– MN 002 – Kinh Tất Cả Các Lậu-Hoặc

MN 002 – Kinh TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC (Sabbàsava sutta)

I. BẢN KINH MN 002

1. Bản Tiếng Việt của HT Minh Châu:

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung02.htm

2. Bản tiếng Anh của Bhikkhu Thanissaro:

http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.002.than.html

3. Bản song ngữ Pali-Việt:

http://paliviet.info/VHoc/13/002.htm

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO cho bài kinh MN 002

1. Đoạn trừ lậu hoặc – Tác giả: Acharya Buddharakkhita Dịch giả: TK Pháp Thông

http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/DoanTruLauHoac/index.htm

2. Giảng kinh Tất cả lậu hoặc – HT Thích Chơn Thiện

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-002.htm

Trên Internet, còn có các tài liệu khác với links liệt kê dưới đây:

–  Toát yếu kinh Trung Bộ – Ni sư Trí hải

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm

–  Giảng kinh bảy pháp tu của Thích Nhật Từ

http://daitangkinhvietnam.org/nghien-cuu-phat-hoc/phat-hoc-can-ban/2828-kinh-trung-bo-giang-giai-bai-002-kinh-bay-cach-tu.html

– Trói buộc (kiết sử, fetters)

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi10-0103.htm

(KinhTăng Chi, chương mười pháp, phẩm hộ trì)

http://en.wikipedia.org/wiki/Fetter_%28Buddhism%29

– Bảy yếu tố giác ngộ (thất giác chi, seven factors of Enlightenment)

http://en.wikipedia.org/wiki/Seven_Factors_of_Enlightenment

http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/piyadassi/wheel001.html

III. ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN:

–          Làm rõ nghĩa các từ : Lậu hoặc,  người biết và thấy, tác ý, như lý, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, kiến kiết sử, như lý giác sát, thất giác chi v.v…

–          Tóm tắt và nêu lên nội dung chính của từng đoạn kinh và toàn bài kinh

——–

IV. THẢO LUẬN

Đơn Sa

DS rất tán thán cách tìm hiểu lần lượt từng bài kinh như thế này! Giống đề cương ôn thi quá hihi. Chăm chỉ ôn thi chắc sẽ làm được bài, thi đậu :)

Hạnh Trương

http://buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp21.htm

242 – Hỏi. Thế nào là āsava? Có bao nhiêu pháp āsava?

Đáp. Āsava xuất nguyên từ ā (đến, từ) + ngữ căn su nghĩa là “chảy ra”.

Nghĩa đen của āsava là “những gì chảy mạnh ra và tràn ngập”.

Đối với tâm linh, āsava được ví như chất say được tinh lọc từ bông hoa.

Cũng vậy, với năm trần cảnh tốt đẹp hay những pháp khả ái đáng hài lòng liên hệ đến hỷ tham, khiến tâm chúng sinh “say đắm” vào những pháp ấy.

“Chất say” thường làm chúng sinh trở nên phóng túng, trí không còn minh mẫn.

Cũng vậy, āsava làm tâm chúng sinh rơi vào “loạn cuồng”, rơi vào “mê muội” không thể tiến cao hơn.

Ngoài ra, āsava còn được ví như “những gì nhơ bẩn tiết ra từ vết thương”.

“Idha, bhikkhave, ekacco puggalo kodhano hoti upāyāsabahulo appampi vutto samāno abhisajjati…

“Ở đây, này các Tỳkhưu, có người phẫn nộ, nhiều hiềm hận, dù có nói chút ít, cũng tức tối (abhisajjati)…

Seyyathāpi, bhikkhave, , duṭṭhāruko kaṭṭhena vā kaṭhalāya vā…”

Ví như một vết thương đang làm mủ (duṭṭhāruka), nếu bị cây gậy hay miểng sành (kaṭhalā) đánh phải, liền chảy mủ nhiều hơn”… [3]

Chữ āsava thường được dịch là “lậu hoặc” nghĩa là “thấm rịn ra”, “chảy rịn ra”.

Ví như nước từ trong lòng núi “thấm rịn” qua kẻ nứt của đá, hay “chảy rịn ra” từ kẻ nứt.

Cũng vậy, những chất độc của tâm linh sẽ “thấm rịn” hoặc “chảy ra” từ “kẻ nứt” của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý khi tiếp xúc với các cảnh trần.

Chữ āsava còn được dịch là “trầm luân”, hay “ngâm tẩm”.

Tức là pháp này làm chúng sinh “chìm đắm trong luân hồi”(trầm luân), hay chúng sinh phải chịu “ngâm mình trong giòng nước luân hồi” (ngâm tẩm).

Như nước từ nguồn tuôn chảy không hề dứt, cũng vậy pháp “chảy ra” (āsava) này, chảy tràn ngập trong tất cả đời sống trong vòng luân hồi, cho đến khi tâm Chuyển tánh (gotrabhūcitta) xuất hiện, tâm này có công năng cắt đứt phần nào “giòng trôi chảy” ấy.

Và cho đến khi tâm Tiến bậc (vodanācitta) xuất hiện trong lộ tâm chứng Tứ Đạo, bấy giờ “giòng trôi chảy” này mới chấm dứt hoàn toàn.

Vị ấy được gọi là khīṇāsavaka (bậc Lậu tận), hay āsavakkhaya (chấm dứt ô nhiễm), đó là những danh từ để gọi bậc Thánh Alahán).

Āsava được xem như “chất độc vô cùng nguy hiểm”, nó làm ô nhiễm sự trong sạch tâm, làm hư hoại những thiện pháp mà chúng sinh này đã tích trử được, như Phật ngôn:

“Ayasā’va malaṃ samuṭṭhitaṃ; taduṭṭhāya taṃ’eva khādati.

Evaṃ atidhomacarinaṃ; sakakammāni nayanti duggatiṃ”.

“Như sét từ sắt sinh; sét sanh ăn lại sắt.

Cũng vậy, quá lợi dưỡng; tự nghiệp dẫn cõi ác” [4] .

Hay: “Paravajjānupassissa; niccaṃ ujjhānasaññino.

Āsavā tassa vaddhanti; ārā so āsavakkhayā.

“Ai thấy lỗi của người; thường sanh lòng chỉ trích.

Người ấy lậu hoặc (āsava) tăng; rất xa lậu hoặc diệt” [5] .

Những danh từ như ô nhiễm, đồi bại, nhơ bẩn, bợn nhơ, chất độc được xem như gần với ý nghĩa của từ ngữ āsava này [6] .

Theo Tạng Thắng Pháp (Abhidhammapiṭaka) “ô nhiễm” này có bốn là:

Dục ô nhiễm (kāmāsava), hữu ô nhiễm (bhavāsava), kiến ô nhiễm (diṭṭhāsava) và vô minh ô nhiễm (avijjāsava).

Có Pāli như sau:

“Cattāro āsavā: Kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo:

Bốn ô nhiễm là: Dục ô nhiễm, hữu ô nhiễm, kiến ô nhiễm, vô minh ô nhiễm” [7] .

Theo Tạng Kinh (suttantapiṭaka) có ba pháp ô nhiễm là: Dục ô nhiễm, hữu ô nhiễm và vô minh ô nhiễm.

“Tayo me, āvuso, āsavā. Kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo – ime kho, āvuso, tayo āsavā’ti:

“Này Hiền giả, có ba ô nhiễm này: Dục ô nhiễm, hữu ô nhiễm, vô minh ô nhiễm. Này Hiền giả, đây là ba ô nhiễm” [8]

Hoặc: … “Tassa evaṃ jānato evaṃ passato kāmāsavāpi cittaṃ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṃ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṃ vimuccati”.

…“Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi “dục ô nhiễm”, thoát khỏi “hữu ô nhiễm”, thoát khỏi “vô minh ô nhiễm” [9] .

Duong vao Thang phap – Tk Chanh Minh

buddhanet.net

Đáp. Nói gọn thì có bốn pháp có thực tướng, hay có bốn pháp “sự thật…See More

Huỳnh Phúc Kiến

Đúng là con vẫn ko hiều từ như lý tác ý ,kiến hoang vu, kiến hý luận….

Hạnh Trương

Trích từ bài giảng của TT Nhật Từ. ( Thầy hình như mới lên chức, hihi)

III. CHÚ THÍCH THUẬT NGỮ

Lậu hoặc (P. āsava, S. āsrava): sự ô nhiễm, mê lầm (hoặc) hay rỉ chảy (lậu) của tâm, có khả năng làm chúng sanh rơi rớt (lậu) trong sanh tử luân hồi. Có ba loại lậu hoặc: a) dục lậu (kāmāsava): sự ô nhiễm do tham đắm khoái lạc giác quan; b) hữu lậu (bhavāsava): sự ô nhiễm do tham đắm tái sanh ở thế giới sắc thể và thế giới vô sắc thể; c) kiến lậu (diṭṭhāsava): sự ô nhiễm do chấp thủ vào quan điểm sai lầm, hay do thiếu tuệ giác về bốn chân lý thánh.

Như lý tác ý (yoniso manasikāraṃ) thường được dịch trong tiếng Anh là “thích hợp để chú ý” (fit for attention) hay “sự chú ý không ngoan” (wise attention), “sự phản ánh thông thái” (wise reflection), hay “sự chú tâm có lý trí” (rational attention) vốn không phản ánh đúng được thật chất của thái độ nhận thức này. Như lý tác ý là cách viết theo cấu trúc Hán Việt, thay vì phải gọi là “tác ý như lý” là cách dụng tâm hay nhận thức phù hợp với “đạo” hay nguyên lý vận hành của mọi sự vật hiện tượng. Đây là cách thức đặt tâm vào quỷ đạo chân lý, phản ánh loại nhận thức sự kiện phù hợp với luật duyên khởi, luật nhân quả đang diễn ra hay tương thích với bản chất của sự vật hiện tượng đang diễn ra xung quanh ta.

Không như lý tác ý (ayoniso manasikāraṃ) hay còn gọi là “tác ý không như lý” tức là cách dụng tâm hay nhận thức không phù hợp với “đạo”, hay nhận thức trái ngược lại với chân lý hay nguyên lý vận hành của mọi sự vật hiện tượng. Chẳng hạn, nhận thức “thường còn” trong vô thường; nhận thức có một bản ngã bất biến trong các sự vật không thực thể; nhận thức hạnh phúc trong khi sự kiện diễn ra là khổ đau.

Sáu giác quan: mắt, tai, mủi, lưởi, thân và ý là các cơ năng nhận thức trên cơ sở tưởng tri và ý niệm hoá.

Bảy giác tri: bảy yếu tố giúp cho hành giả đạt được sự giác ngộ: chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn, hoan hỉ, khinh an, thiền định và buông xả.

Tà kiến (micchādiṭṭhi): quan niệm hay nhận thức không dựa trên lý duyên khởi, lý nhân quả, lý vô thường và lý vô ngã.

Kiến trù lâm (diṭṭhigaharam): tà kiến như rừng rậm; đây là quan niệm hay nhận thức sai lầm trói buộc con người như rừng cây làm cho người lạc lối bị mê hồn trận, không biết lối ra.

Kiến hoang vu (diṭṭhiṭhikantāram) tà kiến như bình nguyên hoang dã, làm người tu tập hành mất định hướng trên con đường đạo.

Kiến hý luận (diṭṭhivisūkam): tà kiến là nhận thức sai lầm, trói buộc con người trong các lý luận quanh co, vô ích cho đạo đức và nhận thức.

Kiến tranh chấp (diṭṭhivipphanditam): tà kiến trói buộc con người trong sự bảo thủ quan điểm của mình như chân lý, phủ định xung đột với các quan điểm khác, là đầu mối của chấp trước, tranh giành và đấu tranh.

Kiến kiết phược (diṭṭhisamyojanam): tà kiến trói buộc con người, làm cho con người không thể vùng vẫy nổi, sai sử con người trong khổ đau và luân hồi.

Hạnh Trương : Một số câu hỏi hay của Thầy Nhật Từ :)

VI. CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Tại sao Kinh không đề cập sáu hay tám, mà chỉ có bảy phương pháp tu tập diệt trừ lậu hoặc. Số bảy trong Kinh này là con số biểu tượng hay mang một ý nghĩa nào khác?

2. Ngoài bảy cách thức tu tập trong Kinh, quý vị có phát kiến ra cách thức nào khác không mà vẫn có hiệu quả trong việc diệt trừ các lậu hoặc cá nhân ?

3. Theo bạn, các phương pháp tu tập trong Kinh này có giá trị tuyệt đối cho tất cả đối tượng khác nhau trong nhiều trường hợp khác nhau, hay chỉ áp dụng cho từng trừng hợp và từng đối tượng cụ thể?

4. Theo bạn, cái gì làm cho bạn khổ đau nhất trong đời. Nếu bạn phải giáp mặt với khổ đau đó một lần nữa thì bạn chọn phương pháp nào trong bảy cách thức tu tập trong kinh này để giải quyết khổ đau đó?

5. Trong bảy phương pháp tu tập trong Kinh này, bạn thích phương pháp nào nhất? Tại sao?

Thích Nhật Từ

Hạnh Trương ‎.

…Tiếp tục về một số thuật ngữ quan trọng

Đoạn trừ lậu hoặc – Tác giả: Acharya Buddharakkhita Dịch giả: TK Pháp Thông


Như lý Tác ý trở thành nòng cốt. Nó giống như cái trục, chung quanh nó toàn bộ sự hệ thống hóa nhằm loại trừ các lậu hoặc xoay chuyển. Ðiều được nhấn mạnh ở đây là phải định hướng đúng cho những hoạt động của tâm. Việc định hướng này cũng giống như gắn một cái động cơ vào chiếc xe tăng hay chiếc xe cứu thương vậy. Hậu quả hủy diệt hay cứu mạng sống của con người hoàn toàn tùy thuộc vào nơi cái động cơ được gắn đó. Ðộng cơ thì vô tính. Nó không có sự chọn lựa nào cả. Nó được sử dụng như thế nào là chuyện của người làm chủ động cơ ấy. Ðối với sự tác ý (manasikāra) cũng thế. Thật ra manasikāra (tác ý) chỉ là một trong những tâm sở (cetasika) vô hại, hợp với tất cả các loại tâm. Ðó là lý do tại sao nó được gọi là biến hành tâm sở (Sabbacittā-dhāranacetasika), tức là tâm sở chung cho tất cả các tâm, Thiện (Kusala), Bất Thiện (Akusala) và Vô Ký (Abyākata).

Manasikāra nghĩa đen là manamkaroti – làm thành cảnh cho tâm, đưa tâm đến đó (đối tượng), tức là sự chú ý, suy xét, suy nghĩ v.v… Do đó, trong nội dung này Tác Ý là dán tâm triệt để vào một mục đích nào đó, sau khi đã có pháp môn hoàn hảo trong tư duy của vị ấy.

Chữ “Yoniso” (như lý), bắt nguồn từ chữ “Yoni” nghĩa là thai tạng, nguồn gốc, mầm mống, nơi sinh hay cảnh giới. Ngược lại, “ayoniso” (phi như lý), thể hiện một nguồn gốc không tinh khiết, hoặc một điều gì đó về bản chất được xem là nông cạn, lộn xộn. Bởi vậy Yoniso ngụ ý một điều gì “tùy thuộc vào nguồn gốc của nó”, một điều gì có căn bản hay nền tảng, tức là tuyệt đối thứ tự, chơn chánh, thích hợp, sáng suốt và có mục đích.

Nói cách khác Yoniso Manasikāra là Như lý Tác Ý hay suy xét các pháp một cách chơn chánh, tức là suy xét với trí tuệ, suy xét theo cách có thứ tự, lấy trí tuệ làm trung tâm, làm nguồn gốc hay làm khuôn mẫu cho tư duy của mình. Nói theo ngôn ngữ thời đại thì nó có nghĩa là tư duy có mục đích và có ý nghĩa với một mục tiêu rõ rệt trong dự kiến, bắt nguồn nơi tuệ thể nhập vào thực tại. Khi căn nguyên của tiến trình tâm là lành mạnh và đạo đức, và khi những giá trị tinh thần giữ cho tâm chói sáng, thì kết quả chắc chắn cũng sẽ lành mạnh, hiền thiện và tạo ra sự toàn bích. Ðây là sự gợi ý về mặt tâm lý.

Ngược lại, nói đến Ayoniso Manasikāra (Phi lý Tác Ý) không phải chỉ ngụ ý một nguồn gốc bất thiện, một tà tư duy, hoặc một sự vận hành tâm lộn xộn, phi pháp môn, phi mục đích mà, do cái bản chất hời hợt, nông cạn và không có gốc gác của nó, một cái gì mà, giống như ung nhọt, làm nhiễm độc và suy yếu toàn bộ cấu trúc tâm. Nó biểu thị bằng việc tư duy vô trật tự và phá hoại.

Những hàm ý vô cùng thực tiễn của hai từ này (tức Yoniso và Ayoniso) cần phải được hiểu đầy đủ. Bởi vì, toàn bộ vấn đề hệ lụy hay giải thoát khỏi luân hồi (saṃsāra) đều dựa vào chúng.

Yoniso (như lý) và Ayoniso (phi lý) là hai nguyên tắc có tác dụng quyết định tính hiệu lực của bảy pháp môn đã được nêu ra trong Kinh. Yoniso tượng trưng cho những gì được gọi là Vivaṭṭa (phi luân hồi) – không còn hệ lụy, xoay lưng lại hay thoát khỏi vòng luân hồi. Ayoniso, ngược lại, là hệ lụy vào, càng lúc càng bị tóm chặt vào trong vòng luẩn quẩn hay gọi cách khác là Vaṭṭa (Luân Hồi). Như vậy, trong khi yoniso là sự giải thoát ra khỏi, thì ayoniso lại là sự vướng mắc hay hệ lụy vào vòng Luân Hồi.

Hạnh Trương ‎….
Ðối với câu ‘Như Lai nói rằng, có sự đoạn trừ các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy’, các từ “biết” và “thấy” là đồng nghĩa. Mặc dù khác chữ nhưng chúng đều để chỉ một việc… Tuy nhiên, đặc biệt là trong văn Kinh này. “người biết” là người có thể làm khơi dậy như lý tác ý (yoniso manasikāra). Và “người thấy” là người thấy theo cách nào đó để cho phi lý tác ý (ayoniso manasikāra) không thể khởi lên. Như vậy, như lý tác ý là mục đích cơ bản ở đây.”

Cái này thì HT thấy có vấn đề :)

Hạnh Trương

Nhờ quý Sư rành Pali phân biệt thêm về hai từ Biết và Thấy trong đoạn đầu của bài kinh.

Hạnh Trương

MN30 :30. Tiểu kinh Dụ lõi cây
(lưu ý chữ “thấy và biết” ở đoạn cuối, theo dõi concept theo cả bài kinh)

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức.

Do thành tựu giới này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định.

Vì thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến.

Vị ấy, do tri kiến này, hoan hỷ tự mãn. Vị ấy, do tri kiến này, khen mình, chê người: “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ-kheo khác sống không thấy và không biết”.

Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống ví dụ ấy.

Hạnh Trương

MN149 : Đại kinh Sáu xứ

Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như chơn nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy; vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước đối với cảm thọ ấy.

Hạnh Trương

Tăng Chi :( V) (175) Upavàna
(Ngài Sàriputta thuyết)

3.- Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh, thời một người phàm phu có thể là người chấm dứt (đau khổ). Thưa Hiền giả, người phàm phu không có minh và hạnh nên không như thật thấy và biết, nhưng nếu có minh và hạnh đầy đủ như thật thấy và biết, là người chấm dứt (đau khổ).

Hạnh Trương

Đoạn này thì hay không thể tả được :)

Tương ưng bộ, tập V:
56. VI. Abhaya (Vô úy) (Tạp 27,1, Đại 2,191a) (S.v,126)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Linh Thứu.

2) Rồi hoàng tử Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, hoàng tử Abhaya bạch Thế Tôn:

3) — Bạch Thế Tôn, Puurana Kassapa nói như sau:

– “Không có nhân, không có duyên để không biết, không thấy. Không biết, không thấy không có nhân, không có duyên. Không có nhân, không có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy không có nhân, không có duyên”. Ở đây, Thế Tôn đã nói như thế nào?

4) — Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để không biết, để không thấy. Không biết, không thấy có nhân, có duyên. Này Hoàng tử, có nhân, có duyên để biết, để thấy. Biết và thấy có nhân, có duyên.

I

5) — Do nhân nào, do duyên nào, bạch Thế Tôn, để không biết, để không thấy? Như thế nào không biết, không thấy có nhân, có duyên?

6) — Này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối và như thật không biết, không thấy sự xuất ly khỏi dục và tham đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, để không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.

7) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối…

8) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối…

9) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối…

10) Lại nữa, này Hoàng tử, khi nào trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và thật sự không biết, không thấy sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sanh; đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để không biết, không thấy. Như vậy, không biết, không thấy có nhân, có duyên.

11) — Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?

– Này Hoàng tử, được gọi là các triền cái.

– Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là triền cái, bạch Thiện Thệ. Chỉ bị chinh phục bởi một triền cái mà thôi, bạch Thế Tôn, cũng không có thể biết như thật, thấy như thật, còn nói gì bị cả năm triền cái chinh phục.

II

12) — Nhưng, bạch Thế Tôn, do nhân nào, do duyên nào để biết, để thấy? Như thế nào biết và thấy có nhân, có duyên?

13) — Ở đây, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập niệm giác chi nên như thật biết và thấy. Đây là nhân, đây là duyên, này Hoàng tử, để biết, để thấy. Như vậy, biết và thấy có nhân, có duyên.

14-18) Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo…

19) Lại nữa, này Hoàng tử, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nhờ tâm được tu tập xả giác chi nên như thật biết và thấy. Đây là nhân, đây là duyên để biết, để thấy. Như vậy, thấy và biết có nhân, có duyên.

20) — Bạch Thế Tôn, pháp môn này được gọi là gì?

– Này Hoàng tử, được gọi là các giác chi.

– Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thế Tôn. Thật vậy, chúng là giác chi, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, chỉ được đầy đủ với một giác chi mà thôi đã có thể như thật thấy và biết, còn nói gì đầy đủ cả bảy giác chi.

Bạch Thế Tôn, sự mệt nhọc về thân và mệt nhọc về tâm khi con leo lên núi Linh Thứu đã đươc khinh an, nhẹ nhàng và pháp đã được con hoàn toàn chứng đắc.

Hạnh Trương

Đọc thật kỹ từng chữ đi các đ/c ơi, một bài kinh thật “kinh khủng”, hehe.

Hạnh Trương

“jānato ahaṃ, bhikkhave, passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi, no ajānato no apassato. kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṃ [khayaṃ] vadāmi? yoniso ca manasikāraṃ ayoniso ca manasikāraṃ. ayoniso, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā uppajjanti, uppannā ca āsavā pavaḍḍhanti; yoniso ca kho, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā na uppajjanti, uppannā ca āsavā pahīyanti.

Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.

Nghĩa từ diệt tận.- Khaya
[Sk. kṣaya to kṣi, kṣiṇoti & kṣiṇāti; cp. Lat. situs withering, Gr. fqi/sis, fqi/nw, fqi/w wasting. See also khepeti under khipati] waste, destruction, consumption decay, ruin, loss; of the passing away of night VvA 52 mostly in applied meaning with ref. to the extinction of passions & such elements as condition, life, & rebirth e. g. āsavānaŋ kh. It 103 sq., esp. in formula āsavānaŋ khayā anāsavaŋ cetovimuttiŋ upasampajja A ;i.107 221=D iii.78, 108, 132=It 100 and passim. — rāgassa dosassa, mohassa kh. M i.5; A i.299, cp. rāga˚, dosa˚ moha˚, A i.159; dosa˚ S iii.160, 191; iv.250. — taṇhānaŋ kh. Dh 154; sankhārānaŋ kh. Dh. 383; sabbamaññitānaŋ etc. M i.486; āyu˚, puñña˚ Vism 502 — yo dukkhassa pajānāti idh’ eva khayaŋ attano Sn 626=Dh 402; khayaŋ virāgaŋ amataŋ paṇītaŋ Sn 225 — In exegesis of rūpassa aniccatā: rūpassa khayo vayo bhedo Dhs 645=738=872. — See also khīṇa and the foll. cpds. s. v.: āyu˚, upadhi˚, upādāna˚, jāti˚, jīvita˚ taṇha˚, dukkha˚, puñña˚, bhava˚, loka˚, saŋyojana sabbadhamma˚, samudda˚.
– âtīta (a) gone beyond, recovered from the waning period (of chanda, the moon=the new moon) Sn 598 — ânupassin (a) realizing the fact of decay A iv.146 sq. v.359 (+vayânupassin); — ñāṇa knowledge of the fact of decay M ii.38=Pug 60; in the same sense khaye ñāṇa Nett 15, 54, 59, 127, 191, cp. kvu 230 sq.; — dhamma the law of decay A iii.54; Ps i.53, 76, 78.

Phạm Doãn

Cám ơn đạo hữu Hạnh Trương đã dẫn chứng các đoạn kinh trong Nkaya làm rõ các khái niệm “như lý tác ý”, “thấy và biết”, “không thấy không biết”. Mời các thành viên tham gia để bài học được tiến hành nhanh hơn. Chúng ta còn lại rất nhiều bài kinh của Trung Bộ kinh.

Hạnh Trương

Đoạn đầu bài kinh, liên quan tới “cho người thấy, cho người biết” và .. “diệt tận các lậu hoặc”, có thể có một ý nghĩa rất đặc biệt, không đơn giản như mới nhìn thoáng qua. Các đạo hữu nếu có khái niệm về đạo lộ tu tập thì sẽ dễ thấy hơn điểm đặc biệt của đoạn đầu này.

Hạnh Trương

Lưu ý thêm về <<thời điểm xuất hiện>> cụm từ “thấy và biết” mà HT đã trích dẫn từ các bài kinh khác trong Nikaya và nghĩa của từ khaya (diệt tận)

“jānato ahaṃ, bhikkhave, passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi, no ajānato no apassato. kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṃ [khayaṃ] vadāmi? yoniso ca manasikāraṃ ayoniso ca manasikāraṃ. ayoniso, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā uppajjanti, uppannā ca āsavā pavaḍḍhanti; yoniso ca kho, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā na uppajjanti, uppannā ca āsavā pahīyanti.

Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.

“kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi?

được dịch là

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy”

không thấy dịch chữ vadāmi Bhikkhu Indacanda ơi, help!!! :) Đề nghị Sư làm rõ đoạn này :)

Nhien Nguyen

Chú Hạnh Trương làm rõ luôn đi. Nó ở trong từ điển và chú biết đó mà.

Hạnh Trương

<<Chú Hạnh Trương làm rõ luôn đi. Nó ở trong từ điển và chú biết đó mà.>>
Ơ cái nường này, để mọi người nghiên cứu cùng chứ hả, hehe.

Nhien Nguyen

Hehe, chú tung hoành nãy giờ một mình thấy chán rùi hả :D Chú kiếm người vô múa kiếm phụ hả :D Con thấy chỗ này nếu đã rõ ý của đức Phật thì vô pháp Hành đi ạ.

<<Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc>> <<cho người biết, cho người thấy>>

Hạnh Trương

Thế còn cho mình thì đức Phật giảng cái gì đây ? :) )

toàn bộ cái câu đó nếu được Bhikkhu Indacanda dịch lại chắc sẽ rõ nghĩa hơn, đi đâu mà vội, hehe

Nhien Nguyen

Ý mình thường khác ý Phật, nên con nghĩ “Thân cận Bậc Chân Nhơn” quan trọng hàng đầu.

<<Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc>> <<cho người biết, cho người thấy>>

<<Thế còn cho mình thì đức Phật giảng cái gì đây ? :) ) >>

Dạ, đức Phật giảng những pháp khác, để mình thành “người biết, người thấy”. Thành người biết người thấy xong mình quay lại kinh này để <<diện tận các lậu hoặc>> :D

Hạnh Trương

<<Dạ, đức Phật giảng những pháp khác, để mình thành “người biết, người thấy”. Thành người biết người thấy xong mình quay lại kinh này để <<diện tận các lậu hoặc>> :D >>

Có 2 câu, thì 1 câu có lý, 1 câu không có lý :)

Nhien Nguyen Dạ, phê bình xong thì phải giải thích đó ạ :D

Nhien Nguyen

Lỡ ngày mai con chết thì đâu còn <<thảo luận sau>> với chú được nữa ạ? :D Đức Phật nói thế nào ạ? :D

Chú nhắc như lý tác ý và đọc hết cả bài kinh. Đọc xong thì con thấy bảy cách đoạn trừ lậu hoặc có nói đến <<như lý giác sát>>, <<như lý tác ý>>, <<phải tác ý, không cần phải tác ý>>. Nên con nghĩ, bảy cách này là Phật dạy “như lý tác ý” như thế nào để mà diệt tận lậu hoặc. Mà mở đầu Phật nói, như lý tác ý này ta dạy cho người biết, cho người thấy, chứ không cho người không thấy, người không biết.

Hạnh Trương

Nhiên đọc chưa kỹ đâu, chú đã đưa cả nghĩa từ Khaya (diệt tận) ra để thấy rằng nó chỉ xuất hiện ở đoạn đầu bài kinh. Từ đó trở đi, từ được dùng là Pahāna (đoạn trừ).

Thêm nữa, cũng cần để ý tới nội dung các pháp được đề cập tới, để thấy nó xuất hiện rất sớm trong đạo lộ tu tập, chứ không phải khi đã có “thấy và biết”.

Thôi, “không thèm” thảo luận với Nhiên nữa, hehe. Để mọi người phân tích thêm phần các pháp hành đi. Chú cũng nghiên cứu thêm phần các pháp hành cụ thể xem có gì hay không. Tạm chào :)

Bhikkhu Indacanda

CÂU NÀY KHÔNG PHẢI DỄ DỊCH ĐÂU NGHE! PHẦN DỊCH SẮP TỚI CỦA SƯ CŨNG CHỈ LÀ 1 CÁCH HIỂU, CẦN PHẢI SUY NGHIỆM KỸ.
“jānato ahaṃ, bhikkhave, passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi, no ajānato no apassato. kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṃ [khayaṃ] vadāmi? yoniso ca manasikāraṃ ayoniso ca manasikāraṃ. ayoniso, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā uppajjanti, uppannā ca āsavā pavaḍḍhanti; yoniso ca kho, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā na uppajjanti, uppannā ca āsavā pahīyanti.

Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.

Hạnh Trương : Câu này là câu “chết người” mà Sư :)

Bhikkhu Indacanda

Này các tỳ khưu, ta nói về sự cạn kiệt các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, không phải cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, cho người biết cái gì và cho người thấy cái gì mà ta nói về sự cạn kiệt các lậu hoặc? (Cho người biết và cho người thấy) sự tác ý đúng đường lối và sự tác ý không đúng đường lối. Này các tỳ khưu, đối với người đang tác ý không đúng dường lối, không những các lậu hoặc chưa sanh khởi được sanh khởi mà các lậu hoặc đã sanh khởi còn tăng trưởng. Và này các tỳ khưu, quả vậy đối với người đang tác ý đúng dường lối, không những các lậu hoặc chưa sanh khởi không được sanh khởi mà các lậu hoặc đã sanh khởi còn được dứt bỏ.

Nhien Nguyen to Hạnh Trương:

Thêm nữa, cũng cần để ý tới nội dung các pháp được đề cập tới, để thấy nó xuất hiện rất sớm trong đạo lộ tu tập, chứ không phải khi đã có “thấy và biết”.

Tỷ-kheo <<như lý giác sát tu tập niệm giác chi>>; <<như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi>>; … Theo con nó khác với <<Tỷ kheo tu tập niệm giác chi; tu tập trạch pháp giác chi>>.

Hạnh Trương to ‎Bhikkhu Indacanda,

đúng là khó ghê đó Sư ạ, nghiệm mãi mà vẫn thấy khó :)

Hạnh Trương

Trong doc này có nhiều thông tin rất hay về như lý tác ý, các đạo hữu có thể tham khảo thêm ( đặc biệt là phần cuối của tài liệu)
http://www.facebook.com/groups/paliviet/doc/134582566628863/

Con tìm thấy trong MN26, kinh Thánh Cầu và trong nhiều bài kệ của các trưởng lão có dùng từ “āsavakkhayaṃ” (lậu tận, vẫn là chữ khaya)

“– Như Hiền giả đã tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. “

“– Như Ta, bậc Thắng giả,
Những ai chứng <lậu tận>,
Ác pháp, Ta nhiếp phục,
Do vậy, Ta vô địch”.

‘yathā kho tvaṃ, āvuso, paṭijānāsi, arahasi anantajino’ti!

‘mādisā ve jinā honti, ye pattā <āsavakkhayaṃ>.

jitā me pāpakā dhammā, tasmāhamupaka jino’ti.


Có phải lậu tận trí cũng là nó không ạ?
Āsavakkhaya Ñāna = Lậu tận trí ?
Nếu đúng như vậy thì ở đoạn đầu, có thể hiểu là đức Phật chỉ nói về đề tài cao nhất này cho người thấy, cho người biết. Theo các đoạn kinh khác, thì “người thấy và người biết” ở đây có thể hiểu là các bậc đã có những thành tựu rất cao…sau khi đã có chánh định, thậm chí chánh trí?
Nếu đúng như thế thì đoạn kinh đó khá khó. Có thể là đức Phật từ chối nói về đề tài này (cách thức để diệt tận các lậu hoặc), và những gì tiếp theo là đức Phật nói cách làm sao để đoạn trừ từng bước các lậu hoặc cho người nghe, là những người còn chưa phải là đã “thấy và biết” ?

Xin quý Sư và các đạo hữu phân tích thêm.

Hoa Nguyen

Tôi thấy quan trọng nhất là tìm hiểu câu kinh :
“Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý”.

Người biết, người thấy là người biết thấy thế nào là “như lý” và thế nào là “không như lý” (hay “phi lý”). Nhưng thế nào là “như lý” ? Không phải là “hợp lý” hay “duy lý”. Có nhiều điều hợp lý với đời thường, với quan niệm chung của cuộc sống, nhưng lại khác, trái với quan điểm của đạo Phật. Một suy nghĩ duy lý không phải luôn đưa tới nhận thức đúng, hay đem lại an lạc, nhất là nếu khởi từ tưởng tri, và còn nằm trong tục đế. “Như lý” theo đạo Phật tôi nghĩ những gì hợp với đạo lý của Phật giáo, như “vô tham, vô sân, bất hại”, “đoạn trừ lậu hoặc” đi tới giải thoát khỏi trói buộc của phiền não, hay phù hợp với các nguyên lý về vạn pháp Phật đã tri kiến, như duyên khởi, vô thường, vô ngã.
“Tác ý” được giải thích bằng nhiều cách như là chú tâm, khởi tâm, nhận thức, suy xét…, nhưng tôi nghĩ vẫn không sát nghĩa, nên theo cách dịch đơn giản của sư Indacanda là “tác ý”, vì từ ngữ đơn giản nhiều khi rất khó “dịch” (giải thích nghĩa), thà là để nguyên như vậy.
Tóm lại, khi tác ý “vô tham, từ bi, vô ngã” là Như lý tác ý; còn khi tác ý “sân, nghi, thường hằng” là Phi lý tác ý.

Hoa Nguyen

Giữa “như lý tác ý” và “phi lý tác ý”, còn có “không như lý tác ý” , và Phật dạy cũng phải tránh. Nghĩa là luôn nên (tích cực, chủ động) tác ý như lý.

Phạm Doãn

Āsavakkhayañāṇa = Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc (lậu tận trí). Theo “Phân tích đạo” đó là trí thứ 55.

Bhikkhu Indacanda

Định Nghĩa về NGƯỜI BIẾT & NGƯỜI THẤY theo CHÚ GIẢI:
Idāni jānato ahantiādīsu jānatoti jānantassa. Passatoti passantassa. Dvepi padāni ekatthāni, byañjanameva nānaṃ. Evaṃ santepi jānatoti ñāṇalakkhaṇaṃ upādāya puggalaṃ niddisati, jānanalakkhaṇañhi ñāṇaṃ. Passatoti ñāṇappabhāvaṃ upādāya, passanappabhāvañhi ñāṇaṃ. Ñāṇasamaṅgī puggalo cakkhumā viya cakkhunā rūpāni ñāṇena vivaṭe dhamme passati.
Bây giờ, ở đoạn “jānato ahaṃ …”, jānato là đến người biết, passato là đến người thấy. Cả hai từ này đều có chung một ý nghĩa, nhưng văn tự thì khác nhau. Dầu là như vậy, jānato xác định là con người có liên quan đến tướng trạng của TRÍ, bởi vì tướng trạng của sự biết là TRÍ. Passato có liên quan đến bản thể của TRÍ, bởi vì bản thể của sự thấy là TRÍ. Người có TRÍ nhìn thấy các pháp rõ ràng nhờ vào TRÍ, tựa như người có mắt nhìn thấy các vật thể bằng con mắt.

Hạnh Trương

‎”kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi”

1. HT Thích Minh Châu:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy”

2.Bhikkhu Indacanda:
“Và này các Tỷ-kheo, cho người biết cái gì và cho người thấy cái gì mà ta nói về sự cạn kiệt các lậu hoặc?”

HT.TMC bỏ qua chữ “ta nói” và đặt câu hỏi cho cả cụm từ

Sư nhà ta đặt câu hỏi cho từng từ, cụ thể là thấy cái gì, biết cái gì?

Kết quả hai câu khác hẳn nhau:

Như lý tác ý và không như lý tác ý = sự diệt tận các lậu hoặc (theo HT TMC)

Như lý tác ý và không như lý tác ý = đối tượng của sự thấy và biết (theo Sư Indacanda)

Theo cách của ngài MC có lẽ không ổn, vì ngay câu sau nêu rõ, Như lý tác ý chỉ dẫn tới đoạn trừ chứ không dẫn tới diệt tận được lậu hoặc.

Còn lại câu của Sư Indacanda thì chính xác tới từng chữ so với pali nhưng khó hiểu. Sư có thể thử gợi ý thêm không ạ, hoặc quý vị nào có cách hiểu nào thấy hợp lý xin chia sẻ.

Phạm Doãn

‎- Ngay vào đầu bài kinh, Đức Phật đã tuyên bố chỉ dạy bài kinh này cho những người “biết và thấy”. Ngài không dạy bài kinh này cho những người “không biết, không thấy”.
– Vậy khả năng “biết và thấy” có phải là ĐIỀU KIỆN tiên quyết không? …See More

Trung Tâm Hộ Tông – Đoạn Trừ lậu Hoặc

www.trungtamhotong.org

‎”Bậc đã đoạn tận các lậu hoặc, không còn bị trói buộc bởi tiến trình nuôi dưỡng…See More

Hạnh Trương

Theo em hiểu thì đó là điều kiện tiên quyết để được nghe Phật nói về diệt tận các lậu hoặc.( người biết và người thấy)
Còn với những người chưa đủ điều kiện, thì Phật nói về cách thức có thể đoạn trừ (dần dần) các lậu hoặc qua bảy phương pháp. Vả cả bảy phương pháp đó, muốn thực hành thành công thì phải thiết lập và duy trì được tác ý như lý.

Làm rõ thêm:
Đoạn đầu Phật dùng từ “khaya” = diệt tận, có trong từ “lậu tận trí”
Ở các đoạn sau Phật dùng từ “Pajahati” (được HTMC dịch là trừ diệt và đoạn trừ)

* Pajahati (˚jahāti) [pa+jahati of hā] to give up, renounce, forsake, abandon, eliminate, let go, get rid of.

Phạm Doãn

‎- Có lẽ là các lậu-hoặc sẽ được làm sạch một cách “dần dà” qua thời gian tu tập. Đến phút cuối cùng trước khi giác ngộ xảy đến thì các lậu-hoặc mới hoàn toàn biến mất.
– Bài kinh MN 001 liệt kê thứ tự các bậc Thánh Hữu học (đắc Định, có thắng trí) trước, sau đó mới liệt kê đến bậc Thánh A-la-hán là những vị vừa có thắng tri vừa đoạn trừ hết các lậu hoặc.
– Đắc Định thì rất khó, nhưng chưa phải bậc giác ngộ.
– Chỉ khi đoạn trừ được hết các “lậu-hoặc” mới có giác ngộ hoàn toàn (A la hán)
– Như vậy ta có thể thấy ngay rằng việc “đoạn trừ các lậu-hoặc” khó khăn hơn rất nhiều so với việc có được “thắng trí”.

Hạnh Trương

Việc “làm cho lậu tận” thì mới là bước sau của chánh trí, theo em là như vậy. Còn việc “đoạn trừ” thì nó là cả một quá trình dài.

chánh trí trong đó có trí về lậu tận = hiểu rõ, biết cách như thật nó là làm sao cho lậu nó được tận diệt. sau khi có cái trí đó rồi còn phải thực hành theo nó, để đoạn diệt lậu hoặc hoàn toàn, khi đó hành giả mới trở thành bậc lậu tận = chánh giải thoát.

Hạnh Trương to ‎Bhikkhu Indacanda,

con có sai thì Sư sửa ngay nhé, vì việc chính của Sư là làm việc trên từ ngữ :) , con có dựa phần nào vào từ ngữ trong quá trình khám phá, tìm hiểu bài kinh, từ ngữ mà con hiểu sai là kết quả cũng sai theo đấy, hehe.

(thấy sai mà không sửa ngay là “trách nhiệm” của Sư đấy nha, con đã nói ra để Sư và mọi người thấy và sửa cho con mà)

Hạnh Trương

Bs Phạm Doãn <<- Đắc Định thì rất khó, nhưng chưa phải bậc giác ngộ. >>

Chỗ này cũng có thể giúp mình phân biệt được đâu là giáo pháp của Phật, đâu là của ngoại đạo chăng. Vì nếu lấy đắc định là mục tiêu, thì phương pháp, kỹ thuật nào cũng OK, miễn là đắc được định và có các năng lực đi kèm (ngũ thông).

Còn nếu theo Phật, thì đắc định chưa xong, còn phải làm tiếp cái chánh trí và chánh giải thoát (đạt cái lậu tận thông). Khi đó sẽ nảy ra vấn đề là cái định nào thì có thể giúp đạt hai cái sau đó. Câu trả lời là Chánh Định :)

Chánh định khác gì với định (cho dù cả hai đều có 4 thiền sắc giới), đó là chánh định có các cận duyên và các tư trợ đi kèm (7 chi thánh đạo từ chánh kiến- chánh niệm), còn định (ngoại đạo), chỉ cần một số kỹ thuật ( hơi thở, kundalini, một số pháp cụ…)

Hoa Nguyen

Nhưng Chánh Định là thế nào, mỗi ngươì có cách hiểu riêng, rồi áp đặt lên người khác.

Hạnh Trương

Chỗ để thảo luận mà anh Hoa Nguyen, anh thấy sai thì anh cứ nói ạ.

Còn đây là bài kinh MN117. Đại Kinh Bốn Mươi. Hoặc anh tìm rất nhiều nơi trong kinh,sẽ thấy vai trò của tuệ anh ạ. Ít nhất thì chữ tuệ tri anh sẽ thấy vô cùng nhiều đó ạ.

Hoa Nguyen

Vai trò của Tuệ thấy rõ nhất trong bài kinh này. Chuyện Chánh Định bàn ở dịp khác để khỏi ra ngoài bài kinh trước mắt, nhưng thảo luận không có nghĩa là giúp thấy được thế nào là Chánh Định, cho nên tôi nghĩ bảo thế này là Chánh Định, thế kia không phải , là một hình thức áp đặt.

Hạnh Trương

<<cho nên tôi nghĩ bảo thế này là Chánh Định, thế kia không phải , là một hình thức áp đặt.>> – đây cũng chính là một hình thức áp đặt anh ạ :) . Như anh đã nói, ta để qua lần khác.

Bhikkhu Indacanda

<Ta giảng sự diệt tận (khayaṃ) các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.> vs. <Này các tỳ khưu, Ta nói về sự cạn kiệt (khayaṃ) các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, không phải cho người không thấy. >

खय <bmv>(khaya)
————————
m. sự hao mòn, suy vi, phá hoại, điều tàn, sự hoàn thành. –ānupassanā f. trí tuệ thấy rõ sự điêu tàn của pháp hành.

Bhikkhu Indacanda

Hạnh Trương viết: Còn lại câu của Sư Indacanda thì chính xác tới từng chữ so với pali nhưng khó hiểu. Sư có thể thử gợi ý thêm không ạ, hoặc quý vị nào có cách hiểu nào thấy hợp lý xin chia sẻ.
——————
<Và này các tỳ khưu, cho người biết cái gì và cho người thấy cái gì mà ta nói về sự cạn kiệt các lậu hoặc? (Cho người biết và cho người thấy) sự tác ý đúng đường lối và sự tác ý không đúng đường lối.>
Về câu này, Sư hiểu như sau: Bảy phương pháp áp dụng trên dành riêng cho người có TRÍ, là người thấy và biết về “như lý tác ý” và “không như lý tác ý” => Chỉ những người này mới có khả năng tu tập để dứt bỏ (pajahati) các lậu hoặc.

Hạnh Trương

Thấy và biết == có TRÍ.

Thấy gì, biết gì == Có như lý tác ý và không như lý tác ý.

-> Trí == thấy và biết về “như lý tác ý”, thì con chưa hiểu lắm.

Còn nếu chỉ có ” người thấy và biết về “như lý tác ý” và “không như lý tác ý” => Chỉ những người này mới có khả năng tu tập để dứt bỏ (pajahati) các lậu hoặc.” thì con hiểu được.

Tách kỹ ra hơn thì có

1. cạn kiệt (khayaṃ) các lậu hoặc / người thấy, người biết

2. người thấy gì, người biết gì / như lý tác ý và không như lý tác ý.

3. Như lý tác ý, không như lý tác ý / lậu hoặc tăng , giảm, trừ diệt (pajahati)

Thêm một vấn đề nữa, ví dụ pháp hành là “như lý giác sát thọ dụng món ăn khất thực”, rõ ràng là nếu đòi hỏi vị tỷ kheo có TRÍ mới thực hành được pháp này thì có quá khó chăng?

Hay ý Sư là TRÍ chỉ là sự thấy và biết “như lý tác ý, và không như lý tác ý”, còn TRÍ ở đây không phải là TRÍ trong Lậu Tận TRÍ?

Thuận Pháp Dhammiko

Bhikkhu Indacanda,

“Idaṃ dukkhan”ti yoniso manasi karoti, con chưa biết manasi là từ loại gì?
Theo như đoạn kinh: <<Vị ấy như lý tác ý: “Ðây là khổ”, như lý tác ý: “Ðây là khổ tập”, như lý tác ý: “Ðây là khổ diệt”, như lý tác ý: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”>> thì NHƯ LÝ TÁC Ý là đã thấy TỨ DIỆU ĐẾ rồi. Và <<Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ>> thì người có như lý tác ý chắc chắn hướng tới tứ thánh rồi. Vì vậy như lý tác ý rất quan trọng cho người tu tập.

Thuận Pháp Dhammiko

Có lẽ Nhien Nguyen không như lý tác ý, chấp vào các cmt này nên rời bỏ group rồi. Các con chữ vẫn có thể làm người ta nổi sân :)

Bhikkhu Indacanda ‎ toThuận Pháp Dhammiko:

yoniso manasi karoti, con chưa biết manasi là từ loại gì? manasi: danh từ mana, định sở cách (bị ảnh hưởng cách chia của danh từ manas ở Skrt.)

Thuận Pháp Dhammiko

Dạ cảm ơn Sư, cách chia này rắc rối quá, vì sao họ không chia theo Pali mà phải ảnh hưởng Skrt vậy Sư?

Hoa Nguyen

Xin tóm lược từng phần.
Theo bài kinh này do HT Minh Châu dịch, lậu hoặc có rất nhiều, và Phật chỉ dạy bảy cách để đoạn trừ tất cả, là bằng tri kiến, phòng hộ, chân chánh thọ dụng, kham nhẫn, tránh né, trừ diệt, và tu tập.

1- Để đoạn trừ bằng Tri kiến, Phật dạy dùng phương cách Như lý tác ý: “Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.”

Các lậu hoặc ở đây gồm ba loại là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, và còn có thể thêm kiến lậu hoặc (Diṭṭhāsava), do tưởng tri mà có. Nhưng điều kiện cần để như lý tác ý đúng là phải có Tuệ tri: “tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý”. Kết quả là : “Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt”.
Tuệ tri cần có (trước) để diệt trừ lậu hoặc bằng tri kiến, vì không có tuệ tri sẽ không có tri kiến đúng, và không thể như lý tác ý đúng. Thí dụ phải có Tuệ tri về Tứ Diệu đế trong câu kinh:” “Vị ấy như lý tác ý: “Ðây là khổ”, như lý tác ý: “Ðây là khổ tập”, như lý tác ý: “Ðây là khổ diệt”, như lý tác ý: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ “.
Nếu so sánh, có phải Như lý tác ý là (tương đương với) chánh tư duy, chánh niệm, và Tuệ tri là chánh kiến. Nhưng làm thế nào để có tuệ tri.

Bhikkhu Indacanda

Idaṃ vuccati bhikkhave diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāraṃ diṭṭhivisūkaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaṃyojanaṃ.
Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược.

Bhikkhu Indacanda

TT. Thích Nhật Từ (Nguồn: http://daitangkinhvietnam.org/)

Tà kiến (micchādiṭṭhi): quan niệm hay nhận thức không dựa trên lý duyên khởi, lý nhân quả, lý vô thường và lý vô ngã.

Kiến trù lâm (diṭṭhigaharam): tà kiến như rừng rậm; đây là quan niệm hay nhận thức sai lầm trói buộc con người như rừng cây làm cho người lạc lối bị mê hồn trận, không biết lối ra.

Kiến hoang vu (diṭṭhiṭhikantāram) tà kiến như bình nguyên hoang dã, làm người tu tập hành mất định hướng trên con đường đạo.

Kiến hý luận (diṭṭhivisūkam): tà kiến là nhận thức sai lầm, trói buộc con người trong các lý luận quanh co, vô ích cho đạo đức và nhận thức.

Kiến tranh chấp (diṭṭhivipphanditam): tà kiến trói buộc con người trong sự bảo thủ quan điểm của mình như chân lý, phủ định xung đột với các quan điểm khác, là đầu mối của chấp trước, tranh giành và đấu tranh.

Kiến kiết phược (diṭṭhisamyojanam): tà kiến trói buộc con người, làm cho con người không thể vùng vẫy nổi, sai sử con người trong khổ đau và luân hồi.

Phạm Doãn

‎- Tà kiến: Micchàdtthi hoặc ditthigatam: (wrong view)
– Kiến trù lâm: Ditthigaharam (Holding wrong views)
– Kiến hoang vu: Ditthithikantàram (the wilds of wrong views)
– Kiến hý luận: Ditthivisùkam (wriggling of wrong views)
– Kiến tranh chấp: Ditthivipphanditam (scuffling of wrong views)
– Kiến kiết phược: Ditthisamyojanam (fetters of wrong views)
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-gg-002.htm

Trung Bo giang giai – Kinh so 2

www.budsas.org

Rừng do con người trồng, gây dựng. Jetavana thuộc loại rừng này. Rừng tự nhiên, hoang dã.

Bhikkhu Indacanda

HT. Thích Chơn Thiện (Nguồn: www.budsas.org)

– Tà kiến: Micchàdtthi hoặc ditthigatam: wrong view: Nhận thức sai lầm cho rằng các hiện hữu có tự ngã thường hằng.

– Kiến trù lâm: Ditthigaharam (Holding wrong views): Tích lũy nặng nề các tà kiến.

-Kiến hoang vu: Ditthithikantàram (the wilds of wrong views): Tà kiến nặng, tối tăm như các cánh rừng hoang dã.

– Kiến hý luận: Ditthivisùkam (wriggling of wrong views): Chỉ các nhận thức quanh co, vô bổ.

– Kiến tranh chấp: Ditthivipphanditam (scuffling of wrong views): Các tà kiến dẫn đến tranh chấp, đấu tranh, chiến tranh.

– Kiến kiết phược: Ditthisamyojanam (fetters of wrong views): Chỉ các tà kiến trói buộc tâm thức giải thoát .

Bhikkhu Indacanda So sánh hai lời giải thích về diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāraṃ diṭṭhivisūkaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaṃyojanaṃ ở trên đã thấy có một số diểm khác biệt, nếu đưa thêm các lời dịch hoặc giải thích từ các nguồn khác nữa e sẽ bị “tẩu hỏa nhập ma” mất; biết theo lối nào đây???

Phạm Doãn

Con thấy lời dịch Việt khác lạ nên chỉ muốn đưa lời dịch tiếng Anh để so sánh với Pali.

Hoa Nguyen

So sánh các giải thích khác nhau về Tà kiến.
1/ Thích Nhật Từ:Tà kiến (micchādiṭṭhi): quan niệm hay nhận thức không dựa trên lý duyên khởi, lý nhân quả, lý vô thường và lý vô ngã.
2/ Thích Chơn Thiện: – Tà kiến: Micchàdtthi hoặc ditthigatam: wrong view: Nhận thức sai lầm cho rằng các hiện hữu có tự ngã thường hằng.
3/ Thích Trí Hải (dịch từ sách tiếng Anh): 1. “Ta có tự ngã ” – “self exists for me”: thuyết duy linh, thuộc thường kiến.
2. “Ta không có tự ngã ” – “no self exists for me”: thuyết duy vật, cho chỉ có thể xác, chết là hết.
3. “Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã ” – “I perceive self with self”: chấp “ngã ” gồm cả hai, linh hồn và thể xác.
4. “Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã ” – “I perceive not-self with self”: chấp “ngã ” chỉ là phần hồn.
5. “Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã ” – “I perceive self with not-self”: chấp “ngã ” chỉ là phần xác.
6. “Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú không chuyển biến “: “It is this self of mine that speaks and feels and experiences here and there the result of good and bad actions; but this self of mine is permanent… no subject to change” Một dạng hoàn toàn chấp hữu, chấp thường.

Theo trên, thầy Nhật Từ giải thích tà kiến theo nghĩa rộng nhất, bao gồm nhiều thứ tri kiến sai lầm về các nguyên lý duyên khởi, vô thường, vô ngã…, không phải chỉ gồm thân kiến (vô ngã).
Sư Chơn Thiện chỉ giải thích là nhận thức sai lầm cho có tự ngã thường hằng.
Ni sư Trí Hải cho là chấp ngã, nhưng chia làm 6 thứ khác nhau, gần giống kinh.
Trong kinh “Tất cả các Lậu hoặc”, Phật thuyết có 6 tà kiến, gồm “Ta có tự ngã; ta không có tự ngã; do tự mình ta tưởng tri ta có tự ngã; do tự mình ta tưởng tri ta không có tự ngã; chính tự ngã của ta nói cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm ở chỗ này chỗ kia; chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại “.
Những chỗ khác nhau như trên cần được vị nào thông suốt giải thích thêm vì lợi ích cho nhiều người học kinh Phật. Tuy nhiên, theo cách lý giải của NS Trí Hải và lời kinh thì các tà kiến đó đều do tưởng tri tạo ra, điều này tương hợp với bài kinh số 1 (tưởng tri tạo ra nhận thức sai lầm về ngã, tức thân kiến).

Bhikkhu Indacanda

<biết theo lối nào đây???> Trả lời: Lối ra ở Aṭṭhakathā và Ṭīkā.

Hạnh Trương

Trong khi Sư “đào” trong chú giải và sớ giải về cái rừng tà kiến, con xin phép lộn lại đoạn đầu một chút :

14. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇdikassa ārāme. Tatra kho Bhagavā bhikkhū āmantesi “Bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca “Sabbāsavasaṃvarapariyāyaṃ vo bhikkhave desessāmi, taṃ suṇātha sādhukaṃ manasi karotha bhāsissāmī”ti. “Evaṃ bhante”ti kho te bhikkhū Bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca–

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!” –”Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn PHÒNG HỘ tất cả lậu hoặc”. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói”. –”Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Thế Tôn nói như sau:

Ở đây, đức Phật dùng từ Saŋvara là phòng hộ ( tất cả các lậu hoặc)

Vậy là trong bài kinh có ba từ lấy đối tượng là lậu hoặc :

1. Ngay ở đầu : Saŋvara( phòng hộ)
2. Đoạn kế tiếp: Khaya(diệt tận, cạn kiệt)
3. Bảy pháp cụ thể : Pajahati( đoạn trừ, tiêu diệt, loại bỏ)

Bhikkhu Indacanda giúp phân tích sự khác biệt của 3 khái niệm này đi ạ.

Bhikkhu Indacanda

1. saṃvara (saṃ + vṝ) = che đậy
2. khaya (kṣi) = héo, mòn
3. pajahati (pa+hā) = dứt bỏ, từ bỏ

Hoa Nguyen

Theo Hòa thượng Thích Chơn Thiện, ở phần 1 “Tri kiến đoạn trừ” là đoạn trừ lậu hoặc, phiền não khởi lên từ bên trong tâm.
Để ngăn ngừa lậu hoặc được tạo ra do tác động của trần cảnh bên ngoài thì dùng: “2. phòng hộ đoạn trừ”, “3. thọ dụng đoạn trừ”, “4. kham nhẫn đoạn trừ” và “5. tránh né đoạn trừ”.
Phương cách đoạn trừ ở đây là Như lý Giác sát, được dịch qua tiếng Anh là “Reflecting appropriately”, hiểu như suy tư, xem xét, quán sát phù hợp với đạo lý, giáo lý (và các nguyên lý về vạn pháp) của đạo Phật.
“2. Tỷ-kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt… sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân… (như trên)… sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý.
3. Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng, như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực …., như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa,… như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bễnh.
4. Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruội.
5. Tỷ-kheo như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ …,vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác “.

Tôi nghĩ Như lý Tác ý và Như lý Giác sát khác nhau ở chỗ một bên (tác ý) có đối tượng chú tâm, quán sát ở trong tâm, và một bên (giác sát) có đối tượng quán sát ở bên ngoài. Cả hai cùng đưa tới tuệ giác, hay tuệ tri.

Bhikkhu IndacandaHạnh Trương ghi:

<Trí == thấy và biết về “như lý tác ý”, thì con chưa hiểu lắm.> Ý trên có thể viết lại như sau: <nhận thức và hiểu biết về “như lý tác ý”> Từ chỗ nhận thức mà nghiệm ra cách xử lý tình huống theo chiều hướng tốt đẹp mà người đời gọi là “cư xử lịch lãm, có tình có lý”; còn bên nhà Phật gọi là “lối giải quyết của bậc Trí.”

  • Vd: Có chuyện ghi như sau (không nhớ đã đọc ở đâu):
    Chuyện con rắn cắn con nhái. Có 3 ý kiến như sau:
    – “Chuyện chúng sanh, hơi đâu mà quan tâm.” (Thiếu từ bi)
    – Lấy roi đánh con rắn để cứu con nhái (bị con rắn oan trái).
    – Bồ Tát nói với con rắn rằng: “Này rắn, thân mày nhỏ như vậy làm sao mà nuốt trôi con nhái?” Con răn tức giận, há miệng ra để cãi lại thì con nhái chạy trốn mất.

Hạnh Trương hehe, cả ba đều là chuyện đúng là của “bồ tát” Sư ạ. Biết là con rắn có thể nuốt trôi con nhái, dù thân nhỏ, mà còn cố tình nói vậy :) (biết mà nói láo)

Mà làm con rắn tức giận cũng là tạo nghiệp rồi, không chơi kiểu đó.

Có lẽ có cách khác xịn hơn :)

Về đoạn đầu bài kinh, con thấy có gì đó chưa thông.

3 từ lấy lậu hoặc làm đối tượng cũng không rõ nghĩa (khi dịch qua tiếng việt)

Nếu xem cả đoạn kết nữa thì còn nhiều vấn đề nữa. Chắc đành tạm để thế và đi vào các pháp đoạn trừ lậu hoặc vậy.

Sư chia sẻ “lối ra” về mấy loại tà kiến mà Sư tìm trong Chú Giải và Sớ Giải đi ạ.

Bhikkhu Indacanda

<Sư chia sẻ “lối ra” về mấy loại tà kiến mà Sư tìm trong Chú Giải và Sớ Giải đi ạ.> ĐỂ CHỜ CÁC VỊ: Sư Dr. Kusalaguṇa Thiện Đức, Sư Dr. Đức Hiền, Rama Bhik, Ven Adhiṭṭhāna, Sc. Dr. Pham Hoa, Maggabujjhano Nguyendinh, v.v… và v.v… CỨU KHỔ CỨU NẠN GIÙM CHO VỚI.

Phạm Doãn

Sư Dr. Kusalaguṇa Thiện Đức , Sư Dr Sư Đức Hiền, Rama Bhik, Ven Adhiṭṭhāna, Sc. Dr Pham Hoa , Maggabujjhano Nguyendinh, v.v… và v.v… CỨU KHỔ CỨU NẠN GIÙM CHO VỚ…I…I…I…..

Phạm Doãn

– Nhiều giảng sư đã thuyết giảng bài kinh “Tất cả các lậu hoặc” thật dễ dàng. Có bảy Pp để đoạn trừ lậu-hoặc và người tu cứ thế mà đem ra áp dụng!!!
– Tuy nhiên khi tiếp cận bài kinh này, các thành viên Pali CĐ đều cảm thấy rất dè dặt. Vì ngay ở những dòng đầu tiên, Đức Phật đã tuyên bố chỉ dạy bài kinh này cho những người “biết và thấy”. Ngài không dạy bài kinh này cho những người “không biết, không thấy”.
—–
Mỗi một bài kinh có những chỗ khó và gút mắc riêng. Trong trường hợp bài kinh MN 002, đó là câu hỏi:
– Thế nào là người biết và thấy? Thế nào là người không biết không thấy? Có tài liệu nào định nghĩa “biết và thấy” hay không?
– Khả năng “Như lý tác ý” có điều kiện tiên quyết nào không? Hay ai cũng có thể tác ý như mình muốn?
– Đoạn trừ lậu-hoặc có thể được tu tập vào lúc nào trên đạo lộ Bát Chánh?
– Sau khi thảo luận vào các gút mắc “đặc biệt quan trọng này” giúp chúng ta đã có cái nhìn đúng hơn, và sâu hơn về bài kinh MN 002. Tuy nhiên, có chỗ ta vẫn chưa giải quyết xong, đúng hơn là chưa thống nhất ý kiến.
—–
Đề nghị:
– Mỗi người tự rút ra kết luận riêng cho mình. Nhóm không có tham vọng đưa ra một kết luận hay một quan điểm chung cho tất cả mỗi người.
– Các chỗ chưa thông (ví dụ như một số từ Pali), ta sẽ giải quyết khi gặp lại chúng trong 150 bài kinh còn lại.
– Bài kinh sẽ khép lại tại đây để chúng ta tiếp tục với bài kinh mới.

Thuận Pháp Dhammiko

Niddesavārakathā:
386. Micchādiṭṭhiniddese ayāthāvadassanaṭṭhena micchādiṭṭhi. Diṭṭhīsu gataṃ idaṃ dassanaṃ, dvāsaṭṭhidiṭṭhiantogatattāti diṭṭhigataṃ. Heṭṭhāpissa attho vuttoyeva. Diṭṭhiyeva duratikkamanaṭṭhena diṭṭhigahanaṃ, tiṇagahanavanagahanapabbatagahanāni viya. Diṭṭhiyeva sāsaṅkasappaṭibhayaṭṭhena diṭṭhikantāro, corakantāravāḷakantāramarukantāranirudakakantāradubbhikkhakantārā viya. Sammādiṭṭhiyā vinivijjhanaṭṭhena vilomanaṭṭhena ca diṭṭhivisūkāyikaṃ. Micchādassanañhi uppajjamānaṃ sammādassanaṃ vinivijjhati ceva vilometi ca. Kadāci sassatassa kadāci ucchedassa gahaṇato diṭṭhiyā virūpaṃ phanditanti diṭṭhivipphanditaṃ. Diṭṭhigatiko hi ekasmiṃ patiṭṭhātuṃ na sakkoti, kadāci sassataṃ anupatati kadāci ucchedaṃ. Diṭṭhiyeva bandhanaṭṭhena saṃyojananti diṭṭhisaṃyojanaṃ.

TP chỉ mò ra tới đây, còn phần dịch Việt phải nhờ quý Sư rồi!

Thuận Pháp Dhammiko

Đoạn chú giải trên có giải các từ: kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược. Để dịch xong đoạn này đã bác Phạm Doãn ơi, rồi mới khép lại

Hoa Nguyen

Đoạn trừ lậu-hoặc có thể được tu tập vào lúc nào trên đạo lộ Bát Chánh? ” (PD)

Ở phần 6. “Các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ”:
” Tỷ-kheo như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy…”.
Tôi hiểu Phật dạy dùng Thiền Định, tức định lực để chế ngự, đoạn trừ các lậu hoặc như dục niệm, sân niệm,hại niệm, các bất thiện niệm. Nói rõ hơn, theo tôi hiểu chỗ này dùng thiền An Chỉ.
Ở phần 7. “Các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ”.
Tôi hiểu Phật dạy dùng 7 Giác chi, gồm có : Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh An, Định, Xã. Như vậy, Phật muốn dạy nên dùng pháp Định, và có thể nói bao gồm luôn cả pháp Quán. Giống như ở phần cuối kinh Quán Niệm Hơi thở (Phật cũng dạy tu tập 7 Giác chi):
” Tỷ-kheo như lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi… (như trên)… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi”.

Hoa Nguyen

Tóm lại, có thể cho các năm cách đoạn trừ lậu hoặc từ 1 tới 5 là dùng pháp Tuệ quán khởi từ Chánh (tri) kiến, qua Như lý tác ý và Như lý giác sát, để đi đến Tuệ Tri.
Cách đoạn trừ lậu hoặc thứ 6 là dùng định lực để đoạn diệt các ác bất thiện pháp, nên suy ra cần tu thiền định chỉ. Cách thứ 7 đoạn trừ lậu hoặc theo lời kinh là bằng tu tập 7 Giác chi, trong đó Niệm và Trạch pháp thuộc về Quán, còn Tinh Tấn, Hỷ, Khinh an, Định, Xả thuộc về Định. Pháp 7 giác chi này cho thấy có các thiền chi Hỷ, Khinh An (Lạc), Định (Nhất tâm) và Xả, tức đi thông suốt từ tầng Sơ Thiền tới Tứ Thiền. Như thế là phối hợp song song cả Quán và Định mới diệt trừ hết tất cả lậu hoặc.

Hạnh Trương

Theo em thì 7 pháp hành này không đơn giản như mình thấy khi đọc tiếng Việt đâu.

Mỗi pháp cần được các Sư hỗ trợ phân tích kỹ các từ Pali để hiểu rõ, hiểu chính xác, hiểu đầy đủ khái niệm.

Em có cảm nhận là 7 pháp này giúp đoạn trừ các lậu hoặc theo:

1. bề rộng, đoạn trừ các lậu hoặc nhiều loại
2. theo bề sâu, đoạn trừ các lậu hoặc từ thô tới tế

Nếu để ý, thì thấy Thất Giác Chi cũng cần được tu tập để đoạn trừ lậu hoặc, là một trong bảy pháp được nêu ra, như vậy có nghĩa là bản thân thất giác chi, nếu chỉ được tu tập một mình cũng không đoạn trừ hết lậu hoặc. Đó là cách hiểu thứ nhất

Cách hiểu thứ hai, là bảy pháp này là bảy pháp đối trị lậu hoặc hiệu quả nhất với loại lậu hoặc của nó, nhưng không phải là duy nhất. Ví dụ, mọi lậu hoặc có thể đoạn trừ bằng thất giác chi (là duyên cho minh giải thoát), nhưng ở giai đoạn nào đó, thì đoạn trừ bằng “như lý giác sát thọ dụng đồ ăn khất thực” lại hiệu quả hơn.

Nếu có thể được, bs Phạm Doãn và các đạo hữu cho thêm vài ngày, thậm chí cả tuần để chúng ta có thời gian quán thêm về các đề tài này. Hoặc song song, có thể mở đề tài mới và đồng thời tiếp tục thảo luận về bài kinh này.

Em cũng sẽ tạm “lờ” mấy khái niệm còn chưa rõ để tiếp tục “đào bới” mấy pháp hành cụ thể, hy vọng qua đó có thêm thông tin để hiểu được mấy khúc mắc đã gặp ngay ở đầu bài kinh.

Hoa Nguyen

Trong bài kinh, Thất giác Chi tuy chỉ là một trong 7 cách đoạn trừ, nhưng khi đặt ở sau cùng có lẽ là cách đoạn trừ lậu hoặc quan trọng nhất, vì cụ thể, rõ ràng nhất. Dù sao cũng phải cần cả 6 cách trên hỗ trợ (giới, phòng hộ 6 căn, ly dục niệm, phát triển chánh niệm, định lực) ở những bước đầu tạo điều kiện tốt nhất cho việc tu tập Thất giác Chi có kết quả. Trong kinh Tứ Niệm xứ (hay quán Hơi thở ?), không phải vô tình Phật đặt Thất giác chi ở cuối kinh, mà nói rõ là cách tu ở mức cao hơn để đạt thành tựu xa hơn, tiến tới giải thoát.
Tôi cũng thấy vai trò quan trọng của Như lý Tác ý, và Như lý Giác sát ở cả 7 cách đoạn trừ lậu hoặc, và cho đó là phần quán sát, quán tuệ để phát triển tuệ tri (lên cao dần). Tôi hiểu đơn giản Tuệ tri (ở các giai đoạn này) là hiểu biết sâu sắc Pháp và lựa chọn, hướng dẫn pháp hành thích hợp cho việc tu tập.

Hạnh Trương Xin góp cái sơ đồ để tiện phân tích ạ.
http://www.facebook.com/photo.php?fbid=486918388000217&set=oa.312976502122801&type=1&theater

Bhikkhu Indacanda

‎- Bồ Tát nói với con rắn rằng: “Này rắn, thân mày nhỏ như vậy làm sao mà nuốt trôi con nhái?” Con răn tức giận, há miệng ra để cãi lại thì con nhái chạy trốn mất.
Hạnh Trương

ghi là: <hehe, cả ba đều là chuyện đúng là của “bồ tát” Sư ạ. Biết là con rắn có thể nuốt trôi con nhái, dù thân nhỏ, mà còn cố tình nói vậy :) (biết mà nói láo)>
Dầu biết sự thật, nhưng vẫn hỏi lại thì không thể bị kết tội là “nói láo.”

Bhikkhu Indacanda

TRỞ LẠI PHẦN NHẬP ĐỀ:
Burmese version: ghi là <khayaṃ vadāmi> thay vì <khayo hoti> như ở Tạng Pali của 3 văn bản kia.
Kiñca bhikkhave jānato kiñca passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi. Yoniso ca manasikāraṃ ayoniso ca manasikāraṃ.
Còn PTS, Thái, và Sinhala version giống nhau:
Kiñca bhikkhave jānato kiṃ passato āsavānaṃ khayo hoti? Yoniso ca manasikāraṃ ayoniso ca manasikāraṃ.
TẠM DIỄN Ý NHƯ SAU:
Và này các tỳ khưu, trong khi biết cái gì, trong khi thấy cái gì thì có sự cạn kiệt các lậu hoặc cho người ấy? Sự tác ý đúng đường lối và sự tác ý không đúng đường lối.

Bhikkhu Indacanda

TOÀN BỘ ĐOAN VĂN ĐƯỢC VIẾT LẠI NHƯ SAU:
Này các tỳ khưu, Ta nói về sự cạn kiệt các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, không phải cho người không thấy. Và này các tỳ khưu, trong khi biết cái gì, trong khi thấy cái gì thì có sự cạn kiệt các lậu hoặc cho người ấy? Sự tác ý đúng đường lối và sự tác ý không đúng đường lối. Này các tỳ khưu, đối với người đang tác ý không đúng dường lối, không những các lậu hoặc chưa sanh khởi được sanh khởi mà các lậu hoặc đã sanh khởi còn tăng trưởng. Và này các tỳ khưu, quả vậy đối với người đang tác ý đúng đường lối, không những các lậu hoặc chưa sanh khởi không được sanh khởi mà các lậu hoặc đã sanh khởi còn được dứt bỏ.

Hạnh Trương

Cảm ơn Sư Indacanda nhiều ạ, nếu bỏ qua các định nghĩa khác về thế nào là người biết, người thấy thì đoạn mở đầu trở nên dễ hiểu hơn.

Ngoài ra, khi phân tích cấu trúc của phần đoạn trừ nhờ tri kiến theo sơ đồ, con thấy một số vấn đề thú vị về tác ý, tác ý như lý.. con sẽ trình bày chi tiết sau ạ.

Hạnh Trương

Sau khi ngó đi ngó lại đoạn kinh về tri kiến, con thấy mấy vấn đề như sau, Sư và các đạo hữu cùng mổ xẻ thêm :

1. Vai trò quyết định của tuệ tri.
Điều này thể hiện rất rõ, nếu không có tuệ tri các pháp abc thì không có tác ý và tác ý như lý, mà không tác ý và tác ý như lý thì dẫn tới nhiều chuyện :)

2. Các pháp abc
Các pháp này là đối tượng của hai việc (1) tuệ tri và (2) tác ý; tác ý như lý.

3. Tác ý và tác ý như lý
Trong kinh không nêu chi tiết những pháp nào cần và không cần tuệ tri và tác ý, không tác ý, hiểu là các pháp này có thể rất nhiều, chỉ nêu lên một cách tổng quát là những pháp mà ” nếu … thì “

Riêng với tác ý NHƯ LÝ (có thêm chữ như lý) thì được chỉ rất rõ, rất cụ thể các pháp đó là:
– Tứ diệu đế
– 13 pháp khác

ĐẶC BIỆT, tuệ tri tứ đế và tác ý như lý tứ đế dẫn tới thánh quả Tu Đà Hoàn (đoạn trừ 3 kiết sử: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ)

không tuệ tri và không như lý tác ý dẫn tới 6 tà kiến -> không thể thoát khỏi khổ đau. (HT sẽ include việc tuệ tri và tác ý như lý này vào pháp hành của mình :)


3 phản hồi on “– MN 002 – Kinh Tất Cả Các Lậu-Hoặc”

  1. Vô thủ nói:

    <>

    Dạ, đức Phật giảng những pháp khác, để mình thành “người biết, người thấy”. Thành người biết người thấy xong mình quay lại kinh này để <>

    Này Nhien Nguyen, “hãy Lóng Nghe và khéo TÁC Ý”
    (sau khi ông lóng nghe và khéo Tác Ý), ta sẽ nói.

  2. Vô Thủ nói:

    “Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc Cho Người BIẾT – Cho Người THẤY, không phải cho người không biết, cho người không thấy” <== người nào có thế Biết có thể Thấy, đều có thể đến học tập và lãnh thọ giáo pháp của Thế Tôn (KHÔNG phân biệt giai cấp, nam nữ, "TỶ KHEO – CƯ SĨ" ….) – "này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn; pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. người này được sanh vào đây chánh địa, nhưng người ấy lại ÁC TUỆ, SI MÊ, câm điếc, KHÔNG HIỂU RÕ Ý NGHĨA MỘT LỜI NÓI KHÉO, NÓI HAY, NÓI DỞ."

    "NHƯ LÝ TÁC Ý" (phải được trợ duyên bởi "bậc Thánh – bậc Chân Nhân") CHỈ xuất hiện trong chi phần "lậu hoặc Do TRI KIẾN đoạn trừ" (các chi phần "Thọ Dụng, Tránh Né…" KHÔNG Xuất Hiện) và CHỈ với chi phần "lậu hoặc Do TRI KIẾN đoạn trừ" là diệt được 3 Kiết sử: "THÂN KIẾN, Nghi, Giới cấm thủ" – ("Còn Nguyên 7 Kiết Sử" và tất cả chi phần khác cũng không nói diệt được),
    (lưu ý: bậc Sơ QUả – DỰ LƯU được ấn chứng là tới lui tối đa 7 đời là diệt tận các lậu hoặc)

    (*nhắc nhỏ: CƯ SĨ tại gia KHÔNG Thích Hợp áp dụng các chi "lậu hoặc Do THỌ DỤNG được đoạn trừ" nói đến 4 vật phẩm "Y phục, món ăn Khất thực, Sàng tọa, Dược phẩm trị bệnh"
    hay chi "lậu hoặc Do TRÁNH NÉ được đoạn trừ" nói đến việc "tránh né Voi dữ, tránh né Ngựa dữ, tránh né Bò dữ, tránh né chó dữ, RẮN, KHÚC CÂY, GAI GÓC, HỐ SÂU, VỰC NÚI, vũng nước")

    Như vậy, lời tuyên bố đầu thời pháp: ''Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc Cho Người BIẾT – Cho Người THẤY, không phải cho người không biết, cho người không thấy"
    là Thế Tôn khoanh vùng "Đối Tượng nghe pháp" và có thể đạt kết quả ("Diệt tận các lậu hoặc")

    * như vậy, "Biết & Thấy" (trong thời Pháp này) = "Như Lý TÁC Ý"

    *******************
    Kinh Văn liên hệ:

    “Ta KHÔNG Thấy Một Pháp Nào Khác, này các tỷ kheo, Do PHÁP ẤY các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các tỷ kheo, như Như Lý TÁC Ý”
    http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi01-0114.htm

    "Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì Si chưa sanh được sanh khởi, và Si đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? – Cần phải trả lời là "KHÔNG Như Lý Tác Ý".
    Với ai Không như lý tác ý, thời Si chưa sanh được sanh khởi, và Si đã sanh được tăng trưởng quảng đại.
    ……………..
    Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì Si chưa sanh không sanh khởi, hay Si đã sanh được đoạn tận?" – Cần phải trả lời là "như lý tác ý".
    "Với ai NHƯ LÝ TÁC Ý, thời Si chưa sanh không sanh khởi, và Si đã sanh được đoạn tận."
    http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi03-0507.htm

    "Có Hai Duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến TÀ KIẾN sanh khởi. Thế nào là hai?
    "Lời nói của người khác" và "KHÔNG Như Lý Tác Ý".
    Có Hai Duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến CHÁNH KIẾN sanh khởi. Thế nào là hai?
    "Lời nói của người khác" và "NHƯ LÝ TÁC Ý".
    http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi02-0517.htm

    *******************
    (P/s: có nhiều thời Pháp sai khác Thế Tôn giảng về "Như Lý Tác Ý" với những công dụng sai khác: "Trạch Pháp giác chi", "Chánh Kiến", "đoạn tận SI", "đoạn tận Lậu hoặc"… )

    Kính chúc Chư Hiền an lạc và tăng thịnh Thánh pháp của Thế Tôn !!!

  3. yennhu nói:

    Sao minh k thấy thảo luận về 5 câu hỏi ( tại sao không là 6 hay 8 mà là 7 pp đoạn tru lậu hoặc…)


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s