I.46 (bhāsitaṃ), 55 (id.), 158, 223; M I.109, 458; S I.32 (annaṃ), 57, 14, (cakkhuṃ, rūpe etc.); A IV.411; Th 1, 606; Dh 75, 219; Sn 1054, 1057, 1111; Nd‹2› 82; Miln 25; DA I.160; DhA III.194 (aor. abhinandi, opp. paṭikkosi) VvA 65 (vacanaṃ). — pp. “abhinandita” (q. v.). ↔ Often in comb‹n.› with “abhivadati” (q. v.).

Hạnh Trương :

vui thích hoặc thỏa thích đều rõ hơn và dễ hiểu hơn nhiều dục hỷ ạ!

Hạnh Trương: finds pleasure in con thấy hay nhất, hihi

Bhikkhu Indacanda

Cuối mỗi đoạn văn, có 95 lần câu Taṃ kissa hetu? và được trả lời bằng các câu sau (tùy theo bản thể của phàm phu, hữu học, v.v…)
Apariññātaṃ tassā ’ti vadāmi
Pariññeyyaṃ tassā’ti vadāmi
Pariññātaṃ tassā ’ti vadāmi
Pariññātantaṃ tathāgatassā’ti vadāmi
abhisambuddho’ti vadāmi
CÓ LẼ CHỦ ĐỀ CỦA BẢI KINH là ở “TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC” chứ không phải “SỰ VẬT ĐƯỢC NHẬN THỨC” (ex. địa đại, thủy đại, v.v…). Mốt số văn bản kết luận là các vị tỳ khưu KHÔNG ĐƯỢC THỎA THÍCH, có lẽ lý do là các vị bị tủi thân khi biết mình chưa đạt được trình độ tu chứng.

Bhikkhu Indacanda

Các câu kết này mô tả “trạng thái” mà đa số các bản dịch đểu chuyển sanh “hành động” rồi thêm vào các túc từ liên quan như: địa đại, thủy đại (không bỏ trong ngoặc đơn) khiến ý chính của bài Kinh không được nổi bật.

Phạm Doãn

Bài kinh này rõ ràng là trình bày về TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC của các loại người (phàm phu, bậc hữu học, vô học và Như lai) chứ chủ ý của kinh không đặt vào bản chất của 24 đối tượng.

Bhikkhu Indacanda :

Xin lỗi thao tác lầm: chỉ có 37 câu “Taṃ kissa hetu?” ở bài Kinh này (95 là tính cả tập Trung Bộ I).

AO Trang Nguoi

Cam on HT, vay theo so* do^` chu giai? co phai? lan` dda^u` la` tuong? tri ddo’ la` phan? ung khoi? ddau`, xong dden khai’ niem. tuong? tuong., co phai? tien trinh` cai tuong? no’ ddi nhu* the”, nhu*ng giai doan tuong? tuong, khong nhan ra ? xong dden’ phan? ung’ cam xuc ….

Hạnh Trương

nó là thế này ạ. Có cái cảnh ở bên ngoài, cảnh này được các giác quan chụp lại một phần nào đó ( vì sự giới hạn của giác quan- thuộc về nghiệp). Cái cảnh được chụp lại đó nó sẽ được xử lý tiếp bên trong. Trong quá trình xử lý này, tùy theo nghiệp mà có cảm thọ khởi lên, từ đó có ái, thủ, hữu ….

Vấn đề của chúng ta hiện đang bàn chỉ nằm ở chỗ sau khi cảnh đã được captured thì cái gì sẽ giúp chúng ta xử lý để ra được kết quả cuối cùng, là xác định được đối tượng trong cảnh.

Nếu đối tượng không có, mà ta xác định là có, thì đó là tưởng tượng (không có nói là có)

Nếu đối tượng là có mà ta nhận ra là có nhờ thông tin cũ, từ quá khứ, nhờ sự bổ sung các nét cho dù chưa nhìn thấy, hoặc chưa được tách ra từ các thông tin thô đã được ghi nhận, đó là tưởng tri.

HT tưởng ra vậy đó ạ , hihi

AO Trang Nguoi: Thanks HT, lan` nay` minh` hieu ro hon chut ,

Phạm Doãn

Về nội dung bài kinh MN 001
Hỏi:
– Ai đã chia bài kinh ra thành các mục nhỏ: Phàm phu, bậc Hữu học, bậc A La Hán, Như Lai.
– Cách chia như vậy có đúng không?
– Có thể gây hiểu lầm cho người đọc không?

Hạnh Trương ‎to Ven Adhiṭṭhāna

<<sau khi đọc hết tất cả các kinh trong Trung Bộ rồi hãy đọc lại bài kinh này, vì tất cả những từ ngữ trong bài kinh này mang hơi hướng và định nghĩa theo lối chân đế (Paramattha paññatti) của A-tỳ-đàm luận.>>

Vụ này thấy không ổn, bài kinh được các Trưởng Lão để đầu tiên, sao lại phải đọc cuối cùng?

HT cũng có thể nói là “vì tất cả các từ ngữ trong bài kinh này mang hơi hướng của công nghệ thông tiṅ (vì thế nên để qua thế kỷ 21 mới nên đọc)

Hạnh Trương

Không rõ ai chia, nhưng trong bản pāli của VRI đã có các từ đó rồi ạ, nhưng nó được hiểu là thêm vào cho rõ nghĩa thì phải.

Bhikkhu Indacanda

Bây giờ, tổng kết bài Kinh được rồi đó. Ven Adhiṭṭhāna xem giùm bản Miến Điện dịch tựa đề bài Kinh là gì vậy?

Ven Adhiṭṭhāna ‎to Bhikkhu Indacanda

Bạch Ngài, theo bên Miến Điện người ta vẫn để nguyên văn tên của bài kinh thay vì dịch ra ạ
မူလပရိယာယသုတ် (Mūlapariyāya thout)

Phạm Doãn

Thưa sư Ven Adhiṭṭhāna, vậy các sư Miến Điện hiễu nghĩa bài kinh này (MN 001) như thế nào ạ? Có khi nào sư được nghe các sư Miến giảng nghĩa bài kinh này chưa?

Hoa Nguyen ‎”Hạnh Trương” :”

Vụ này thấy không ổn, bài kinh được các Trưởng Lão để đầu tiên, sao lại phải đọc cuối cùng? “
Cái tựa bài kinh mà chúng ta bàn luận rất dài dòng là do các trưởng lão đặt ra thôi, và vì ý nghĩa của nó, “Gốc rễ, Cội nguồn…pháp môn”, nên là lý do theo tôi nghĩ, khi chép kinh Trung Bộ các ngài xếp bản kinh này ở hàng đầu. Nhưng ý nghĩ kinh rất sâu kín, không phải đọc một lần mà hiểu, và dù đọc nhiều chú giảng của nhiều tác giả cũng chưa chắc thông hiểu. Cho nên theo Sư Adhitthana (dẫn từ HT Minh Châu) sau khi đọc CBPM và đọc hết bộ kinh Trung Bộ , nên đọc lại CBPM, là để hiểu rõ kinh hơn, qua các “áp dụng tri thức, tri kiến, kiến giải của CBPM” vào các kinh khác, và lúc đó suy ngẫm lại đây đây có phải là “căn bản pháp môn” hay không.

Về ý của sư Adhithana là nên đọc luận Vi Diệu pháp trước khi nghiên cứu kinh, tôi nghỉ ai đọc Vi Diệu pháp trước khi đọc Căn bản Pháp môn thì đọc kinh dễ hiểu hơn, nhưng không phải điều bắt buộc. Theo tôi hiểu, VDP dùng để giải thích các kinh, ngay ở bản kinh này, nhưng vì nhìn trên quan điểm Chân Đế nên rất khó cho người đọc kinh còn có cách nhìn theo Tục Đế. Với lại theo như tôi có nêu một lần, Vi Diệu pháp đưa ra các kiến giải của các bậc (tác giả) đã có những tri kiến rất cao, phải ở mức thắng tri, thì người thường còn mang nặng tưởng tri và thức tri không thể lãnh hội được (ít ra là đầy đủ), cho nên chỉ phải chấp nhận hết kiến giải của VDP (mà không bàn luận), hay chấp nhận một phần hiểu được (hay có thể tạm thời chưa). Thí dụ, như để giải thích một điều bình thường cho một người bình thường mà dẫn từ luật vạn vật hấp dẫn của Newton thì càng thêm khó hiểu, hay không giúp hiểu được gì hơn, và người đó còn có thể đòi hỏi trước hết phải chứng minh luật Newton là đúng, thì càng thêm phức tạp.

Thuận Pháp Dhammiko

Kinh – Luật – Luận giống như Giới – Định – Tuệ vậy, cái nào cũng quan trọng cả. Vi Diệu Pháp còn có ý nghĩa như là chiếc chìa khóa để hiểu kinh được rõ và nhanh hơn. Nếu có điều kiện, có giảng sư và lòng tin thì ai cũng có thể học và hiểu VDP căn bản. VDP còn trợ giúp cho tu tập Vipassanā rất tốt.

Thuận Pháp Dhammiko:

Luận giải kinh Căn Bản Pháp Môn (Mūlapariyāya Sutta) của Tk. Chánh Minh, có nhắc đến VDP:

B- TÓM LƯỢC BÀI KINH.

Nội dung kinh này nêu lên:

*- Bốn hạng người:

1- Kẻ phàm nhân (puthujjana).
2- Thánh Hữu học (sekkhā).
3- Thánh Lậu tận A La hán (arahaṃ khīṇāsava).
4- Đấng Như Lai (Tathāgato).

*- Hai mươi bốn vấn đề:

– Đất, nước, lửa, gió (4 vấn đề này thuộc về sắc pháp).

– Chúng sanh, chư thiên, Phạm thiên, sanh chủ, Quang Âm thiên, Biến tịnh thiên, Quảng quả thiên, Thắng giả (8 vấn đề này thuộc pháp nhân chế định – puggala paññatti, hay thuộc về danh – sắc pháp).

– Bốn tầng thiền Vô sắc giới, sở kiến, sở văn, sở xúc, sở tri, đồng nhất, sai biệt, tưởng tri tất cả (đồng- dị), tưởng tri Níp-Bàn (12 vấn đề thuộc danh pháp).

Kẻ phàm phu vì không thân cận bậc thánh, lại do tưởng tượng từ 24 vấn đề, nên từ đó sanh khởi thân kiến. Gốc rễ của thân kiến chính là ái, mạn và tà kiến.

Bậc Thánh hữu học, không còn tưởng sai biệt, đối với 24 vấn đề trên các ngài tuy chưa thông suốt nhưng tâm không còn tưởng sai biệt dẫn dắt khiến phải rơi vào thân kiến.

Bậc Thánh A la Hán đã thông suốt 24 vấn đề trên, các Ngài không còn bị tưởng chi phối. đã nhìn thấy đúng thực tướng pháp, các ngài đa đoạn tận ái, mạn do tưởng tạo ra.

Đấng Như Lai, ngoài sự nhận thức đúng như vị Thánh A la hán, Ngài còn biết rõ trọn vẹn 24 vấn đề trên sanh lên do nhân gì? Và chúng sẽ diệt mất do nhân gì, chúng hiện bày có những hình thức như thế nào?…. Đức Thế Tôn liễu tri tất cả như thế đó.
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/cbpm02.htm

Luan giai kinh Can Ban Phap Mon

www.buddhanet.net

Hoa Nguyen

‎”Nếu có điều kiện, có giảng sư và lòng tin thì ai cũng có thể học và hiểu VDP căn bản.” Tôi đồng ý, nhưng thêm một điều kiện để hiểu VDP, là người nghe hay đọc phải có trí tuệ, tuệ tri.

Thuận Pháp Dhammiko

Theo cách hiểu của TP (sự bị lấn át của Tưởng Tri):
+ Phàm nhân: Tưởng tri + Thức tri = Tưởng tri (thức tri vẫn bị tưởng tri nhuộm màu);
+ Thánh nhân hữu học: Tưởng tri + Thức tri = Thắng tri (còn Vô Minh);
+ Thánh nhân Lậu tận: Tưởng tri + Thức tri = Tuệ tri (hết Vô Minh);
+ Bậc Chánh Đẳng Giác: Tưởng tri + Thức tri = Liễu tri (Hiểu biết trọn vẹn, không có ngằn mé).

Hạnh Trương:

P không đọc mấy cmt ở trên nhỉ, phàm nhân mà không có tuệ sao?

Thuận Pháp Dhammiko

Tuệ của phàm nhân lúc được lúc mất, chỉ có bậc Thánh Lậu tận mới có Tuệ vững chắc, có thể nói là Tuệ cố định.

Hạnh Trương

Tuệ thì lúc nào chẳng cố định :) , tuệ mà có thể lúc được, lúc mất thì đâu còn gọi là tuệ :)

Mà phàm nhân có lúc tuệ dụng được, có lúc không, thì đấy mới là cái để mà tu tập đấy TP ạ

Thuận Pháp

Dhammiko Tuệ (Paññā), còn gọi là Minh, VDP giải thích rằng đến A-la-hán mới có được Tuệ cố định. Cố định hiểu theo nghĩ liên tục trong lộ trình tâm, cố định hiểu theo nghĩa khác thì bị rơi vào Thường Kiến.

Hiếu Nguyễn

Xin mọi người quay lại chủ đề chính là mấy cái “tri” để giải quyết bài kinh này rốt ráo hơn.

Như đã nói bàn ở trên, chúng ta tạm đồng ý với kết luận là:

Tưởng tri = biết do tưởng, thức tri = biết do thức, tuệ tri = biết do tuệ.

Vậy câu hỏi ở đây là những cái biết này khác nhau như thế nào? Và tác dụng của những cái biết này như thế nào

Trong bài kinh chỉ nhắc đến phàm phu thì do tưởng tri nên không liễu tri các pháp, còn các bậc hữu học cho tới như lai thì vì thắng tri nên liễu tri các pháp.

Như vậy bài kinh có gợi ý rằng phàm phu nên hạn chế “tưởng tri” mà phát triển “thắng tri” hay không? Đâu là cách để làm được vấn đề này.


Vấn đề VDP: mọi người nói là đọc VDP rồi sẽ hiểu hơn vậy xin vui lòng nói rõ cái hiểu ở đây VDP giúp hiểu kinh hơn như thế nào ạ?

Thuận Pháp Dhammiko

Tưởng ngó vậy nhưng rất tốt, nếu sử dụng đúng cách, nó như bộ nhớ của con người, hay thẻ nhớ của máy vi tính, lưu tất cả thông tin nhận thức (thức tri) trước đó. Người sử dụng Tưởng đúng cách là người có Chánh Niệm trên các thông tin lưu trữ đó, hay còn gọi là lấy thông tin đó ra đúng cách. Muốn vậy phải luôn luôn có sự tu tập tốt, ví dụ lúc trời nhá nhem tối thấy một sợi dây, nếu chúng ta cẩn trọng thấy như thực, tâm không vọng động (mặc dù trong tâm vẫn có cảm giác sờ sợ) thì sẽ không lầm tưởng đó là con rắn, hoặc một vị tu tập đến đắc thánh quả và có thiên nhãn thông chẳng hạn thì cái thấy sợi dây là sợi dây, con rắn là con rắn, không bao giờ lẫn lộn. Vì vậy muốn tưởng tri trở thành thắng tri hay tuệ tri thì phải lo tu tập BCĐ ngay từ bây giờ thôi, khi nào tu tập có thành quả thì thắng tri, tuệ tri,… tự nhiên có, tự nhiên sinh.

Ý kiến của TP như vậy, mong quý Sư, quý đạo hữu bổ sung.

Hoa Nguyen to Hiếu Nguyễn :

“Tưởng tri = biết do tưởng, thức tri = biết do thức, tuệ tri = biết do tuệ.

Vậy câu hỏi ở đây là những cái biết này khác nhau như thế nào? Và tác dụng của những cái biết này như thế nào”.

Đây là câu hỏi rất quan trọng và nhất là nghĩ của”tưởng tri” cần làm sáng tỏ hơn nữa để “nhiều người” hiểu được bài kinh. Tôi cũng đã nêu câu hỏi tương tự như trên, và bây giờ thử tự trả lời để góp ý với anh Hiếu, và chờ được bổ sung thêm.

Tưởng tri được dịch ra Anh ngữ là tri giác (perception) tức nhận thức nói chung qua giác quan, dựa vào những điều đã biết từ trước còn trong bộ nhớ nhờ đã thấy, nghe kể, đọc, bây giờ đối chiếu để nhận biết sự vật mới vừa đón nhận. Tưởng này cho là “tưởng” trong ngũ uẩn thì nghĩ cũng không sai, nhưng nếu vậy nên thấy “tưởng” đó nằm sau “thọ” là cảm xúc khi lục thức tiếp xúc với trần cảnh. Chúng ta có tri giác (tưởng tri) khi mắt nhìn thấy một vật, tiếp theo não bộ hoạt động để tìm trong trí nhớ có cái gì tương tự như vậy, và đối chiếu với điều đã biết trước để sau cùng nhận thức đó là con voi, chẳng hạn. Đó là tưởng tri, và nó có nhiều khuyết điểm, chưa chắc là đúng như thật. Trước hết, tưởng tri phụ thuộc vào khả năng của con mắt hay giác quan, vào ánh sáng hay điều kiện quan sát, cảm thọ, vào khả năng của bộ nhớ và những gì còn nhớ được. Thí dụ chỗ thiếu ánh sáng có thể trông thấy sợi dây mà “tưởng” là con rắn, đây không phải là “tưởng tượng” ra con rắn, mà là tưởng tri vật thấy đó là rắn thật. Mắt cũng không thấy vật nhỏ quá hay xa quá, còn những gì đã biết cũng có giới hạn, và bộ nhớ có khi vận hành không tốt (không nhớ được những điều đã biết lâu trong quá khứ). Nên có người kể chuyện thoáng thấy ai đó mà tưởng là gặp lại người quen cũ. Hay có thể đối chiếu với điều đã biết không đúng, thành suy đoán sai trật. Thí dụ tạm, giả như có người mới gặp con tê giác lần đầu, thấy trên đầu có một sừng, rối nhớ đọc đâu đó trong cổ thư và tưởng tri đó là con kỳ lân của Khổng Tử. Cái khuyết điểm dễ dẫn tới nhận thức sai lạc của tưởng tri là như thế.
Nhưng tưởng tri là khả năng nhận thức bước đầu của con người, và không có tưởng tri thì con người không biết gì hết dù có đủ giác quan, nên con người vẫn cần đến tưởng tri trong đời sống và cũng để tiếp thu tri thức mới. Có điều nên dè dặt là tưởng tri có thể dẫn đến nhận thức sai lầm. Phật chỉ ra cho chúng ta thấy được như thế thì trí tuệ, tri kiến ngài quả hết sức siêu việt! Trong xã hội văn minh ngày nay vẫn có nhiều người quả quyết là “tôi thấy điều gì đó tận mắt, nghe tận tai không còn nghi ngờ gì nữa” (hay cho trong kinh Phật đã nói đúng như thế nào đó), nhưng đó mới là tưởng tri vì mắt có thể thấy sai, tai nghe không đúng âm đúng nghĩa, chưa chắc thấy, nghe đúng và đủ (hay kinh không viết như vậy, không với nghĩa mình tưởng), và sau cùng cái điều gì đó có thể chỉ là một phần biểu hiện bên ngoài, chưa phải là tất cả sự vật, là sự thật bên trong. Chỗ thí dụ này làm tôi nhớ một câu nói nghe ở VN đã lâu: “nói vậy mà không phải vậy”. Vậy chính tai nghe vậy, chính mắt thấy vậy, có khi không phải là vậy, vì còn là tưởng tri.

Hoa Nguyen

Thức tri là hiểu biết nhờ đọc sách, học hỏi, nghiên cứu, suy tư sâu, kỹ về sự vật hay tư tưởng. Hiểu biết này có giá trị, và tạo thành kiến thức khoa học, triết học ngày nay, nhưng vẫn bị giới hạn ở đối tượng nhận thức, như chỉ nghiên cứu về những vật quan sát được, hay đo đếm cân lường được. Phần “siêu hình” (phi vật chất), hay trừu tượng thường không phải là đối tượng và nếu có kiến giải gì thì luôn đáng ngờ. Đây là nhận thức, tri thức thuộc Tục đế, đúng mà chưa đầy đủ và có tính cách tương đối.

Hoa Nguyen

Về Tuệ Tri, tôi vẫn còn hoang mang về vị trí trong các thứ Tri. Theo tôi hiểu Tuệ tri cao hơn Thức tri và dưới Thắng tri, nhưng có nhiều vị (tác giả) giải thích kinh có tên tuổi, uy tín khi chú giải cho Tuệ tri cao hơn Thắng tri.
Tuệ tri tôi nghĩ là hiểu biết trực tiếp, không cần qua giác quan, không cần suy luận với trí phân tích, so sánh của ý thức, như khi còn nhận thức ở mức thức tri. Tuệ tri thường phát sinh nhờ Thiền định, nên thật rất khó cho thí dụ.
Tôi đọc trong kinh thấy viết như: hành giả thở vào và tuệ tri mình đang thở vào, hay hành giả tuệ tri hơi thở ra dài, hay ngắn. Vậy ở mức thấp, tuệ tri được hiểu như nhận biết với chánh niệm, tỉnh giác (cao), để có thể thấy biểu hiện tính vô thường, khổ, vô ngã ở sự vật. Còn Thắng tri, tôi hiểu là nhận biết rõ tính vô thường , khổ, vô ngã bên trong sự vật. Tôi vẫn chưa biết rõ mức cao thấp giữa hai “tri” này.

Hạnh Trương

Tri (biết) khác trí (hiểu) đó anh Hoa Nguyen ạ, anh thử quán thêm về hướng “Tưởng, Thức, Tuệ như là công cụ để có cái biết, nhờ nó mà có cái biết (kết luận về cái đã được thấy). Còn Thắng, Liễu nói về chất lượng của cái biết.

Ví dụ sút má ngoài, sút má trong, sút mu và sút mạnh, sút chính xác. 3 cái đầu khác với 2 cái sau.

Anh tham khảo thêm đoạn mà Thuận Pháp Dhammiko đã đưa lên ở cmt trên, mấy khái niệm với các từ nguyên, động từ, danh từ đi kèm, đặc biệt lưu ý các từ mà Sư Bhikkhu Indacanda đã viết HOA.

Thực ra, với chúng ta, ít khi nào mà chỉ có 1 cái biết cả, để biết thì nó thường có cả ba, cả tưởng tri, cả thức tri, cả tuệ tri, có điều tùy người, tùy lúc mà nó có sự khác biệt về tỷ lệ, vậy thôi. Cũng chính vì thế mà Phật mới nói chúng ta tu tập tuệ tri (ví dụ qua bài kinh số 10 ở Trung Bộ), để cái tỷ lệ biết nhờ tuệ đó nó càng ngày càng được nhiều hơn. Trong khi tuệ chưa được đủ, thì ta có cái tri do thức nữa, nhờ có thức tri mà tưởng tri ít bị nhầm lẫn hơn. Thường thì đây là cách mà một nhà khoa học thông thường hay dùng. Hay cách chúng ta đang dùng đây, khi cùng nhau tìm hiểu, nghiên cứu kinh điển, giáo lý, để không có cái tưởng tri tùy tiện về giáo pháp của Phật.(chúng ta đang trau giồi thức tri)

Khi thức tri và tưởng tri được phối hợp tốt, thì kết quả, ví dụ, có thể là công trình khoa học, kết quả thực sự, chứ không phải là không.

Còn phát minh, sáng chế, những lúc hay gọi là “bùng nổ”, đó là kết quả của tuệ tri vào lúc cuối cùng, cái biết này nó thường gặp và được mô tả là “không hiểu tại sao tôi biết”, vì khác với các cái biết khác qua tưởng, qua thức, cái biết của tuệ là tự nhiên biết, trực giác, không qua suy luận, tính toán, phân tích, chia chẻ.

Đặc biệt của tuệ tri là nó thường đi liền với hành vi của các căn, đôi khi nó nhanh tới mức mà từ cái (1)thấy tới cái (3)làm nó gần như đồng thời, khiến ta không nghĩ là ta đã có cái biết. Người ta hay nói là “tri hành hợp nhất” là gần như vậy, thực ra thì tri ở đây nó xảy ra cực kỳ nhanh, chỉ trong khoảnh khắc, từ cái (1)thấy lập tức có (3)phản ứng(hành) đáp trả, hầu như không nhận ra sự tồn tại của cái (2)tri.

Hy vọng là có thêm thông tin để anh HN tìm hiểu thêm về đề tài rất quan trọng này.

Phạm Doãn

TUỆ TRI
– Paññā: ‘understanding, knowledge, understanding, insight’, comprises a very wide field. The specific Buddhist knowledge or understanding, however, as part of the Noble 8-fold path magga to deliverance, is insight vipassanā, i.e. that intuitive knowledge which brings about the 4 stages of Nobility and the realization of Nibbāna see: ariya-puggala and which consists in the penetration of the impermanency anicca, misery dukkha see: sacca and impersonality anattā of all forms of existence. Further details, see: under tilakkhana.
With regard to the condition of its arising one distinguishes 3 kinds of knowledge knowledge based on thinking cintā-mayā-paññā knowledge based on learning suta-mayā-paññā knowledge based on mental development bhāvanā -mayā-paññā D. 33.
‘Based on thinking’ is that knowledge which one has accquired through one’s own thinking, without having learnt it from others. ‘Based on learning’ is that knowledge which one has heard from others and thus acquired through learning. ‘Based on mental development’ is that knowledge which one has acquired through mental development in this or that way, and which has reached the stage of full concentration; appanā Vis.M XIV.
Wisdom is one of the 5 mental abilities see: bala one of the 3 kinds of training sikkhā, and one of the perfections see: pāramī For further details, see: vipassanā and the detailed exposition in Vis.M XIV, 1-32.

THỨC TRI

– Viññāna: ‘consciousness’, is one of the 5 groups of existence aggregates or clusters;khandha, one of the 4 nutriments āhāra, the 3rd link of the dependent origination paticcasamuppāda, the 5th in the sixfold division of elements dhātu.

TƯỞNG TRI
– Saññā: 1. ‘perception’, is one of the 5 groups of existence khandha, and one of the 7 mental properties cetasika that are inseparably bound up with all consciousness see: cetanā It is sixfold as perception of the 5 physical sense-objects and of mental objects. It is the awareness of an object’s distinctive marks,one perceives blue, yellow, etc.,; S. XXII, 79. If, in repeated perception of an object, these marks are recognized, saññā functions as ‘memory’ see: Abh. St., p. 68f..
2. saññā stands sometimes for consciousness in its entirety, e.g. in n’eva-saññā-n’āsaññāyatana ‘the realm of neither-perception-nor-non-perception’; further, in asaññā-satta ‘unconscious beings’. In both cases reference is not to ‘perception’ alone, but also to all other constituents of consciousness. Cf. D. 9.
3. saññā may also refer to the ‘ideas’, which are objects of meditation, e.g. in a group of 7 ideas, of impermanence anicca-s etc. A. VII, 46; of 10: impurity asubha-s etc. A. X, 56, and another set of 10 in A. X. 60; or to wrong notions, as in nicca, subha-s the notion of permanence, beauty, etc.
—————————————–
BUDDHIST DICTIONARY
(what-Buddha-said.net)

Phạm Doãn

1. Trong Phật Giáo phát triển, chữ Tuệ thường được gọi là “huệ” vì tiếng Quan Thoại phát âm là “huey”cũng gần giống như “huệ” vậy. Huệ và Trí là những danh từ thường gặp và có ý nghĩa gần giống như nhau [3]. Ngoài ra, chữ prajñā trong kinh điển Phật giáo phát triển, cũng thường được dịch thẳng ra là “Bát Nhã ” [4].
——————
2. Trong kinh điển nguyên thủy: Tuệ là sự nhận biết, còn Trí là Tuệ đã được nhận biết rõ ràng và trọn vẹn. Phân Tích Đạo (Patisambhidamagga), bộ kinh thứ tám trong Tiểu bộ kinh, phân biệt hai khái niệm rất gần nhau là TRÍ và TUỆ bằng những cụm từ thường luôn được lập lại như sau:
– “Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā
Điều ấy theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là TRÍ (ñāṇaṃ), theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là TUỆ (paññā).”
——————-
3. Như vậy, có nghĩa là hai khái niệm Trí (ñāṇaṃ) và Tuệ (paññā) rất gần nhau, có thể xem chúng như có ý nghĩa giống nhau. Trí được xem như là Tuệ đã thành tựu viên mãn.

Phạm Doãn

Theo ngôn ngữ của Vi Diệp Pháp (Abhidhamma) thì:
1. Tuệ và Trí đều là biểu hiện của tâm sở Tuệ. Tâm sở Tuệ có những mức độ nhận biết khác nhau gọi là Tuệ và Trí.
2. Thức là các tâm vương. Thức thì chỉ là sự nhận biết cảnh một cách đơn thuần. Các danh từ Tâm (Citta), Ý (Mana), Thức (Viññāṇa) không có sự sai khác về ý nghĩa, tùy theo chỗ dùng mà chúng có nhiều tên gọi khác nhau.

Hoa Nguyen

Thức tri tôi hiểu thuộc về Ý thức, với trí suy luận, so sánh, phân biệt (sách còn nói là trí biệt biện).
Tuệ Tri tôi hiểu như Anh ngữ dịch trên là Insight. Nhưng có lẽ ở Phật giáo với nghĩa cao hơn.
Tưởng tri Anh ngữ dịch là Perception, hay Tưởng uẩn thì cũng giống cách tôi trình bày ở trên. Nhận thức từ giác quan (xúc) cho cảm Thọ qua Tưởng uẩn và vận hành (Hành uẩn) hay “xử lý” để được tiếp nhận ở Ý thức thành Thức tri.
Có lẽ tôi hiểu theo quan điểm hơi giống kinh sách Bắc tông, theo đó các Thức sau khi tu tập Thiền định thành tựu sẽ biến thành Trí.June 7 at 9:08am · Like

Hạnh Trương

Em thấy nếu mà VDP viết là các danh từ “Tâm (Citta), Ý (Mana), Thức (Viññāṇa) không có sự sai khác về ý nghĩa, tùy theo chỗ dùng mà chúng có nhiều tên gọi khác nhau” thì có vấn đề. Giải thích ra thì nó rất nhiều từ, nhưng em thấy chúng là 3 cái khác nhau rất rõ ràng. Em sẽ gắng tìm một ví dụ phù hợp để tránh phải dùng các khái niệm khác mà nhiều người sẽ rất khó hiểu.

Mà hình như mình đã đi quá đề tài về bài kinh số 1, hihi.

à, ví dụ thế này : nước là tâm, sóng là ý, sự LÀM TRÔI thuyền là thức, hihi.

Hoa Nguyen

“Anh tham khảo thêm đoạn mà Thuận Pháp Dhammiko đã đưa lên ở cmt trên”. Thât sự tôi thấy hơi giản lược, và hiểu nghĩa của từ nguyên, về mặt văn tự, cũng chưa phải là hiểu nghĩa của thực chất sự vật mà Phật muốn nói tới. Ngôn ngữ chỉ là phương tiện diễn ý, và có thể không diễn tả đủ ý tưởng của người sử dụng.

Đơn Sa

Khi tìm hiểu bài kinh này, sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần và suy tư, ĐS có thể hiện bài kinh trong một cái ma trận 8 cột (Phàm Phu; Hữu học;…;Như Lai II) và một số dòng lấy từ nội dung trong trừng mục (ví dụ dòng 1: Có kẻ phàm phu ít nghe; có Tỷ kheo; …; Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác)

Thì thấy một quá trình biến đổi từ vị trí (1,1) đến (n,8) và thấy Tưởng Tri, Thắng Tri, Liễu Tri theo thứ tự từ thấp đến cao. Nhưng “Liễu tri Niết Bàn”, nếu theo ma trận này thì vẫn chưa phải là điểm chốt cuối, mà điểm chốt cuối (n,8) là: “Vì Như Lai biết rằng: “Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.”

Rồi đọc thêm ngoài kinh này (dạng bài viết, luận, trao đổi) thì thấy xuất hiện thêm: Thức tri, Tuệ tri. Vậy, những: Tưởng Tri, Thắng Tri, Liễu Tri, Thức tri, Tuệ tri, có thể phân cấp từ thấp đến cao theo tiến trình tu học được không? Với mỗi mức như thế thì lấy những tiêu chí gì để biết là đang ở mức đó? Tuệ Tri có phải là cái (n,8) của Đấng Như Lai II (cột thứ 8)?

Thêm một ý, là chỉ có cột 1 (Phàm Phu), mở đầu bằng “có kẻ phàm phu ít nghe”
Còn từ cột 2 trở đi (Hữu Học), mở đầu bằng: “có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu”
Liền suy nghĩ, phải chăng, phải là “Tỷ kheo” thì mới tiếp tục từ cột thứ 2 (Hữu Học), còn nữa thì vẫn cứ luần quần (khi tỏ, khi mù mờ) trong cái cột 1 (Phàm Phu) hay sao? Kính mong các sư và đạo hữu chỉ cho thêm.

Hạnh Trương: Hữu học là ghê lắm rồi đó, hihi, DS hỏi thêm bồ tát google xem :)

Hạnh Trương

theo HT thì có 3 mức thôi :

1. Tưởng Tri, Thức Tri, Tuệ Tri đều thuộc một mức, đó là biết mà không biết như thật ( nhưng trong 3 cái biết này, thì chí có tuệ tri là vượt lên được, để có thể đạt tới thắng tri và liễu tri, cho nên tuệ là cái cần được tu tập là vậy)

2. Thắng Tri là đã biết như thật, mà không biết trọn vẹn, đầy đủ mọi khía cạnh, mặc dù khía cạnh đang biết thì biết tối cao, không còn gì thiếu sót

3. Liễu Tri là Thắng Tri mọi khía cạnh, biết sâu, biết đủ và biết trọn vẹn, biết toàn diện.

Còn LÀM SAO để có tuệ tri và tuệ tri đó có được năng lực như thật tuệ tri thì là đề tài của BÁT CHÁNH ĐẠO

Đơn Sa

Ý đây là, phải là: “Có Tỷ-kheo, hữu học” hay không? (Còn nếu Cư sĩ thì sao ấy, kiểu như “Có Cư sĩ, hưu học…” hay không? :) Hay Cư Sĩ thì vẫn cứ luần quần trong “Phàm Phu” ?

Hạnh Trương: Cư sỹ vẫn có thể là hữu học như thường :)

Đơn Sa:

Vì trong kinh này, chỉ thấy “Phàm Phu”, và Tỷ – kheo trở lên thôi, không thấy hình bóng cư sĩ nào :)

Bhikkhu Indacanda

Đừng để mất thì giờ với các “tri” nữa, đã giải quyết xong từ lâu rồi (tìm xem ở doc, phần thảo luận giữa Tuấn Ly và Hạnh Trương, có giải thích theo khoa học với nhiều thí dụ). Nội dung của bài Kinh đã rõ. Việc chính bây giờ là tìm từ thích hợp cho đầu đề.

Hạnh Trương

Sư chơi kiểu “đàn áp” nha, vấn đề ở chỗ đọc là thụ động, để mọi người trao đổi thì mới hiểu hơn chứ ạ, từ cái đầu mà ra được cái tay (gõ phím) là cả một quá trình phát triển của con người đó Sư, hehe.

Mà cũng phải sợ Sư thôi, ai chưa kịp trao đổi thiệt ráng chịu, giờ thử tìm xem cái tên nào thì phù hợp :)

Đơn Sa May mà chủ thớt trong FB không có quyền MOD (khóa member) hihi :)

Bhikkhu Indacanda

Không có “đàn áp” à nghen. Đã đọc rồi mà vẫn không hiểu là khác. Chưa đọc mà hỏi thì khác. Không lẽ một lớp học phải bỏ thời gian để ôn lại bài cũ cho những học sinh vắng mặt hay lơ đễnh sao? Còn nhiều việc khác đang chờ ở phía trước.

Hạnh Trương Yes sir!

Phạm Doãn

Sau khi đọc bài kinh.
Tôi thấy lời giảng của Đức Phật đúng là muốn trình bày phần nền tảng, cơ bản (gốc, mula) của con đường tu tập Đạo Phật.
Vậy, H.T. Minh Châu dịch tựa đề “Pháp môn cơ bản” là tương đối hợp lý.
Tuy nhiên,
– theo nội dung kinh
– và cũng để dịch chữ mula như một noun
thì có thể gọi tên kinh là: “CĂN BẢN CỦA PHÁP MÔN”
– Vì sao bài kinh là “phần căn bản” của giáo pháp sẽ được nhóm Pali chuyên đề giải thích làm rõ.
– Nếu ai đọc và hiểu bài kinh theo một ý nghĩa khác, tức không đồng ý nội dung của kinh là “căn bản” của pháp môn, xin cho phản biện ở đây để cùng thảo luận.

Hiếu Nguyễn

Để giúp mọi người không rành kiếm file:

Document 1 – LIÊN QUAN ĐẾN TỪ “BIẾT” (JĀNĀTI): https://www.facebook.com/groups/paliviet/doc/127606977326422/

Document 2 – TÁC Ý (manasikara) & TUỆ TRI & TƯỞNG TRI
https://www.facebook.com/groups/paliviet/doc/134582566628863/

Mọi người đọc kỹ 2 văn bản này cho rành mấy cái tri, theo ý Sư chúng ta không bàn lại những gì đã bàn rồi, rất mất thời gian.

Bhikkhu Indacanda

Giữ y nguyên tựa đề mūlapariyāyasuttaṃ như Miến Điện, Sri Lanka vậy mà khỏe, khỏi động não nhiều.
Ý KIẾN CÁ NHÂN VỀ VIỆC NÀY NHƯ SAU:
mūlapariyāyasuttaṃ = Kinh Trình Bày về Nguồn Cội (pariyāya = giải thích, mūla = nguồn cội)
sabbadhammamūlapariyāyaṃ vo, bhikkhave, desessāmi = Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các ngươi sự trình bày về nguồn cội của tất cả các sự việc (pháp).

Phạm Doãn

Ý kiến riêng:
Đi học, ai cũng biết rằng sự học luôn cần thiết có cái gọi là “nền tảng” hoặc “căn bản”. Sợ nhất là khi học mà “mất căn bản”. Khoa học đã được xây dựng trên các môn khoa học căn bản (fundamental or basic science). Ví dụ: Ngành kỹ-sư được xây dựng trên các khoa học căn bản như Lý, Hóa, Sinh v.v… Khoa giải-phẫu được xây dựng trên một số các môn khoa học gọi là căn bản như mô học, cơ thể học, sinh lý học v.v…
—————
Tương tự như vậy Giáo Pháp của Đức Phật cũng được xây dựng trên một số “căn bản”. Bài kinh MN 001 nằm trong phẩm kinh cũng gọi với tên tương tự (MŪLAPARIYĀYAVAGGO). Điều này hàm ý rằng Phẩm “pháp môn căn bản” chủ yếu là trình bày những nguyên lý và nguyên tắc được coi như cần phải biết rõ nhất. Không phải vì tình cờ mà bài kinh được xếp vào vị trí đầu tiên của Trung Bộ kinh. Vì nội dung kinh MN 001 là đưa ra cái căn bản (nguyên lý) quan trọng nhất cho sự tu tập.
—————
(So sánh giữa Khoa học với giáo pháp của Đức Phật không phải là vô tình mà là một chủ ý có mục đích. Tôi tin rằng nếu lột bỏ lớp vỏ tín ngưỡng, thần bí ra khỏi Giáo pháp của Đức Phật thì ta sẽ thấy một ngành khoa học tâm linh thật cao siêu.)

Hoa Nguyen

Trước mắt, Tưởng Tri là quan trọng nhất cho việc đọc hiểu bản kinh này nên cần tìm hiểu cho rõ nghĩa. Tôi trích đoạn hai góp ý rõ nhất về Tưởng Tri trong Doc anh Hiếu Nguyễn giới thiệu.

Sư cô Nguyên Hương: TƯỞNG TRI: trong tiếng Pali là sañjānati (san + jānati), có thể dịch nghĩa đen là biết trong tâm, hay ý tưởng về một kinh nghiệm vừa đi qua. Sañjānāti [saŋ+jānāti] 1. to recognize, perceive, know, to be aware of 2. to think to suppose 3. to call, name, nickname Có một đoạn kinh rất hay trong Madhupinndika sutta (M I, 28) như sau: “cakkhuñcāvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā V vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti P , yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu. Nghĩa là: khi con mắt tiếp xúc với sắc trần, nhãn thức sinh khởi; sự gặp gỡ của ba tác nhân (mắt, sắc & tâm tỉnh thức) là xúc; duyên xúc (tạo ra) thọ; cái gì vừa thọ nhận (cảm giác) thì có tưởng tri (tri giác); tưởng tri đó dẫn đến suy nghĩ: tầm (vitakketi) những gì vừa suy nghĩ đem đến vọng tưởng (papañceti)…

Tuấn Lý:Tưởng Tri (sañjānati): là loại chúng ta sử dụng thường ngày. Loại tri này lệ thuộc vào ký ức và sự đặt tên. Mắt ta thấy một cây bút, ta không quán sát gì nhiều nhưng vẫn biết ngay đó là một cây bút. Đó là tưởng tri. Tưởng tri nhờ cậy vào sự hiểu biết (và sự định danh) đã có trong quá khứ.

Tôi thấy giải thích của Sư cô Nguyên Hương chi tiết, đầy đủ và phù hợp với giải thích của nhiều người về Tưởng Tri.
Ý của Tuấn Lý tạo một thắc mắc là “định danh”. Thử hỏi em bé chưa biết nói, hay một sinh vật khác như con chó, con cọp có tri giác không, và có cần “định danh” để tri giác hay tưởng tri không.

Hạnh Trương

Qua ý kiến của BS Phạm Doãn, con thấy nội dung bài kinh chưa rõ đâu Sư. Con xin tóm tắt lại bài kinh như thế này để mọi người dễ theo dõi. Còn việc đặt tên thì không khó đâu, tưởng chút là ra thôi mà, hehe.

1. Phàm Phu:
Tưởng tri ABC -> nghĩ tới ABC -> dục hỷ ABC, vì không liễu tri ABC

2. Hữu học:
Thắng tri ABC -> không nghĩ tới ABC -> không dục hỷ ABC, vì có thể liễu tri ABC

3. A-La-Hán
Thắng tri ABC -> không nghĩ tới ABC -> không dục hỷ ABC, vì đã liễu tri ABC; vì tham; vì sân; vì si đã được đoạn trừ.

4. Đấng Như Lai
Thắng tri ABC -> không nghĩ tới ABC -> không dục hỷ ABC, vì đã liễu tri ABC; vì đã biết dục hỷ là căn bản của đau khổ; vì đã chân chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng giác (nhờ sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ hoàn toàn các ái)

( mũi tên -> chỉ cho quan hệ nhân quả)

Bhikkhu Indacanda

NÓI CHUYỆN BÊN LỀ:
Dễ lầm lần giữa tiếng Hán Việt và tiếng Việt.
Vd: Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) dễ hiểu lầm thành: con đường có đặc tính thanh tịnh. Thật ra phải hiểu là: Con đường đưa dến sự thanh tịnh, con đường đưa đến Niết Bàn.
– Cũng vậy, nếu gọi là Căn Bản Pháp Môn thì không có nghĩa là Pháp Môn ấy có đặc tính Căn Bản, mà là Pháp Môn của các Căn Bản.
– Pháp môn (84.000 Pháp Môn) đã được chỉnh sửa thành 84.000 Pháp Uẩn, nghĩa là 84.000 đề tài thuộc Giáo Pháp. Giờ Pháp Môn này (pariyāya) có ý nghĩa là sao??? ÔI VĂN TỰ, NGỮ NGHĨA!!!

Phạm Doãn

‎- Bài kinh thực sự rất ngắn, chỉ đơn giản đúng như phần tóm tắt của đạo hữu Hạnh Trương vừa post.
– Nội dung chỉ đặt trọng tâm vào “các mức độ nhận thức khác nhau” của bốn loại người.
– Bài kinh không đặt trọng tâm vào sự mô tả 24 đối tượng. Bài kinh chỉ đưa ra 24 đối tượng để “làm rõ” các nhận thức (cái Biết) khác nhau giữa bốn loại người đó. Các cuốn luận về MN 001 (như Pali chuyên đề đã nêu) xoay quanh 24 đối tượng, với những mô tả chi tiết, chú thích rườm rà, dư thừa, khiến cho người đọc không nhìn ra ý chính của bài kinh!

Phạm Doãn

Theo cách đọc và hiểu của tôi, thì bài kinh TRƯỚC HẾT chỉ muốn ta:
1. Phân biệt Cái Biết của “Phàm phu” với cái Biết của các “Bậc Thánh” (gồm Hữu học và Vô học)
2. Phân biệt Cái biết của Bậc Thánh Hữu-Học (Nhập Lưu, Tư Đà Hoàn, A Na Hàm) với đấng Như –Lai
Và sự phân biệt này hàm ý:
– Tu tập chẳng qua là để thay đổi cái Biết của phàm phu vốn mê mị vì dựa nhiều vào “Tưởng tri”,
– để trở thành cái Biết của bậc Thánh có năng lực “thấy như thực” bởi “Thắng tri”.
(Cái biết của “Thắng tri” hướng tới Giác Ngộ sẽ là một trong những nhân tố tạo ra Tuệ Giác Ngộ.)
———–
Bài kinh cũng cho biết sự phân biệt bậc Hữu Học (Nhập Lưu, Tư Đà Hoàn, A Na Hàm) với đấng Như –Lai căn cứ vào mức độ các ô nhiễm (Tham, Sân, Si) chưa được diệt trừ hoàn toàn hay đã được diệt trừ hoàn toàn.
Và sự phân biệt này hàm ý:
– Cái “căn bản” thứ hai trong tu tập là phải ĐOẠN TRỪ CÁC Ô NHIỄM (lậu hoặc).
– Đoạn trừ lậu hoặc bằng các Pp thanh tịnh Tâm sẽ được bàn tới ngay trong bài kinh thứ nhì của Phẩm “pháp môn căn bản”
————
Vì bài kinh chỉ đề ra nền tảng căn bản cho sự tu tập nên chưa muốn chúng ta phải đào sâu các khái niệm như tưởng tri, thắng tri, 24 đối tượng. Bài kinh chỉ trình bày các so sánh giữa 4 loại người nhằm nói rằng muốn thực hành đúng Đạo của Phật, cần phải biết hai “căn bản”, đó là:
1. Tu tập để có được THẮNG TRI
2. Tu tâp để đoạn trừ các LẬU HOẶC
Bài kinh chỉ có ý muốn trình bày như vậy và chỉ như vậy thôi!
– Có thể còn sót điều gì nữa mà tôi chưa tìm thấy trong bài kinh, xin mọi người bổ sung, hoặc
– Nếu chưa đồng ý với quan điểm này thì xin mời mọi người phản biện, thảo luận tiếp.

Hạnh Trương

Chốt thôi, chốt thôi, cái tên không phải việc của chúng ta, là việc của Ngài Indacanda, nghĩ làm chi cho khổ, hehe

Bhikkhu Indacanda

Có thêm ý này:
Đối tượng của mắt là cảnh sắc (rūpa)
Đối tượng của tai là âm thanh (sadda)
……………….
Đối tượng của ý là pháp (dhamma)
Có nhiều khả năng của từ sabbadhamma ở cụm từ sabbadhamma-mūlapariyāya là các đối tượng của ý, của sự nhận thức???

Bhikkhu Indacanda

Chốt được rồi đó. Nên thêm phần tóm tắt của Cố NS Trí Hải ở doc. Bản song ngữ của MN002 đã được đưa lên mạng rồi đó.

Hiếu Nguyễn

Đọc lại văn bản được format đẹp, nội dung ngắn gọn, hợp lý, thật là hết sức hoan hỉ công sức của mọi người. Đây thật là một khởi đầu tốt đẹp, sadhu sadhu sadhu!!!

Hạnh Trương

Chuẩn bị mấy ngày tới nghỉ ngơi đi, bài kinh sau mới “lớn chuyện” :)

Hoa Nguyen

PD: “Vì bài kinh chỉ đề ra nền tảng căn bản cho sự tu tập nên chưa muốn chúng ta phải đào sâu các khái niệm như tưởng tri, thắng tri, 24 đối tượng”.

Tôi thấy bài kinh chủ đích nêu những khiếm khuyết, bất cập của Tưởng tri khi có ai (phàm phu) muốn dùng tưởng tri để nhận thức sự vật, mong đi tới hiểu biết đúng đắn bản chất thực sự của nhiều pháp được nêu ra trong kinh, là những phạm trù suy tư quen thuộc trong đạo Phật (bắt đầu từ Tứ đại đến các cõi Trời, cảnh giới trong định, niết bàn). Vì vậy muốn hiểu đúng sự vật như nó thật là thì phải dựa vào các thứ Tri cao hơn của các bậc Hữu học trở lên, như Tuệ tri, Thắng tri. Và do đó cần phải tu tập, và phương cách tu tập có hiệu qủ để đạt tới Tuệ tri và Thắng tri là Thiền Quán (tuy kinh không nói rõ ra).
Tôi nghĩ đừng vội đi qua kinh kế tiếp, vì như thế là cỡi ngựa xem hoa, không đưa tới hiểu biết thiết thực.
Nên khởi đầu ở chỗ bắt đầu bản kinh. Hiểu thế nào là (phàm phu) ” chấp nhận địa đại là địa đại” để sau đó họ nghĩ tới “địa đại là tự ngã”…Nếu hiểu được đoạn kinh này thì dễ hiểu hết các đọan kinh tiếp theo, đến tới cả đoạn cuối ở phần Phàm phu: “Tưởng tri niết bàn là niết bàn…Ta nói kẻ ấy không hiểu rõ niết bàn.”

Hoa Nguyen

Để dễ dàng cho vệc tìm hiểu bản kinh, có thể góp ý (đồng ý hay phản biện) đoạn sau đây của Tỳ kheo Chánh Minh:

“Gọi là Căn bản (mūla) vì rằng từ một gốc rễ của Tưởng (sañña) đã nảy sinh nhiều luận thuyết cũng như nhiều quan niệm.

Do không nhận thức được những bản chất thật của các Pháp, lại do Tưởng chi phối, Tưởng tạo ra những nét sai biệt từ gốc nên dẫn đến một chướng ngại tiên khởi cho sự giải thoát. Chướng ngại ấy, Đức Phật gọi là Thân kiến (kāyadiṭṭhi), muốn tiến sâu vào vùng giải thoát, “hàng rào cản” ban đầu là thân kiến cần phải phá tan. Nhưng muốn phá được chúng cần phải đào sâu tận gốc rễ.

……..
Kinh Căn Bản Pháp Môn nêu lên hai cách tu tập: Chỉ (samātha) và Quán (vipassana). Đây là hai cách tu tập cần yếu trong hành trình dẫn đến giác ngộ. Chỉ và Quán có tác dụng hỗ tương lẫn nhau, không thể tách rời nhau trong sự chứng ngộ vận hành các pháp.”.

Theo từ điển Phật học trực tuyến:
Thân kiến : Satkayadrshti (skt).

· Ảo tưởng cho rằng thân mình là có thật, một trong ngũ kiến.
· Ý tưởng về một cái ngã, một trong tam kết. Có hai cách mà người ta có thể đi đến cái quan niệm cho rằng có sự hiện hữu thực sự của một cái ngã, một là sự tưởng tượng chủ quan, hai là quan niệm khách quan về thực tính.
· Tưởng rằng cái ngã cuả chính mình là lớn nhất và là tài sản quí báu nhất: Tin rằng cái ta là lớn nhất và vĩ đại nhất, nên mục hạ vô nhân. Chỉ có cái ta là quý báu nhất mà thôi, người khác không đáng kể. Mình tìm cách để chà đạp hay mưu hại người khác.

  1. Tỳ Kheo Chánh Minh (TK CM) sử dụng tựa đề kinh và bản dịch của HT Minh Châu, nhưng dường như nhìn nội dung kinh theo quan điểm của Bhik Bodhi, hay theo bản kinh tiếng Anh do ni sư Trí Hải giới thiệu. Tuy cũng dùng lại từ “căn bản” (từ thường được hiểu như nền tảng) TK Chánh Minh đã giải thích theo nghĩa của từ “gốc rễ” khi nói Tưởng Tri phát sinh ra các nhận thức (“sai lệch”) về mọi sự vật, như viết : “từ một gốc rễ của Tưởng (sañña) đã nảy sinh nhiều luận thuyết cũng như nhiều quan niệm”. Ý tưởng này tương đương với “The Root of existence” (Bhik Bodhi), nhất là “The root of all things” (NS Trí Hải). Dựa vào đó chúng ta nên xét lại ý nghĩa “Căn bản (của) pháp môn” nếu hiểu “pháp môn” là Pháp hay Pháp Phật.Đi vào nội dung kinh, thử tìm hiểu sơ lược :” kẻ phàm phu vô văn…chấp nhận địa đại là địa đại…nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại , nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại …nghĩ: “Địa đại là của ta ”- hoan hỷ trong địa đại . Vì sao vậy? Ta nói kẻ ấy không hiểu rõ địa đại “.Vì có người đặt câu hỏi về “phàm phu”, nên xin giải thích ở đây chỉ có nghĩa là người thường, không tu (phàm trần, phàm tục), không biết, hay biết ít Phật pháp. “Vô văn” nói rõ thêm nghĩa là không, hay ít nghe giảng Pháp. Dùng từ “phàm phu” không phải có ý khinh thường. Tỳ kheo là bậc xuất gia thường theo Phật được nghe giảng Pháp, nên thời Phật cũng còn có từ gọi là (bậc) “Thanh Văn”. (văn là nghe)Địa đại là yếu tố, thành phần Đất (hay thành tố) mà theo quan niệm của người Ấn Độ thời xưa là một trong bốn yếu tố cấu tạo nên vật chất, hay Sắc, thân; địa đại biểu hiện ở tính chất rắn, cứng, kiên cố của vật chất, thân xác. Vì sao “chấp nhận địa đại là địa đại” (tức là tưởng tri, tức nhận thức sai lầm), theo tôi “suy tưởng” có lẽ như vầy: anh phàm phu chỉ được nghe nói trước đó là các bộ phận cứng rắn trong thân thể (như xương, răng, móng , tóc) là địa đại, nên sinh tưởng tri những thứ đó là chất đất giống như địa đại (đất thật) anh thấy bên ngoài. Từ đó anh thấy mình là đất (địa đại), thấy đất (địa đại) ở trong mình, có cái tự ngã là chất đất (địa đại), địa đại là của mình, và hoan hỷ trong đất, v.v…Nhưng rõ ràng “phàm nhân” không thật biết địa đại là gì, nên chỉ tưởng tri về địa đại. Với ba đại khác (thủy , hỏa, phong) anh cũng tưởng tri như vậy.

Phạm Doãn

– Cái gốc rễ (the root) của vô minh là “tưởng tri” và “lậu hoặc”
– Giáo pháp của Đức Phật được thuyết ra nhằm để đối trị với tưởng tri và lậu hoặc.
– Muốn đối trị với tưởng tri và lậu hoặc để đạt giác ngộ thì Đạo Phật cần hai “căn bản”. Dù pháp thực hành khiến ta có cảm giác phức tạp thế nào, thì cũng chỉ tập trung trên hai “căn bản” này thôi:
1. Tu tập Thắng Tri
2. Tu tập để đoạn trừ các lậu-hoặc (ô nghiễm tâm)

———–
*Tựa đề nài kinh có thể hiểu và dịch là “Căn bản (của) Giáo Pháp”.
———–

Suốt một đời tu tập chúng ta chỉ dựa vào hai căn bản này.
– Bỏ một trong hai là thiếu.
– Nội dung và ý nghĩa kinh cũng đã chỉ rằng phải có đủ cả hai “căn bản”.
———–
Hỏi: Tu tập Thắng Tri như thế nào? Đoạn trừ tất cả các lậu-hoặc ra làm sao?
– Thì phải chờ đọc lần lượt các bài kinh còn lại.
Hỏi: Thế còn ý nghĩa của 24 đối tượng?
– 24 đối tượng cũng như toàn bộ các pháp hiện hữu sẽ được nhận thức đúng bằng tâm giác ngộ khi tu tập hoàn mãn (chưa phải là vào lúc này. Nếu cố gắng hiểu vào lúc này (lúc mới bắt đầu tu tập), thì tất cả sẽ lại là những tưởng tri… vô ích).

Bhikkhu Indacanda

Nhân suy nghĩ đến từ mūla trong tên của bài Kinh thứ nhất: Mūlapariyāyasuttaṃ, hoặc ở câu sabbadhammamūlapariyāyaṃ, thì thấy từ mūla này cũng có ở phần mục lục của Trung Bộ: 152 bài Kinh của Trung Bộ được chia làm 3 phần: Mūla-paṇṇāsa, majjhima-paṇṇāsa, và upari-paṇṇāsa. Trong 3 cụm từ đó, paṇṇāsa = con số 50, mūla (???), majjhima (giữa), upari (trên) theo nghĩa: hạ, trung, thượng, nên tạm dịch là 50 bài Kinh đầu, 50 bài Kinh giữa, 50 bài Kinh cuối.

Bhikkhu Indacanda

MỘT SỐ ĐIỂM KHÓ KHĂN cho việc nghiên cứu là phải THAM KHẢO và ĐÁNH GIÁ những điều đã được những người khác nghiên cứu:
– Từ mūla được các dịch giả trước ghi là root, nghĩa là noun, và các từ điển cũng đều ghi là noun, nhưng ở thí dụ ở comment trên thì mūla vs majjhima và upari thì mūla cũng có thể là tính từ.
– Trong văn nói, các điều lập lại (thường đã được giản lược) và các yếu tố thay đổi trong từng đoạn văn: địa đại, thủy đại, v.v…, cái nào quan trọng hơn???
– THAM KHẢO hay LỆ THUỘC vào các kết quả của những người đi trước (thông thường là các học giả nổi danh) luôn là vấn đề day dứt.
v.v… và v.v…

Hoa Nguyen

Thắng Tri.
Kinh Căn Bản pháp môn chỉ nói tới Tưởng tri và Thắng Tri (nhắc tới liễu tri như là kết quả sau cùng của tu tập). Tưởng Tri ở phàm nhân là nhận thức sai lầm sự vật, đưa tới tham, mạn, (tà) kiến, và từ đó sống trong mê muội, đau khổ. Thắng Tri là nhận thức sâu xa, nên hiểu biết đúng thực chất của mọi vật như thực là. Thắng tri có nhiều cấp bậc hay trình độ cao thấp. Thắng tri ở bậc Hữu học giúp liễu tri được các sự vật, ở bậc A-la-hán liễu tri sự vật và đoạn trừ tâm tham dục, sân hận, si mê.
Phật liễu tri vạn pháp, niết bàn, và “diệt trừ hoàn toàn các ái, ly tham, đoạn diệt, xả ly, giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác”.

Thắng tri là kết quả của Thiền Định. Nhưng kinh không nói về Tuệ tri, là kết quả của tu tập Tuệ quán, có khả năng thấy được ở các pháp tính vô thường, khổ, vô ngã, duyên sinh, sinh diệt…, và từ tuệ tri đó đoạn diệt tận mọi lậu hoặc, đi đến giải thoát hoàn toàn.

Còn thắc mắc : Vậy có phải trong kinh này, ở giai đoạn này Phật chỉ dạy đệ tử pháp Thiền Định để có được thắng tri.


One Comment on “– MN 001- Kinh Pháp Môn Căn Bản”

  1. Vô thủ nói:

    Này các Tỷ-kheo, Như Lai đã CHƠN CHÁNH giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, Ngài như thật rõ biết: “Dục hỷ là CĂN BẢN của KHỔ đau”, do vậy Ngài không Duc hỷ đối với TẤT CẢ Pháp; do KHÔNG Dục hỷ đối với Tất Cả Pháp, Ta Không nghĩ đến TẤT CẢ (“Đại, Thiên, Xứ, Sở Tri, Niết-bàn,…”), Không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với TẤT CẢ, Không nghĩ đến (tự ngã) là TẤT CẢ, Không nghĩ: “TẤT CẢ là của Ta”. Vì sao vậy? Ta nói, vì Như Lai đã thắng tri, đã liễu tri TẤT CẢ
    …….
    Đây là Pháp, tác thành THÁNH, tác thành bậc CHÂN NHÂN, mà nếu như không có các pháp này, thời Không có sự kiện một người đi đến lóng nghe và trở thành bậc Đa văn trí tuệ.

    Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ vô văn phàm phu, Không được thấy các bậc Thánh, Không thuần thục pháp các bậc Thánh, Không tu tập pháp các bậc Thánh, Không được thấy các bậc Chân nhân, Không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, Không tu tập pháp các bậc Chân nhân, không như thật rõ biết: “Dục hỷ là CĂN BẢN của KHỔ đau”, người ấy Dục hỷ đối với TẤT CẢ Pháp; do Dục hỷ đối với TẤT CẢ Pháp, người ấy TƯỞNG tri Tất Cả là Tất Cả; do TƯỞNG tri Tất Cả là Tất Cả, vị ấy nghĩ đến Tất Cả, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Tất Cả, nghĩ đến (tự ngã) như là Tất Cả, người ấy nghĩ: “Tất Cả là của ta”. Vì sao vậy? Ta nói, vì người ấy không liễu tri Tất Cả
    …….

    Này các Tỷ-khéo, lời Ta nói, có những vị Tỷ-kheo đã đoạn tận Tham, đoạn tận Sân, đoạn tận Si, là bậc A-la-hán tu hành thành mãn, thành tựu Chánh trí, thời chư vị ấy hoàn toàn tỏ rõ và tán thán; có những Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, nhưng các vị ấy đã được THẤY các bậc Thánh, các bậc Chân nhân, là những người có nghe nhiều, có học hỏi nhiều, thời chờ đợi là chư vị ấy Có Thể kham nhẫn và tinh tấn cho đến khi thành tựu Chánh trí; có những kẻ vô văn phàm phu, Không được Thấy các bậc Thánh, các bậc Chân nhân, không thuần pháp các bậc Thánh, các bậc Chân nhân, thời không có thể liễu ngộ và có thể sanh tâm nghi hoặc hay là phiền não.

    (http://diendan.daitangkinhvietnam.org/viewtopic.php?f=32&t=8547)


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s