– 15 Tâm Vô Nhân

15 TÂM VÔ NHÂN

Câu hỏi:

Phan Minh Nguyet:

Con có 1 câu hỏi về Vi Diệu Pháp xin phép được hỏi Quý Sư và các đạo hữu:

– trong 15 tâm vô nhân phân ra 7 tâm nhận cảnh trần không tốt đẹp và 8 tâm nhận cảnh trần tốt đẹp, tiêu chí nào để phân biệt cảnh trần tốt đẹp và không tốt đẹp?

– có trường hợp cùng 1 cảnh trần nhưng người này thấy là tốt đẹp, người khác có thể thấy là không tốt đẹp. Những cảnh trần như vậy là đối tượng của các tâm vô nhân trong lộ trình tâm (ngũ song thức, tiếp thọ tâm….) thì đối tượng đó khi nào là pháp chân đế, khi nào là pháp tục đế?

Con xin cảm ơn Quý Sư và các đạo hữu!

THẢO LUẬN

Lời góp ý:

Mưa Saigon ‎

1. Các tâm vô nhân nên nó nhận cảnh một cách tự động. Có 3 loại cảnh : Xấu( anittharupa) Thường( ittharupa) và Tốt( atiittharupa). Cảnh tốt hay xấu thường có giá trị tương đối. VD khi nhìn thấy đức Phật ( cảnh đẹp -atiittharupa) thì người ngoại đạo lại sinh tâm không thích.

2. Đã là tâm vô nhân thì là Chân đế vì nó không có nhân, nó là hậu quả và diễn ra tự động, ngay cả tất cả tâm và tâm sở đều là Chân đế, nên miễm bàn khi nào nó là Chân Đế hay Tục đế.

Thuận Pháp Dhammiko

Trong 15 tâm quả vô nhân có 7 tâm quả vô nhân bất thiện và 8 tâm quả vô nhân thiện. Vì đây là các tâm quả nên sau khi sinh ra thì chúng ta gặp các cảnh xấu hay đẹp tùy theo các nhân thiện hay bất thiện mà chúng ta đã gieo từ các kiếp trước. Tiêu chí để phân biệt cảnh tốt hay xấu thì rất khó nhận thấy do tùy cảm nhận của từng người, nhưng lấy ví dụ dễ phân biệt là ví như người Bắc Âu (đa số) vì do đời trước tạo nhiều phước thiện nên kiếp hiện tại này có cuộc sống sung túc, nhà cửa to đẹp, có quang cảnh thiên nhiên và môi sinh sạch đẹp; còn người Châu Phi như Somali, Etiopia (đa số) vì do đời trước tạo nhiều ác nghiệp nên kiếp hiện tại gặp cảnh nghèo khó, cảnh đói kém, không nhà cửa để ở, cảnh chiến tranh cướp bóc, cảnh thiên nhiên hoang tàn,…

Trong thế giới hữu vi của chúng ta, pháp chơn đế bao gồm 89 tâm, 52 tâm sở, 28 sắc vật chất, nên những đối tượng liên quan với chúng đều là đối tượng chơn đế, trừ những cái này ra là đối tượng của tục đế.

Ven Adhiṭṭhāna

Akusala vipāka citta (tâm quả bất thiện) gồm 7 tâm, tên gọi khác cho 7 tâm này là anittharūpa citta – tâm không hài lòng với cảnh, 8 tâm quả còn lại gọi là Ahetuka kusala vipāka citta, trong 8 tâm này thì 7 tâm đầu gọi là Ittharūpa citta – tâm hài lòng với cảnh, somanassa santīraṇa citta – tâm quan sát thọ hỷ, tên gọi khác là ati – ittharūpa – cực kì hài lòng.

Như vậy, 1 cái cảnh có thể không hài lòng với người này, nhưng lại hài lòng hay cực kì hài lòng với người khác, ví dụ như: sầu riêng là 1 loại trái có mùi nặng, 1 số người phải che mũi hay cảm thấy khó chịu với nó như vậy lúc này nó là anittharūpa – cảnh không hài lòng, nhưng với 1 số người khác có thể là 1 cảnh hài lòng hay cảnh cực kì hài lòng

Vấn đề thứ 2 khi đã nói đến các vấn đề như tâm, sở hữu, sắc pháp, Niết bàn chính là đang nói theo ý nghĩa của chân đế (Paramattha)  Tattha vuttābhidhammatthā, catudhā paramatthato, cittaṃ cetasikaṃ rūpaṃ nibbānamīti sabbathā. Hơn nữa, cái này gọi là tâm, cái này gọi là sở hữu, v,v… ý nghĩa của tâm này như thế này, tâm kia như thế kia v,v… chẳng qua là dùng tục đế để giải thích chân đế.

Binh Anson Đôi khi tôi cũng bâng khuâng … Nếu dùng tục đế — ở đây là ngôn ngữ quy ước của thế gian – để giải thích chân đế thì đó có phải là chân đế không? Hay chỉ là chân đế của tục đế? Hay nói cách khác, dùng ngón tay để chỉ mặt trăng, thì có thể diễn tả được mặt trăng một cách chính xác không?

Phạm Doãn Góp một suy nghĩ:

Ngón tay chỉ trăng không có khả năng diễn đạt chân lý toàn vẹn! Nhưng ngón tay chỉ trăng vẫn cần thiết vì có thể dùng để chỉ hướng, dẫn đường!

– Triết lý Đạo Phật tức ngón tay (tục-đế) chỉ về mặt trăng chân lý (chân-đế).  Sau khi thấu hiểu triết lý Đạo Phật, ta còn phải đi trực tiếp đến phía mặt trăng, tức còn phải

– Thực hành Đạo Phật bằng các bước luyên tâm (bhavana) để tiếp cận chân-đế .

– Và chỉ sau khi thực hành “thành công”, ta mới nhân ra Chân-Đế là gì!

Chí Thiện Cư Sĩ

Cac Bac Vo Hoc da doan diet hoan toan cac lau hoac nhu nguoi phi hanh gia di duoc tren mat trang.

Thuận Pháp Dhammiko

Ngôn ngữ quy ước hay vật quy ước là tục đế dùng để hiểu chơn đế, chơn đế là cái thực và kinh nghiệm trực tiếp được. “Ngón tay chỉ trăng” là vật quy ước để thấy được mặt trăng trong thực tế là cái hình tròn tròn có phát ra ánh sáng, và ai có mắt cũng nhìn thấy được. Mặt trăng thực là như vậy chứ không cần phải lên tận mặt trăng để sờ tận tay mới xác quyết nó; cái này mấy nhà du hành Mỹ đã chứng minh được là mặt trăng thật có và họ còn cắm cờ trên đó, chúng ta nên công nhận cho khỏe. Do đó chơn đế có nhiều thuộc tính để cảm nhận. Ví như cái tên bác Binh Anson không có thật, nó chỉ là tên gọi, mà gọi là tục đế, nó không thật vì tìm trên khắp cơ thể, sờ khắp cơ thể bác sẽ không thấy đâu có chữ Binh Anson cả. Nhưng nếu sờ lên cơ thể thấy có tính mềm mềm, nong nóng, hay trong con người đó lâu lâu nổi lên sự giận hờn, sự hoan hỷ vui vẻ, thì những cái mềm mềm, nong nóng, tâm giận hờn, tâm hoan hỷ đó là chơn đế, cái có thật🙂

Minh Quang

Một hôm đức Phật giảng dạy[30] cho môn đệ lý thuyết về nhân quả, và họ thưa rằng đã thấy và hiểu rõ điều ấy. Ðức Phật liền dạy:

“Hỏi các Tỳ kheo, ngay cả quan niệm ấy, minh bạch và rõ ràng như thế, nhưng nếu các ông bám chặt vào đó, nếu các ông quý chuộng nó, nếu các ông cất giữ nó, nếu các ông ràng buộc vào với nó, thì vậy là các ông đã không hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, cốt dùng để qua sông chứ không phải để mà ôm giữ lấy.”[31]

Ở một chỗ khác, đức Phật giảng ẩn dụ danh tiếng này, trong ấy giáo lý được ví như một chiếc bè dùng để qua sông, chứ không phải để nắm giữ và mang trên lưng.

“Hỏi các Tỳ kheo, một người đi du lịch, đến một khoảng sông rộng. Bờ bên này rất nguy hiểm, nhưng bờ bên kia thì an ổn và không có nguy nan. Không có một con thuyền nào để qua bên kia bờ sông, cũng không có một chiếc cầu nào để đi qua. Người ấy tự nhủ: “Con sông thật rộng, bờ bên này đầy hiểm nguy, nhưng bờ bên kia thì an ổn không nguy hiểm. Không có con thuyền nào để sang bên kia, cũng không có một chiếc cầu nào để qua. Bởi thế, thật sẽ rất tốt nếu ta lượm cỏ, gỗ, cành cây và lá để làm một chiếc bè, và nhờ chiếc bè đó mà qua bờ kia cho an ổn, dùng cả tay chân ta để chống chèo.” Rồi hỏi các Tỳ kheo, người ấy lượm cỏ, gỗ, cây, lá mà làm một chiếc bè, và nhờ chiếc bè ấy đưa sang bờ bên kia một cách an ổn, chống chèo bằng chân tay mình. Sau khi đã vượt qua sông đến bờ kia, y nghĩ: “Chiếc bè này thật đã giúp ích cho ta rất nhiều. Nhờ nó ta đã vượt qua an ổn đến bờ sông bên này, chống chèo bằng tay chân ta. Thật đáng nên mang chiếc bè này trên đầu hay trên lưng bất kỳ ta đi đâu.”

– Các ông nghĩ thế nào hỏi các thầy Tỳ kheo? Nếu người ấy làm như thế thì hành động của y có phải là một hành động thích đáng đối với chiếc bè hay không?

– Bạch Thế Tôn, không.

“Vậy thì y nên làm thế nào với chiếc bè? Sau khi đã vượt qua sông và đến bờ bên kia, giả sử người ấy suy nghĩ: “Chiếc bè này thật đã có công dụng rất lớn với ta. Nhờ nó ta đã sang đến bờ sông bên này một cách an ổn, chống chèo bằng tay chân ta. Ta nên để chiếc bè này trên nước, rồi tiếp tục đi bất cứ đâu.” Ấy là hành động một cách thích đáng đối với chiếc bè. Cũng thế, hỏi các Tỳ kheo, ta đã truyền dạy một giáo lý tương tự như một chiếc bè, nó cốt dùng để vượt qua, chứ không phải để mang theo, ôm giữ. Hỏi các Tỳ kheo, đã hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, thì pháp (dhamma) các ông còn phải lìa bỏ, huống nữa phi pháp (adhamma)[32] thì lại càng nên xả bỏ biết chừng nào.” http://www.quangduc.com/coban/18cdtk01.html

Chí Thiện Cư Sĩ

nếu chúng ta so sánh mặt trăng là như là mục đích tối thượng cần đạt đến, là níp bàn, thì Đức Phật không dùng chế định để diễn đạt quá nhiều về mục đích mà Ngài chỉ dùng chế định để diễn đạt thật nhiều về con đường tiến đến mục đích tối thượng (Níp bàn ). Hiểu về pháp chơn đế và pháp tục đế là kiến thức hỗ trợ hành giả tu tập để đạt được Thánh Quả, nhưng vấn đề chính nhất vẫn là sự hành theo giáo lý của Đức Thế Tôn, chứ không phải là sự đào sâu về vấn đề ngôn ngữ diễn đạt.

Thuận Pháp Dhammiko

Chiếc bè này là phương tiện để đạt được mục đính là qua được bên bờ kia sông có an ổn không hiểm nguy, quan trọng là người đó thấy được tác dụng của chiếc bè và không tham đắm nó làm gì, nhưng không có nó thì không được. Người hành thiền cũng vậy, thấy chơn đế và tục đế để làm phương tiện giác ngộ giải thoát khổ. Ai giải thoát khổ rồi thì quên chơn đế và tục đế đi. Nhưng bảo đảm nếu chúng ta không phân biệt được chơn đế và tục đế, không dùng chúng để tu tập như người dùng chiếc bè để qua sông, thì chúng ta vĩnh viễn không bao giờ giải thoát khổ được dù tu tập rất tinh tấn.

Chí Thiện Cư Sĩ mục đích tối thượng (nip bàn ) hành giả sẽ trực tiếp hiểu được tường tận khi đoạn diệt các lậu hậu

Thuận Pháp Dhammiko ‎

Ven Adhiṭṭhāna, TP thấy dùng ví dụ trái sầu riêng vẫn chưa lột tả được đối tượng của tâm quả bất thiện và đối tượng của tâm quả thiện! Phải lấy ví dụ đối tượng mạnh để mọi người tin nhân quả, sợ làm việc bất thiện và luôn trau dồi việc thiện???

Chí Thiện Cư Sĩ

Vậy chúng ta hãy dùng ví dụ về người ngoại đạo Jampuka, người sống thời Đức Phật tại thế, người này do bị nghiệp quá khứ nên chỉ thích ăn phân thay cho vật thực. Do trong thời Đức Phật Ca Diếp, vị này là một vị Tỳ Kheo đã ganh ghét, xúc phạm đến Bậc Alahan đồng thời vị này cũng đỗ bỏ vật thực của thí chủ cùng dường đến Bậc Alahan, nên đến thời Đức Phật sanh làm kẻ ngoại đạo ăn phân mà sống, sau khi Đức Phật tế độ vị này đã chứng quả Thánh Vô Học. Như vậy, khi vị này dùng phân thay vật thực, tâm thiệt thức thọ xã quả bất thiện vô nhân sanh khởi trong lộ tâm để bắt cảnh, nhưng đổng lực là tâm tham

Thuận Pháp Dhammiko

Một ví dụ cho tiêu chí để phân biệt cảnh trần tốt đẹp và không tốt đẹp là đối tượng của các tâm quả vô nhân. Có 2 đứa bé, một đứa là con của gia đình ăn xin nghèo khó, đứa kia là hoàng tử con vua quyền quý giàu có. Đứa con nhà ăn xin thì toàn thấy cảnh nhà cửa không đẹp, nghe tiếng lời không hay, ăn uống thức ăn không ngon,… Đứa hoàng tử con vua thì toàn thấy cảnh đẹp, toàn nghe tiếng lời hay, ăn toàn sơn hào hải vị,…Tóm lại các tâm quả vô nhân tiếp nhận cảnh của hai đứa bé này khác nhau là do nghiệp đời trước chúng tạo ra khác nhau nên hoàn cảnh sống hiện tại khác nhau. Đứa hoàng tử đương nhiên đời trước tạo nhiều phước thiện hơn.

Cùng 1 cảnh trần (đối tượng) nhưng người này thấy là tốt đẹp, người khác có thể thấy là không tốt đẹp, thì đối tượng đó khi nào là pháp chân đế, khi nào là pháp tục đế??? Có lẽ người thấy pháp chơn đế thì thấy bình thường, có thể không tốt đẹp, nhưng người thấy pháp tục đế là thấy tốt đẹp! Ví dụ như mọi người bình thường nhìn thấy cô hoa hậu thì ai cũng cho là đẹp, còn đối với vị tu tập quán thân như bộ xương hay quán thân như túi đựng thịt xương, máu me thì thấy không đẹp, đáng ghê tởm🙂

Tứ Diệu Đế

‎”Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.” http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung18.htm

Mọi người có tưởng khác nhau, sự suy tầm khác nhau, hý luận vọng tưởng khác nhau nên có sự thấy biết khác nhau.

Chí Thiện Cư Sĩ

Có những chúng sanh do thiện sự tạo trong quá khứ nên kiếp này giàu sang, có vợ đẹp con xinh. Nhưng nếu chúng sanh ấy không phải là người hiểu giáo lý thì sẽ khởi các tâm nhãn, nhĩ tỷ, thiệt, thân thức thọ xã quả thiện vô nhân để tiếp nhận cảnh rồi sau đó đến chặn đổng lực sẽ sanh tâm tham ái dục. Nhưng nếu chúng sanh ấy là người hiểu được giáo lý, thì sau khi tâm nhãn nhỉ tỷ thiệt thân thức thọ xã quả thiện vô nhân sanh khởi thì đến chặn đổng lực vị ấy quán tưởng quy trình diệt hoại của xác thân hoặc vị ấy quán xét pháp chơn đế thấy rõ đây chỉ là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, sắc uẩn vô thường, thọ uẩn vô thường, tường uẩn vô thường, hành uẩn vô thường, thức uẩn vô thường, do vậy tâm đại thiện hợp trí sanh khởi. Như vậy, cùng một cảnh tốt nhưng tâm sinh lên có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Ngược lại, đối với cảnh xấu cũng vậy, nếu là người không hiểu giáo lý thì sau tâm quả bất thiện vô nhân sanh khởi sẽ thường có sự khó chịu của tâm sân sanh khởi, nhưng ngược lại đối với người có tu tập sẽ quán xét tam tướng, nghiệp quả, thấy rõ đâu là chơn đế thì sẽ khởi tâm đại thiện hợp trí.

Binh Anson

Cái gọi là “chân đế” trong A-tỳ-đàm (VDP) thật ra chỉ là chân đế theo quan điểm của mỗi bộ phái trong thời kỳ phân phái (hình thành trong khoảng 200-500 năm sau khi Đức Phật bát-niết-bàn). Hình như mỗi bộ phái có lối giải thích khác nhau về tâm, tâm vương, tâm sở, sắc pháp, niết-bàn, v.v., mặc dù nhìn chung, đó cũng chỉ là những hình thức khai triển chi tiết các khái niêm đã có từ thời Đức Phật (danh sắc, tứ đại, ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới).

Vì vậy, theo thiển ý, đó là “chân đế của tục đế” (ngôn tự thế gian), không phải là chân đế thật sự (phi ngôn tự thế gian).

Chí Thiện Cư Sĩ

Các danh từ dùng để chỉ định pháp chơn đế cũng là pháp tục đế ( pháp chế định ), nhưng gọi là Danh Chơn Chế Định. Còn những danh từ dùng để chỉ những việc thường tình thế tục gọi Phi Danh Chơn Chế Định, vì vậy chúng ta đừng nhầm lẫn giữa pháp chơn đế và pháp danh chơn chế định.

Minh Quang theo mq hiểu thì có lẽ mọi thứ ngôn ngữ,cử chỉ để đặc tả các hình tướng (sắc pháp)cũng như mọi thứ ngôn ngữ,cử chỉ để đặc tả tâm và trạng thái tâm,niết bàn(danh pháp),đều thuộc về ngôn ngữ qui ước,chế định(tục đế),(có lẽ bao gồm cả vdp) . Còn những cảm giác,tri giác,kinh nghiệm nhận biết như(mắt,mũi,tai,lưỡi,thân,ý )để bản thân thực sự,trải nghiệm hay biết thực tại vũ trụ như(sắc,thanh,hương,vị,xúc,pháp)thì mới thực sự là (chân đế), (nhưng có lẽ là tâm đã phải vượt qua tam giới cũng như các triền cái….)

Hoa Nguyen

Tâm (có vài chục trạng thái) và tâm sở (có gần hay hơn 100) là những gì người bình thường có thể nhận thức bằng cảm thọ, ý thức, nên theo ý nghĩ riêng (không căn cứ trên Vi Diệu pháp hay Duy thức) đều thuộc về Tục đế , hiểu là thuộc chân lý của thế gian. Các hiện tượng, trạng thái thuộc tâm và tâm sở ở phần sâu kín có vẻ bí ẩn đối với người bình thường (nên có xu hướng đẩy về chân đế), nhưng các nhà tâm lý học, các vị thiền quán sâu xa có thể nhận dạng, nhận thức được (như về vô thức, tiềm thức, ý thức trong mộng, bản năng) và với họ cũng chỉ là tục đế. Chỉ những thuộc tính của Niết Bàn là Chân đế. Xin nói lại, trên chỉ là ý nghĩ riêng.

Phan Minh Nguyet

Cảm ơn các đạo hữu đã chia sẻ ý kiến nhưng tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời.

– về vấn đề thứ nhất, tôi đã được 1 vị giảng sư VDP trả lời là trong Tạng VDP không đưa ra tiêu chí nhưng trong chú giải đưa ra tiêu chí là lấy một người nam trung bình làm căn cứ, nếu anh ta nhận cảnh trần là tốt đẹp thì cảnh trần là tốt đẹp. Tôi hơi băn khoăn về điểm này vì có lẽ lại phải xác định thế nào là một người nam trung bình. Đạo hữu nào biết nguồn tư liệu về vấn đề này xin chỉ dẫn – theo lý thuyết VDP mà tôi hiểu đến nay thì đối tượng của tâm vô nhân là chân đế, nghĩa là sắc pháp. Mà theo tôi hiểu đã nói sắc pháp thì là thực tại khách quan, sắc chỉ là sắc, nếu nói tốt đẹp hay không tốt đẹp thì có lẽ cần có tiêu chí khách quan chứ không phụ thuộc vào cảm nhận của mỗi người

Hoa Nguyen

Thật ra, từ “tiêu chí” rất khó hiểu. Có phải muốn nói thế nào gọi là đẹp, thế nào là xấu ? Nếu vậy thì nên lấy nhận thức trung bình của con người bình thường để làm mức phân định một sự vật là đẹp hay xấu (theo quan niệm xưa thì nam nhân là “đại diện” cho con người bình thường hơn nữ nhân). Nhưng không phải ai cũng “bình thường” như nhau. Nhiều người do cấu tạo bẩm sinh của não bộ và thân thể mà có những cảm quan không giống người khác, và phần cảm thọ, nhận thức này thuộc chủ quan riêng. Tính bẩm sinh ở đây coi như là “vô nhân” (thường hiểu đến từ nghiệp trước rất khó nhận biết). Tôi không hiểu “sắc pháp” là chân đế, và sắc pháp đó là đối tượng nhân thức của con người, bao gồm phần khách quan (ai cũng có) và chủ quan (riêng của mỗi cá nhân). Cho nên mỗi người thấy đối tượng quan sát đẹp hay xấu không như nhau, có khi rất khác nhau. Thí dụ người nặng tính sân hận khi nhìn người họ không ưa thích không thấy những vẻ đẹp có ở đối tượng.

Chí Thiện Cư Sĩ Theo thiển nghĩ của tôi như vầy :

Trước tiên, chúng ta sẽ loại trừ trường hợp chúng ta đã biết được do nghiệp gì đã sanh ra các loại tâm quả vô nhân mà chúng ta đang dung để tiếp cảnh, bởi vì nếu chúng ta biết được nguyên nhân rồi thì đương nhiên chúng ta đã có cơ sở để xác định cảnh đó là xấu hay tốt.

Như vậy, chúng ta chỉ bàn đến cách nhận biết trong trường hợp chúng ta đối mặt với cảnh mà hoàn toàn không biết về nghiệp quá khứ.

15 tâm vô nhân bắt cảnh chơn đế chứ không bắt cảnh tục đế, mà phương diện tốt hay xấu của cảnh là thuộc về phạm trù tục đế, mà tục đế lại thuộc cảnh pháp. Do vậy, để xét cảnh bắt được là tốt hay xấu thì phải dựa vào những lộ ý nối tiếp lộ ngũ sau đó, hầu như tất cả những nghiệp được tạo, tức là sự phản ứng ngược lại với cảnh của chúng ta thường kết hợp giữa lộ ngũ và lộ ý vào, nhưng vì thời gian của một lộ trình thật nhanh, nhanh đến nổi một phẩy móng tay đã có hàng tỷ lộ tâm sanh khởi, nên chúng ta không phân biệt đâu là lộ ngũ đâu là lộ ý.

Thông thường, theo chế định cảnh tốt là cảnh toại ý, thu hút chúng sanh, khiến cho chúng sanh ưa thích hoặc mong muốn, thường làm cho tâm tham và tâm thiện sanh khởi, còn cảnh xấu là cảnh bất toại ý, không thu hút chúng sanh, khiến cho chúng sanh xa lánh hoặc không mong muốn, thường làm cho tâm sân sanh khởi. Tuy nhiên, cách phân biệt này cũng có ngoại lệ, như trường hợp một chúng sanh do thường cận y duyên thường nổi long đố kỵ trước cảnh người khác tạo phước hoặc chúng sanh trong lúc cúng dường hay bố thí thường có tâm tham nổi dậy hoặc chúng ta hoài nghi tam bảo, lại them trường hợp các hành giả đề mục tử thi để hành thiền, tử thi là cảnh khiến cho người ghê sợ nhưng qua sự suy xét về tiến trình hoại diệt của tử thi thì tâm thiện hợp trí khởi lên rất nhiều.

Tóm lại, chúng ta muốn phân biệt cảnh tốt hay xấu, thì phải xét hai trường hợp sau :

Trường hợp phổ biến, xem xét thân hành, khẩu hành, ý hành của chúng ta phản ứng ngược lại cảnh trong nhiều lộ ý sau đó. Nếu phản ứng đó mang tính ghê sợ, ghét, xa lánh hoặc hủy diệt đối tượng, tâm sân sanh khởi tại chặn đổng lực, thì đó là cảnh xấu. Nếu chúng ta bị thu hút vào đối tượng, phát sinh ưa thích, mong muốn, có thể là sự mong muốn của pháp dục, tâm tham hoặc tâm thiện sanh khởi tại chặn đổng lực, thì đó là cảnh tốt.

Trường hợp ngoại lệ, chúng phải dựa vào nhận định phổ thông để xét cảnh, đồng thời chúng ta cũng phải xét phản ứng trước cảnh. Nếu khi xét thấy đây là cảnh tốt ( theo nhận định phổ biến ) nhưng phản ứng ngược lại cảnh là tâm sân hoặc tâm si hoài nghi thì đây chắc là do thường cận y duyên và do nghiệp quả, ví như trường hợp một người gặp cảnh chư thiên hiện ra rất kỳ lạ nhưng do bản chất yếu đuối muội lược nhiều đời kiếp nên không khởi tâm thiện mà khởi tâm sân kinh sợ. Nếu khi xét thấy đây là cảnh xấu ( theo nhận định phổ biến ) nhưng tâm sinh khởi là tâm thiện, thì đây là do sự quân tập và khéo tác ý của chúng sanh ấy, ví như người bị kẻ khác đánh đập không khởi tâm sân mà khởi tâm thiện do người ấy quán xét thấy kết quả này do nghiệp quá khứ và nghiệp đủ điều kiện phải trả.

Qua đó, chúng ta thấy việc đưa ra tiêu chí để phân định cảnh tốt hay cảnh xấu một cách đầy đủ trọn vẹn là điều rất khó khăn, chắc chỉ có Đức Thế Tôn và các Bậc Lậu Tận mới làm được điều này. 15 tâm vô nhân và khán ngũ môn chỉ biết cảnh chơn đế trong lộ ngũ hoặc từng lộ nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân riêng lẻ, còn việc bắt cảnh tục đế là phận sự của các lộ ý sau đó mà trong đó không có 16 tâm vô nhân.

Chí Thiện Cư Sĩ

Phân tích trên chỉ xét trong hai lĩnh vực chơn đế và tục đế, không xét nhiều đến các phạm trù còn lại trong 21 cảnh, nếu xét đến thì ngũ song thức biết được đến 7 cảnh, đó là Cảnh Sắc Pháp, cảnh Hiện Tại, Cảnh Dục Giới, Cảnh Chơn Ðế, Cảnh Nội Phần, Cảnh Ngoại Phần và 1 trong 5 Cảnh

Thuận Pháp Dhammiko

Đúng là 15 tâm vô nhân khó hiểu nhất trong các tâm Dục giới. May mắn vì chúng là các tâm quả nên chúng ta công nhận và đá trách nhiệm qua cho luật Nhân Quả. Ví như có nhiều người than rằng làm người Việt Nam là khổ, là do đời trước làm ác nhiều nên sinh vào đây, nếu không thì đã sinh vào đâu đó như Singapore hay cõi trời Đấu suất,… toàn thấy cảnh vừa lòng, đẹp ý. Nhưng nếu là người Việt mà có cuộc sống vừa đủ, Chánh pháp đang tồn tại, biết tu tập và giải thoát khổ được thì cũng rất may mắn!

Nếu Phan Minh Nguyet đọc các cmt trên mà vẫn chưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng thì nên cho qua cái thắc mắc này! Vì đức Phật nói rằng cái gì thuộc về Nghiệp và quả của nghiệp là điều không thể nghĩ bàn, công nhận cho khỏe. Vì 15 vô nhân tâm không phải là đối tượng quan trọng của thiền Vipassana, những tâm khác như 12 tâm bất thiện, 8 tâm đại thiện, các sở hữu tâm và các sắc pháp là những đối tượng tốt của thiền Vipassana.

Minh Quang

theo vi diệu pháp,trong đời sống chúng sinh(cõi dục giới)có 54 Tâm Dục giới gồm(12 tâm bất thiện+24 tâm dục giới tịnh hảo+18 TÂM VÔ NHÂN=54tâm )

ở tầng thiền sắc giới( từ sơ đến tứ thiền)có 15 Tâm Sắc giới

ở tầng thiền vô sắc giới(từ ngũ thiền đến bát thiền) có 12 tâm Vô Sắc giới

ở Tâm Siêu Thế giới(niết bàn)có 8 tâm Siêu Thế

như vậy,toàn bộ mọi trạng thái tâm của chúng ta tất cả có tổng cộng 89 tâm …

theo vi diệu pháp,thì”Những tâm mà không có sở hữu làm nhân gọi là tâm vô nhân. ” có 15 loại tâm quả vô nhân:

10 tâm là ngũ song thức 1 tâm tiếp thu quả bất thiện. 1 tâm tiếp thu quả thiện . 1 tâm quan sát quả bất thiện câu hành thọ xả. 1 tâm quan sát quả thiện câu hành thọ xả. 1 tâm quan sát quả thiện câu hành thọ hỷ.

Mười tâm quả vô nhân được phân thành năm đôi, gọi là Ngũ song thức (Dvi pancavinnàna). Chúng được tóm tắt:

Nhãn thức (Cakkhuvinnàna): quả bất thiện câu hành với cảm thọ xả, quả thiện câu hành với cảm thọ xả.

Nhĩ thức (Sotavinnàna): quả bất thiện câu hành với cảm thọ xả, quả thiện câu hành với cảm thọ xả.

Tỷ thức (Ghànavinnàna): quả bất thiện câu hành với cảm thọ xả, quả thiện câu hành với cảm thọ xả.

Thiệt thức (Jivhàvinnàna): quả bất thiện câu hành với cảm thọ xả, quả thiện câu hành với cảm thọ xả.

Thân thức (Kàyavinnàna): quả bất thiện câu hành với cảm thọ khổ, quả thiện câu hành với cảm thọ lạc.

theo vi diệu pháp,thì ”Tâm quả là kết quả của nghiệp thiện và nghiệp bất thiện.”….” Thấy, nghe, ngửi, nếm và đụng thì không phát sanh một cách ngẫu nhiên; chúng là kết quả của nghiệp. Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn là sắc pháp do nghiệp tạo tác, chúng là sắc nghiệp. Chỉ có quả của danh nghiệp thì được gọi là quả, và như vậy chỉ có tâm và sở hữu mới có thể là quả. Sắc pháp không phải là quả.

Ðức Phật dạy rằng mỗi sự vật phát sanh phải có nhân duyên. Khi chúng ta thấy điều gì không vui thì phải có nhân duyên của nó: đó là kết quả của nghiệp bất thiện. Kết quả của nghiệp bất thiện thì tương phản với nghiệp thiện. Thấy điều gì vui là quả thiện; điều này có thể là kết quả của nghiệp thiện. Tâm quả vô nhân phát sanh khi nó biết một đối tượng bất lạc hay lạc do một trong năm căn. Lúc đó không có nhân bất thiện hay nhân tịnh hảo phát sanh cùng với tâm….”

mq liệt kê dài dòng để chính tự mình có khái niệm về bức tranh(tâm),còn những ai đã biết thì cùng ôn lại để tìm ra(tiêu chí)để ”… phân biệt cảnh trần tốt đẹp và không tốt đep…”còn theo ngôn ngữ vdp thì là ”quả bất thiện hoặc quả thiện”đối với tâm quả vô nhân

theo như giáo lí đạo phật thì(đau khổ hay hạnh phúc) hoặc (thiện và bất thiện) hay địa ngục(xấu ác) và thiên đường(đẹp đẽ) có lẽ đều do nghiệp(thiện,ác) tức hành uẩn(sankhāra),như vậy chừng nào chúng ta còn ở trong tam giới(dục giới,sắc giới,vô sắc giới)thì chúng ta còn bị lệ thuộc,quyết định bởi nghiệp hay hành uẩn(sankhāra).thế nên ”cảnh trần tốt đẹp nhất”có lẽ đó là tâm siêu thế(niết bàn) và ”cảnh trần không tốt đẹp”có lẽ là cõi dục giới cũng như các cõi thấp hơn ,còn(tiêu chí) để phân biệt,nhận ra dĩ nhiên là thành quả thực hành gặt hái từ con đường đạo đế(giới, định,tuệ)

http://phathoc.net/thu-vien/luan/gioi-thieu-giang-giai-luan-tang/7ED448_vi_dieu_phap__giang_giai/p11.aspx http://chuataythien.vn/ad-80797-657/Tam-Vo-Nhan-Ahetuka-Citta-.aspx http://www.quangduc.com/luan/30vidieuphap09.html

Minh Quang

‎”…Khi vị A la hán biết cảnh lạc và cảnh bất lạc do thân căn, vị ấy có thân cảm thọ khổ hoặc thân cảm thọ lạc phát sanh cùng với tâm quả vô nhân mà gọi là thân thức, nhưng sau tâm quả, vị A la hán không có tâm bất thiện hoặc tâm thiện; mà chỉ có tâm tốt. Chúng ta xem trong Tương Ưng Bộ Kinh (IV, Salàyatana-vagga, tương ưng về cảm thọ, quyển 1, 6) mà Ðức Phật dạy cho chư Tỳ khưu:

“Này chư Tỳ khưu, kẻ vô văn phàm phu cảm nhận lạc thọ, khổ thọ, và xã thọ. Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử đa văn cũng cảm thọ giống như ba cảm thọ trên.

Ở đây này chư Tỳ khưu, điều gì là đặc thù, điều gì là tối thắng, điều gì là khác biệt giữa bậc thánh đệ tử đa văn và kẻ vô văn phàm phu.”?

“Bạch Thế Tôn, các pháp chúng con dựa trên lời dạy căn bản của Thế Tôn”..

“Này chư Tỳ khưu, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than van, đấm ngực đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai lần cảm thọ, thân và tâm… Cảm giác khổ vị ấy cảm thấy sân hận. Cảm giác sân hận đối với cảm thọ khổ, sân hận ngấm ngầm trong vị ấy. Cảm giác lạc, vị ấy hoan hỷ trong cảm thọ lạc. Tại sao vậy? Này chư Tỳ khưu kẻ vô văn phàm phu không thoát ly cảm thọ khổ ngoài dục lạc. Vui thích trong dục lạc cho nên tham dục lạc ngấm ngầm trong vị ấy…”

Ðây không phải là đời sống thật sự sao? Khi cảm thọ khổ, chúng ta muốn cảm thọ lạc; chúng ta tin rằng nó là hạnh phúc thật sự. Chúng ta không thấy đời là khổ. Chúng ta không muốn thấy bệnh hoạn, già nua và chết chốc, “sầu và bi”, và sự vô thường của pháp hữu vi. Chúng ta hy vọng đời là hạnh phúc và khi bị đau khổ chúng ta nghĩ rằng lạc thọ có thể chữa trị sự đau khổ của chúng ta và chúng ta dính mắc vào nó. Theo lời dạy của Ðức Phật về “Pháp duyên khởi” ngài dạy rằng thọ duyên ái. Không những có cảm thọ lạc và cảm thọ xả duyên ái, mà còn cảm thọ bất lạc duyên ái, vì người ta muốn thoát khỏi cảm thọ bất lạc (Thanh tịnh đạo, XVII, 238). Xa hơn nữa, chúng ta xem trong kinh:

…Nếu cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thấy mình như người bị trói buộc. Nếu cảm giác khổ thọ và xả thọ, vị ấy cảm thấy mình cũng như người bị trói buộc. Này chư Tỳ khưu kẻ vô văn phàm phu này được gọi là người bị trói buộc trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như Lai tuyên bố rằng người ấy bị trói buộc trong đau khổ.

Nhưng này chư Tỳ khưu, bậc thánh đa văn khi tiếp xúc khổ thọ, không than van, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm giác thân thọ mà không cảm giác tâm thọ …Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, khổ thọ, xả thọ, cảm giác nó như người không bị trói buộc. Như vậy này chư Tỳ khưu, Như Lai tuyên bố rằng vị thánh đệ tử này đã thoát khỏi sự trói buộc của sanh già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, giải thoát khỏi khổ đau …”

http://chuataythien.vn/ad-80797-657/Tam-Vo-Nhan-Ahetuka-Citta-.aspx

Hoa Nguyen

Tôi thấy câu hỏi đặt ra có gì xa lạ hay không đúng câu hỏi dành cho đạo Phật, hay cho Vi Diệu Pháp (giả dụ ở một người thật tâm tìm hiểu đạo). Thế nào là tiêu chí cho tốt đẹp và không tốt đẹp (xấu) ? Cần nói rõ đạo Phật không đặt vấn đề đẹp hay xấu trong nhận thức, đánh giá sự vật, hành động, mà chủ yếu là xét mọi thứ ở hai phạm trù thiện và bất thiện. Bất thiện dẫn tới gây đau khổ cho mình và cho người, còn thiện thì trái lại, đưa tới an vui cho người và cho bản thân. Nhưng ở đây cũng không có tiêu chí, hiểu như mức phân định rõ , giữa thiện và bất thiện, vì những vô minh, sân, dục, chấp ngã… trong con người làm che mờ, đôi khi gây lẫn lộn giữa thiện và ác. Vẫn thấy có hành động ác được ngụy trang dưới hình thức thiện, tốt, đẹp. Cho nên tôi thấy câu trả lời của vị sư nào đó về “tiêu chí” tốt xấu cũng rất “trí tuệ”: lấy tầm nhìn trung bình của một người nam bình thường (người nữ ngày xưa hiểu biết về nhiều mặt của cuộc sống không bằng người nam). Bài viết về Tâm Vô Nhân trên trang chùa Tây Thiên rất hayà có thể cho là đầy đủ. Nhân đây, tôi thấy có một từ dùng trong Vi diệu pháp vẫn chưa thống nhất giữa các tác giả (có thể gây bối rối cho người đọc). Đó là tâm sở hữu, tâm sở và sở hữu. Tôi không biết trong Pali thế nào, nhưng trong tiếng Việt thì “tâm sở hữu” có nghĩa là những thuộc tính của tâm, thuộc về tâm, như sân, tham, ái dục, tầm, tứ, từ, bi, hỷ, xả. Tâm sở hữu có thể nói ngắn lại là “tâm sở” cũng đủ ý. Nhưng nếu chỉ nói là “sở hữu” thì thấy từ dùng thiếu nghĩa.

Minh Quang

‎”16. Làm thế nào xác định rằng một hành động là thiện (kusala) hay bất thiện (akusala)? Dựa trên tiêu chuẩn đạo đức nào?

Một cách vắn tắt, cái gì liên hợp với ba căn (mūla) bất thiện (akusala) là bất thiện. Liên hợp với ba căn thiện (kusala) là thiện.

Cũng như hột giống được gieo trồng trên đất phì nhiêu sẽ sanh sôi nảy nở, không sớm thì chầy, tùy theo bản chất riêng của nó.

Cùng thế ấy, hành động thiện và bất thiện sẽ tạo những hậu quả đáng được ưa thích hay không đáng được ưa thích, hậu quả ấy được gọi là Vipāka (Quả)”

http://www.budsas.org/uni/u-vdp-ty/vdpty01.htm

Minh Quang ‎

15 tâm quả vô nhân là sự biết cảnh không có bản chất ác xấu (bất thiện) hay tốt đẹp (thiện),nhưng do trong quá khứ thành tựu bởi Nghiệp Bất Thiện (Tham, Sân, Si)nên sinh ra 7(Tâm Quả Bất Thiện Vô Nhân ),còn nếu trong quá khứ thành tựu bởi Nghiệp Thiện(Vô Tham,vô Sân,vô Si)thì sinh ra 8 (Tâm Quả Thiện Vô Nhân )  tâm quả vô nhân là các tâm thuộc về”Tâm Lộ Ngũ Môn” tức là 5 căn( mắt,tai,mũi,lưỡi,thân,ý)trực tiếp nhận thức 5 trần cảnh(sắc,thanh,hương,vị,xúc)nó chỉ nhận cảnh cũng như nghiệp(thiện,ác)từ quá khứ nhưng ở giai đoạn này nó chỉ tiếp diễn nghiệp cũ nhưng không tạo nghiệp mới. căn thứ 6(ý căn)nhận thức(pháp trần) gọi là”Tâm Lộ ý Môn”thì mới có thể tác động đến nghiệp cũ cũng như tạo nghiệp mới

”…Khi có hai người trong cùng một hoàn cảnh, một người có thể có phi như lý tác ý và người kia có thể có như lý tác ý, tùy thuộc vào nghiệp lực của họ. Chúng ta xem trong Tương Ưng Bộ Kinh (IV, Sanàyatana, Tương Ưng Sáu Xứ, Năm mươi kinh thứ tư, 202, dục lậu ) về vị Tỳ khưu, sau khi có phi như lý tác ý vị ấy biết cảnh xuyên qua một trong sáu môn, và một vị Tỳ khưu khác có như lý tác ý. Chúng ta xem ngài Moggallàna dạy chư vị Tỳ khưu:

Này chư hiền giả, tôi sẽ dạy cho quí vị phương pháp nhiễm dục lậu và phương pháp không nhiễm dục lậu…

Này chư hiền giả, thế nào là nhiễm dục lậu?

Này chư hiền giả, ở đây một vị Tỳ khưu, mắt thấy sắc, tham đắm sắc khả ái, chán ghét sắc không khả ái, sống không có chánh niệm, và tâm ích kỷ. Vị ấy không biết rõ như thật, tâm giải thoát và tuệ giải thoát, chính ở đây các ác bất thiện phát sanh chưa được đoạn trừ.

Này chư hiền giả, vị Tỳ khưu này được gọi là nhiễm “dục lậu sau khi mắt thấy sắc, tai, mũi, lưỡi. . .tâm biết cảnh pháp.” Khi vị Tỳ khưu an trú như vậy, này chư hiền giả, này chư hiền giả, nếu Ma vương [5] đến với vị ấy bằng mắt, Ma vương nắm lấy cơ hội. Nếu ma vương đến vị ấy bằng lưỡi…bằng tâm, Ma vương nắm lấy đối tượng, nắm lấy cơ hội…

Này chư hiền giả, sống như vậy, cảnh sắc chinh phục vị Tỳ khưu, vị Tỳ khưu không chinh phục cảnh sắc. Cảnh thinh, hương, vị, xúc, và cảnh pháp chinh phục vị Tỳ khưu, không phải vị Tỳ khưu chinh phục cảnh pháp. Này chư hiền giả, vị Tỳ khưu này được gọi là “người bị sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp chinh phục”. Vị ấy bị các ác bất thiện pháp, nhiễm ô chinh phục, dẫn đến tái sanh, đầy sợ hãi, quả đau khổ, tương lai của vị đó tái sanh, già và chết. Như vậy này chư hiền giả, vị ấy bị nhiễm dục lậu.

Và này chư hiền giả, thế nào là người không bị nhiễm dục lậu?

Ở đây, này chư hiền giả, một vị Tỳ khưu mắt thấy sắc, không tham đắm sắc khả ái, không chán ghét sắc không khả ái…

Lưỡi nếm vị… ý biết cảnh pháp, vị ấy không tham đắm pháp khả ái, không ghét bỏ pháp không khả ái, nhưng sống an trú chánh niệm, với tâm vô lượng. Cho nên vị ấy biết rõ như thật, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nơi đây, các ác bất thiện pháp phát sanh được đoạn trừ hoàn toàn.

Này chư hiền giả, vị Tỳ khưu này được gọi là không bị nhiễm dục lậu sau khi mắt thấy sắc…không nhiễm dục lậu sau khi ý biết cảnh pháp. Sống như vậy, này chư hiền giả, nếu Ma vương đến với vị ấy bằng mắt, bằng lưỡi, bằng ý…ma vương không nắm bắt đối tượng, không nắm được cơ hội…

Vã lại, này chư hiền giả, sống như vậy là vị Tỳ khưu chinh phục sắc, các sắc không chinh phục vị ấy. Vị ấy chinh phục cảnh thinh, hương, vị, xúc, pháp. Và chúng không chinh phục vị ấy. Như vậy này chư hiền giả một vị Tỳ khưu được gọi là “người chinh phục sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp”. Vị ấy chinh phục các ác bất thiện pháp, nhiễm ô, dẫn đến tái sanh, đầy sợ hãi, kết quả là đau khổ, sanh, già và chết. Như vậy này chư hiền giả, vị đó đã thoát khỏi dục lậu. ” http://phathoc.net/thu-vien/luan/gioi-thieu-giang-giai-luan-tang/7ED448_vi_dieu_phap__giang_giai/p6.aspx

Thuận Pháp Dhammiko

Bạn Minh Quang đã đi quá xa chủ đề 15 tâm quả vô nhân rồi🙂

Nếu PLCĐ mở thêm topic: Mỗi ngày học một tâm, tâm sở, sắc pháp nữa thì rất tốt. Bổ sung Một ngày một từ Pali cho đỡ khô khan. Môn này ở VN hiếm người học lắm, lãng phí 42.000 pháp uẩn của Tam Tạng🙂

Minh Quang

mình nghĩ rằng chúng ta vẫn bám sát để hiểu,và cũng cám ơn bạn pmn(vì trước đó mình chẳng biết tâm quả vô nhân là gì),như bây giờ thì mình cũng tạm có khái niệm(đó cũng là cách gợi trí tò mò để tự mình học hỏi)

Bạn nói tâm vô nhân nhận cảnh chân đế(thì mình cũng hiểu có lẽ chắc là vậy)dù mình nghĩ rằng(chân đế của phàm phu thì khác xa chân đế của các vị hữu học)

chẳng hạn,khi chúng ta đọc mọi giáo lí kinh điển miêu tả về tứ thiền…(chân lí qui ước-tục đế),nhưng nếu cơ duyên đến bạn thực sự nếm trải bằng giác quan trực tiếp các tầng thiền,thì mới là(chân đế),hoặc chưa từng biết bơi,bạn đọc hoặc nghe về bơi lội(tục đế),còn nếu tự bạn lội xuống nước học bơi,trải nghiệm bằng 5 giác quan,đó là(chân đế)

Chí Thiện Cư Sĩ

Pháp chơn đế bao gồm tâm, tâm sở, sắc pháp và niết bàn, đây là chơn tướng thật sự của mọi thứ trên thế gian. Trong đó, sắc pháp gốm tứ đại minh (đất, nước, gió, lửa ) làm gốc để sinh ra 24 sắc y sinh. Như vậy, xét đến vật chất thì tất cả mọi dạng vật chất đều cấu tạo từ tứ đại.

Tuy nhiên, chúng sanh không nhận ra điều đó, đã dùng cách chế định để đặt cho tất cả mọi thứ trên thế từ vật chất đến tinh thần theo cách của thế tục, trong đó những pháp hữu vi nào sinh khởi do nghiệp thiện khiến cho chúng sanh hài lòng thì thường được gọi là tốt đẹp, còn những pháp hữu vi nào sinh khởi do nghiệp ác, khiến cho chúng sanh bất toại ý thường được gọi là xấu, không tốt, cách định đặt này có ngoại lệ như bạn đã biết.

Như vậy, 15 tâm vô nhân bắt cảnh chơn đế, cụ thể là sắc pháp, điều này sẽ diễn ra trong lộ ngũ. Còn cảnh này là tốt hay xấu ( tất cả cảnh đều từ tứ đại minh ) theo cách chế định của chúng sanh ( tục đế ) sẽ được diễn ra trong lộ ý nối lộ ngũ, nhưng nên nhớ lộ ý bắt được cả hai cảnh chơn đế và tục đế

Nếu bạn nắm được tiến trình này, bạn sẽ không thấy được mâu thuẫn ở những điều bạn nêu ra. Như bạn cũng biết, khi hành vipassana, chúng ta luôn cần phải biết rõ mọi pháp sinh khởi ở gốc độ chơn đế và loại bỏ mọi khái niệm tục đế ở trong tuệ thứ nhất là tuệ phân biệt danh và sắc là vậy.

Chí Thiện Cư Sĩ

Tài liệu ” Quy Trình Tâm Pháp ” của Tỳ Khưu Chánh Minh giảng rất rõ, bạn có thể nghiên cứu thêm.

Phan Minh Nguyet Cảm ơn Chí Thiện Cư Sĩ. Tôi cũng đang định đọc cuốn đó

Phạm Doãn

Đạo hữu Thuận Pháp nên cho thead này vào một Document (15 tâm vô nhân). PLCĐ thiết tha đề nghị đạo hữuThuận Pháp Dhammiko phụ trách Document “Mỗi ngày học một Tâm trong VDP”. Phụ trách chỉ có nghĩa là nêu bài học cho mỗi ngày, tìm các links tham khảo cho bài. Phần thảo luận thì mọi người cùng tham gia. Thân ái,

Mi Yoen Nguyen

Giải thích thì hơi dài dòng, con xin đưa ra 1 ví dụ: cà phê có vị đắng. Có người thích vị đắng của cà phê, có người không thích vị đắng ấy. Nhưng không vì người thích hay không thích (nó qua tới lộ trình tâm khác rồi) mà bản chất “đắng” của cà phê thay đổi. Tỷ thức thọ xả quả bất thiện sẽ là tâm biết cảnh này vì “đắng” là cảnh vị không tốt đẹp.

Thuận Pháp Dhammiko

Bác Phạm Doãn, nếu mọi người ủng hộ TP sẽ làm thử docs “Mỗi ngày tìm hiểu một Pháp uẩn trong VDP”. Pháp uẩn cơ bản như là Tâm, Tâm sở,…Cũng có thể 1 pháp uẩn phải tìm hiểu trong nhiều ngày!

Minh Quang mq rất vui mừng được tham gia học hỏi pháp

Phạm Doãn ‎Thuận Pháp Dhammiko OK, tiến hành thực hiện đi!

Minh Quang

Theo vdp(nam tông) thì 5 căn thức(mắt mũi, tai,lưỡi,thân) gọi là ngũ song thức (lộ ngũ môn),gọi là TÂM QUẢ VÔ NHÂN, còn căn thức thứ 6 (ý căn) thuộc (lộ ý môn)

Theo duy thức (bắc tông)thì 6 căn thức(mắt,mũi,tai,lưỡi,thân,ý) riêng về Ý mở rộng thành 3 gồm (Ý thức +mạt na thức+A lại da thức ), như vậy có 8 tâm gọi là(TÂM VƯƠNG) http://www.tangthuphathoc.net/duythuchoc/duythuchoc.htm

như vậy,có 1 số sai biệt về về cách hiểu:

1.năm căn thức thuộc căn môn (mắt,mũi,tai,lưỡi thân)theo vdp thì thuộc TÂM QUẢ VÔ NHÂN,còn năm căn thức+(Ý thức +mạt na thức+A lại da thức ),theo duy thức thì thuộc TÂM VƯƠNG

2.theo vdp (TÂM VƯƠNG) và 52 TÂM SỞ(các trạng thái tâm)theo định nghĩa thì :”Năm mươi hai trạng thái tâm đồng liên hợp với tâm vương, đồng phát sanh và đồng hoại diệt cùng tâm vương, đồng có một đối tượng và một căn cùng tâm vương”

3.nếu theo đn thì chúng ta hiểu không khi nào có tâm vương đứng độc lập cũng như không khi nào có tâm sở đứng độc lập, mà chúng phải”đồng phát sanh và đồng hoại diệt”

nếu như vậy(theo duy thức),phân chia 8 tâm vương đứng độc lập thì hiểu như thế nào,cũng như 5 căn thức(mắt,mũi,tai,lưỡi thân)theo vdp nó thuộc(TÂM QUẢ VÔ NHÂN),còn theo duy thức nó thuộc(TÂM VƯƠNG) thì cách gọi nào đúng

mq thấy thật khó hiểu,các quí đạo hữu có kiến giải gì về vấn đề này

Hoa Nguyen

Nếu so sánh Vi Diệu pháp và Duy Thức học sẽ thấy nhiều khác biệt, vậy tạm thời không nên “phân tâm” làm việc đó. Nhắc lại theo Vi Diệu pháp có 6 tâm : 1. Tâm Nhãn Thức (Cakkhuviññāṇa): là tâm nương nhãn vật, biết cảnh sắc, hình ảnh. Gồm có 2 tâm.

2. Tâm Nhĩ Thức (Sotaviññāṇa): là tâm nương nhĩ vật, biết cảnh thinh. Có tất cả là 2 tâm nhĩ thức.

3. Tâm Tỷ Thức (Ghānaviññāṇa): là tâm nương tỷ vật, biết cảnh khí (các mùi). Gồm có 2 tâm.

4. Tâm Thiệt Thức (Jivhāviññāṇa): là tâm nương thiệt vật, nhận biết cảnh vị (các vị cay, chua, mặn,…). Gồm có 2 tâm.

5. Tâm Thân Thức (Kāyaviññāṇa): là tâm nương thân vật, nhận thức cảnh xúc (sự va chạm, nóng, lạnh, …). Gồm có 2 tâm.

6. Tâm Ý Thức (Mana viññāṇa): là tâm bắt cảnh pháp, là cảnh trạng khởi lên trong tâm. Có tất cả 111 tâm (trừ ngũ song thức).

(Theo Tỳ kheo Giác Chánh)

Thuận Pháp Dhammiko

Trong Siêu Lý Học, Tỳ kheo Giác Chánh chia làm 6 loại tâm chứ không phải 6 tâm.Nếu so sánh với Luận Thành Duy Thức thì 6 loại tâm trong Siêu Lý Học tương ứng từ thức thứ nhất đến thức thứ 6. Còn không biết thức thứ 7 là Mạt-na và thức thứ 8 là A-lại-da trong Duy Thức không biết ở đâu ra??? Có thể đây là 2 pháp chế định chứ không phải chơn đế!

Hoa Nguyen

Manas dịch là Ý thì trong Pali cũng có nói tới. Theo Duy thức học, các Thức đều có “Căn” (là nơi thức nương tựa, hay sinh ra thức) , như nhãn thức có nhãn căn, nhĩ thức có nhĩ căn, vậy Ý thức (thức thứ 6) cũng phải có căn của nó và đó là Ý căn hay là Manas (phiên âm Hán Việt là Mạt na). Vậy Mạt na thức (Skt. manas-vijñāna) hiểu là Ý căn, và Duy thức học cho nó có tính chấp Alaya là ngã, cũng là nơi chứa các bản năng bẩm sinh (như bản năng sinh tồn). Alaya có lẽ là phần mở rộng hơn ý nghĩa của Tâm Hữu phần (tâm Hộ kiếp) của VDP, nhưng tôi không có tài liệu so sánh nhiều hơn. Trong DTH , Alaya biến thành thức và là nơi tàng chứa các chủng tử do nghiệp chuyển (từ kiếp trước) và do sinh tạo thêm khi hành nghiệp ở hiện kiếp. Theo Vi Diệu pháp hình như khi chết tâm Hữu phần sẽ chuyển kiếp; còn theo Duy thức học Mạt-na thức và Alaya thức sẽ còn lại sau khi sắc thân tan rã và được chuyển qua kiếp sau (cùng với một số chủng tử).

Hoa Nguyen

Thành thật luận thuộc về Kinh lượng bộ (Sautrāntika).1

Thức Alaya đã được nói tới, trong quan điểm của Kinh lượng bộ thời bộ phái, và có lẽ cũng trong vài bộ phái khác. Trích đoạn sau đây viết về Kinh lượng bộ (Sautrāntika). .

Về Kinh lượng bộ, tất cả các tư liệu đều thống nhất xem đây là một học phái sinh ra từ Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda). Các tư liệu Tây bắc cho rằng đây là học phái xuất hiện cuối cùng trong số các học phái cổ xưa, vào thế kỷ thứ 4 sau Phật diệt độ. Theo Paramārtha, người của học phái này truyền dạy rằng năm uẩn đều chuyển trú từ hiện hữu này đến hiện hữu khác, do đó, học phái này thừa nhận thẩm quyền của Kinh tạng nên cũng được gọi là “người tôn nhận Kinh” (Sautrāntika; Hán dịch: Kinh lượng bộ). Kinh lượng bộ cho rằng có một thức tinh vi hơn thức thông thường, từ đó đời sống con người sinh ra và chính thức đó sẽ tái sinh. So sánh với Độc Tử bộ (Vatsīputrīya) – là bộ phái cho rằng có một tự ngã thật sự, sống kiếp này qua kiếp khác – thì Kinh lượng bộ cho rằng, chỉ có thức là luân chuyển trong vòng sinh tử và với cái chết thì bốn uẩn còn lại (ngũ uẩn, sa. pañcaskandha) chìm lắng trong thức đó. Quan điểm về sự tồn tại của thức này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Duy thức tông (Vijñānavādin, Yogācāra).

Thuận Pháp Dhammiko

Thông tin của bác HN rất thú vị!

Như vậy Mạt na thức (Skt. manas-vijñāna) chỉ là Ý căn thôi, không phải tâm hay thức.

Còn Alaya thức theo DTH giải thích: 4. Ba thọ: Thức này chỉ có “Xả thọ”.  5. Ba cõi: Thức này tuỳ nghiệp lực dẫn sanh trong ba cõi.  6. Chín Địa:Trong chín địa đều có thức này.  7. Tâm sở: Thức này chỉ tương ưng với 5 món biến hành; song trong 5 thọ thì nó chỉ có “Xả thọ”.  8. Chín duyên: thức này chỉ có 4 duyên: a. Căn (Mạt ma), b. Cảnh (Căn thân, thế giới và chủng tử), c. Tác ý, d. Chủng tử.

Như vậy Alaya thức chính là Tâm suy đạt thọ xả (Santirāṇacitta) làm phận sự Hữu phần (Bhavanga) và phận sự tái sanh(Patisandhi) và chết(Cuti).

Minh Quang

chúng ta tạm thời bỏ qua cách gọi tên (qui ước)mà hãy nhìn sâu vào bản chất để xem những điều giống và khác chẳng hạn về tên gọi thì vdp gọi 5 căn thức (nhãn,nhĩ,tỉ,thiệt,thân) là(ngũ song thức) thuộc tâm quả vô nhân còn theo duy thức gọi 5 căn thức đó là(tiền ngũ thức )thuộc(tâm vương)

theo vdp 5 căn thức ( ngũ song thức) không thể độc lập mà phải bị chi phối bởi nghiệp (thiện,ác) quá khứ,cũng như chính các tâm sở”đồng phát sanh và đồng hoại diệt’với tâm

còn theo duy thức ,5 căn thức(tiền ngũ thức )không thấy nhắc đến các manh mối về các tâm sở”đồng phát sanh và đồng hoại diệt’với tâm,cũng như không thấy đề cập vấn đề nghiệp(thiện,ác)quá khứ

Hoa Nguyen

Chúng ta không thể bàn về Duy Thức học khi chưa không đọc nhiều, không thấy DTH nhắc tới gì là vì ở chỗ đó tác giả bài viết vắn tắt về DTH không nói tới.

Để thí dụ về v/d Duy Thức học ở trên , tôi trích đoạn giải thích sau đây của HT Thích Thiện Hoa về DTH :

“Chữ “TÂM” có nhiều nghĩa, nhưng tóm lại có 6 nghĩa:

1. Tập khởi: Chứa nhóm và phát khởi. Nghĩa này thuộc về thức thứ Tám (Tàng thức). Vì thức này có công năng “chứa nhóm” chủng tử của các pháp, rồi “phát khởi” ra hiện hành.

2. Tích tập: Chứa nhóm. Nghĩa này thuộc về bảy thức trước. Vì bảy thức trước có công năng “chứa nhóm” các pháp hiện hành để huân vào Tàng thức.

Trái lại, Bảy thức trước cũng có nghĩa “tập khởi” (chứa nhóm và phát khởi), vì bảy thức trước có công năng “chứa nhóm” các pháp hiện hành, để huân vào Tàng thức, “khởi thành” chủng tự.” (hết trích)

Chú ý câu viết :”Bảy thức trước cũng có nghĩa “tập khởi” (chứa nhóm và phát khởi) “. Ngũ thức (nhãn , nhĩ, tỷ, thiệt, thân) nằm trong “Bảy thức thức” (thêm ý thức, mạt-na) có công năng “chứa nhóm và phát khời”. Phát khởi là lấy những chủng tử có sẵn trong Tàng thức (Alaya) mà làm hiện hành. Những chủng tử ở trong Alaya đã có từ kiếp trước, hay có từ một quá khứ gần, sẽ có ảnh hưởng (tác động) đến ngũ thức trong hiện tại. Ghi chú thêm “Tâm” ởtrên là nói 8 Tâm vương, gồm 8 thức.

Hoa Nguyen

Nói thêm về vấn đề trên. Theo sách Duy Thức Học Nhập Môn do HT THÍCH THIỆN HOA dịch và lược giải, tám thức phát khởi bởi những Duyên, và trong những Duyên tạo ra mỗi thức đó đều có (duyên) chủng tử. Để so sánh thì “Duyên “(điều kiện tạo thành) trong Duy Thức học tương đương với “Nhân sanh” (Uppattahetu) là nguyên nhân làm phát sanh pháp hữu vi nóí trong Vi Diệu pháp. Còn chủng tử trong Duy thức học tương đương với “Tâm quả vô nhân” (Ahetukāvipākacitta) là những tâm thành tựu bởi những nhân thiện hay bất thiện đã gây ra trong kiếp quá khứ”. (Khác nhau chăng là DTH gọi là duyên và Vi Diệu pháp gọi là nhân)

Trích sách dẫn trên:

Tám thức và các duyên:

Nhãn thức, có 9 duyên: 1. Hư không, 2. Ánh sáng, 3. Căn, 4. Cảnh, 5. Tác ý, 6. Phân biệt y, 7. Nhiễm tịnh y, 8. Căn bản y, 9. Chủng tử.

Nhĩ thức, có 8 duyên: Các duyên cũng đồng như Nhãn thức trên, chỉ trừ ” ánh sáng”.

Ba thức: Tỹ, Thiệt và Thân, lại còn có 7 duyên: Các duyên đồng như Nhãn thức trên, chỉ bớt 2 duyên là Hư không và Ánh sáng.

Ý thức,có 5 duyên: 1. Căn, 2. Cảnh, 3. Tác ý, 4. Căn bản y, 5. Chủng tử.

Mạt na thức, có 3 duyên: 1. Căn cảnh, 2. Tác ý, 3. Chủng tử.

A lại da thức, có 3 duyên: 1. Căn (Mạt na), 2. Cảnh (thân căn, khí giới và chủng tử), 3. Tác ý, 4. Chủng tử.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s