– Ái Dục

THẢO LUẬN

Về Vấn Đề Đối Phó với Ái-Dục (Taṇhāchanda)

–oooOooo–

Phạm Doãn to Hiếu Nguyễn:

Bởi vì PD thấy anh Ronald Trương rất thật tình nhất là khi nói về những bất thiện pháp của mình, nên PLCĐ phải có những comment chân thật đáp lại tấm lòng của anh ấy! Tính Dục thuộc về Tham Dục lớn nhất của đời người, nhất là trong thời đại này! Tính Dục là bản năng cơ bản (the basic instinc) của mọi sinh vật. Người tu học, ai chiến thắng được ái-dục là đã bước rất gần đến sự thành công rồi! PD bây giờ vẫn còn những ám ảnh tính dục (dù đã nhiều lần mình nghĩ đã khuất phục nó rồi). Hiếu Nguyễn thì sao ? hì hì….:)

Hiếu Nguyễn

Con cũng vậy ạ, nhất là đang ở tuổi thanh niên nên nhu cầu và suy nghĩ về tình dục vẫn còn tồn đọng trong tâm trí.

Nhưng nếu so sánh với thời kỳ “viên dung vô ngại” khi theo Đại Thừa Mật Tông thì có thấy một sự tiến bộ, nhờ nhiều nhất là bằng pháp môn phòng hộ, bớt ăn uống và giữ giới, chứ không phải là “chuyển hóa năng lượng dục” hay “phiền não tức bồ đề” ạ. Cái đó cao quá, có vẻ không phù hợp.

Không những tham dục mà con còn thấy mình có những cái tham rất chi là nhỏ mọn như tham ăn, tham uống, ki bo, keo kiết mà ngày xưa mình cứ ngỡ là mình “ngon lành” rồi. Nhưng có nhịn ăn nhịn uống và chịu khó quan sát một tý mới biết, nó còn bầy hầy ra đó. Chưa vượt qua mấy cái này thì thiền với định chỉ là nói suông thôi ạ.

Phạm Doãn

Về vấn đề tình yêu, love, l’amour…thì chắc cũng phải nhờ đến sự phân tích và quan điểm của admin đẹp giai Nguyễn Viết Huy . Sở dĩ thế, vì PD đọc được nhiều status về chủ đề này trên FB wall của Huy!

Nguyễn Viết Huy

Dạ, haha, bác Phạm Doãn chuyền quả bóng cho cháu đẹp quá😀, thú thực là với kinh nghiệm của cháu thì vấn đề tình dục tình yêu ở đời thường thì chỉ dừng được ở mức quan sát nhân và quả của nó như thế nào, ví dụ ta si mê tình dục và tình yêu thì dẫn đến hậu quả là gì, khi thấy hậu quả của nó gây khổ thì ta thấy sợ và bớt dần, lần sau ham muốn nó trỗi dẫy thì tâm nhắc nhở là sẽ đi đến đâu và lại bớt dần, chứ nhiều khi dục nó chi phối mình ghê lắm đó bác, nhất là khi mình tiếp xúc với mỹ nữ hàng ngày.

Phạm Doãn

PD hàng ngày thường chỉ tiếp xúc với mấy cụ bà rên rỉ vì nhức mỏi xương khớp. Có thể nhìn những cơ thể tàn tạ này mà mình đâm ra chán đời, rồi mong cầu giải thoát chăng? Nếu được tiếp xúc với mỹ nữ hàng ngày như Huy thì biết đâu PD đã chẳng vào Pali Chuyên Đề để héo mòn với kinh điển Pali !!!😛

Nguyễn Viết Huy

Haha, tiếp xúc với mỹ nữ hàng ngày cháu mới thấm thía câu của Ngài Ajahn Chah: “Muốn là khổ, muốn mà không được lại càng khổ” bác ạ, cái Muốn ấy khổ lắm, nó chi phối và hành hạ mình, nếu thỏa mãn nó thì nó sẽ đi tìm cái khác, nếu không thỏa mãn nó thì nó bực bội khó chịu, cả hai đều gây khổ, thấy nó khổ quá thì cũng chán bác ạ😀

Cho nên điều kiện đầu tiên để hành Thiền là phải ly dục, không thì chỉ dẫn đến ức chế, cho nên trong đời sống hàng ngày cháu chỉ dám hành thiền đơn giản là quán chiếu cái tâm này, còn thiền định là bỏ hẳn, không ngồi chút nào luôn ạ🙂

Hiếu Nguyễn

BS Phạm Doãn ơi, chỉ có con người tự thiêu đốt, tự làm héo mòn bản thân vì quay cuồng trong tham dục chứ làm sao mà kinh điển làm héo mòn con người được ạ. Người sống theo Chánh Pháp thân tâm lúc nào cũng nhẹ nhàng, thanh thoát, được “tẩm ướt” từ trong ra ngoài với hỷ lạc thì cách nào mà “héo mòn” được đây hi hi.

Hạnh Trương

Tại sao không làm ngược lại Nguyễn Viết Huy nhỉ🙂

Nguyễn Viết Huy

Ý bác làm ngược lại là như thế nào ạ?

Hạnh Trương

Là ly cái đó và hành thiền định🙂

Nguyễn Viết Huy

hihi, vâng, khi nào đủ nhân duyên em sẽ làm thế bác ạ, hiện tại trong công việc và cuộc sống em chưa sắp xếp được như vậy, vì em làm về bên Giáo dục đào tạo, hàng ngày phải tiếp xúc với hàng nghìn người nên việc tiếp xúc với mỹ nữ là không tránh khỏi bác ạ.

Hạnh Trương

Khổ quá, khổ quá, hihi

Hiếu Nguyễn

Cùng là cư sỹ thì em hiểu được cảnh ngộ của anh Nguyễn Viết Huy, nhưng có khi nào chúng mình cứ đắm chìm mãi rồi hết veo 1 kiếp người. Rồi lại chui ra chui vào “yoni” không ta?

Người ham ăn mê ngủ

Nằm lăn lóc qua lại

Giống như heo mới ăn

Kẻ ngu mãi đầu thai…

Nguyễn Viết Huy

Sẽ đến lúc lên đường chứ em, nhưng trong lúc phiền não ở đời thường cũng là cái liều thuốc thử để xem ta quán chiếu đến đâu, những kỹ xảo như vậy cũng giúp ta khá nhiều sau này🙂

Hiếu Nguyễn

Vâng, đọc tới câu Pháp Cú đó nên em cảm thán thôi. Chúc anh sẽ có nghị lực và nhân duyên để lên đường nhé🙂

Phạm Doãn

Cuộc chiến chống lại “bản năng cơ bản” là một cuộc trường kỳ kháng chiến. Ác nữa là có cả du kích chiến! Đôi khi ta cảm thấy lòng đã nhẹ nhàng, thánh thiện, tự tin không sợ hãi. Bất ngờ! một nhan sắc nấp sẵn ở một góc khuất cuộc đời nào đó bỗng vụt ra…trực diện! Đoàng một phát! Thế là hết!

Nguyễn Viết Huy

Cháu nhớ không nhầm đã đọc ở đâu đó lời Đức Phật dạy là: “Không có hình bóng nào sâu sắc bằng hình ảnh người nam trong lòng người nữ, Không có hình bóng nào sâu sắc bằng hình ảnh người nữ trong lòng người nam”, thì phải!

Hạnh Trương

Cẩn thận Huy ơi🙂

Kinh Tăng Chi, phẩm một pháp, động từ là “xâm chiếm và ngự trị”…

Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.

  6. Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà. Tương tự cho thanh, hương, vị , xúc

Nguyễn Viết Huy

Vâng đấy em nhớ mang máng thôi mà, chuẩn chưa anh😀 May quá có bác trích dẫn.

Hạnh Trương

Nhớ mang máng là toi đó Huy🙂

Tính Nguyễn

Phạm Doãn. <<<<Cuộc chiến chống lại “bản năng cơ bản” là một cuộc trường kỳ kháng chiến. Ác nữa là có cả du kích chiến! Đôi khi ta cảm thấy lòng đã nhẹ nhàng, thánh thiện, tự tin không sợ hãi. Bất ngờ! một nhan sắc nấp sẵn ở một góc khuất cuộc đời nào đó bỗng vụt ra…trực diện! Đoàng một phát! Thế là hết!>>>>

Đoạn này làm con nhớ tới cái tivi ở phòng mạch của chú!😀

Hạnh Trương

..bất ngờ một .. hiện ra, dù chỉ thoáng qua, nhiều khi chỉ là 1 dáng hình… thế là …xong..

Làm sao giải quyết được vụ này nhỉ?

Trong sách của ngài Mahaboowa có kể câu chuyện tương tự như vậy…

Một lần, Sư Mun và một vị Sư đang tắm thì từ đằng xa thấp thoáng mấy cô thôn nữ đi tới. Lúc về thì Sư kia không thể nào lấy được trạng thái bình thường và cực kỳ xấu hổ, vì biết khả năng của Sư Mun là đọc được tâm của người khác.

Sau vài hôm dằn vặt như vậy thì một Sư bạn tới hỏi lý do, Sư kia giải thích, đại ý là chỉ mới thấy thoáng qua nhưng không thể nào kìm lòng.

Vị Sư bạn tới kể lại cho Sư Mun, ngài im lặng rồi lắc đầu “trường hợp này khó”

Sau đó các vị bố trí cho Sư kia trú ở chỗ khác, xa Sư Mun để bớt áp lực và xa địa điểm mà cô thôn nữ đang ở, một thời gian sau được tin, vị ấy đã hoàn tục. Số phận của họ đã dẫn họ tới với nhau, cô thôn nữ kia, vô cùng tình cờ, lại chuyển nhà tới làng mà vị Sư đang trú…Hiếu Nguyễn Vâng, em nhớ mãi chuyện đấy. Vị Sư đấy vì một cái nhìn mà xong phim luôn, đúng nghĩa là xong phim luôn. Chẳng biết phòng hộ cách nào nữa. Sư Mun là bậc A La Hán mà cũng đành lắc đầu.

Khoa Nguyen

Mình có vài gợi ý trong vấn đề này:

-Nếu là cư sĩ thì cố gắng tìm công việc liên quan đến kỹ thuật không phải tiếp xúc thường xuyên với nhiều người.

-Phải kiểm tra tư tưởng liên tục cả ngày (giữ giới luật)

-Cũng như trong cuốn Đức Phật và Phật Pháp, Chương 20: Sự báo ứng của Nghiệp, mình phải kiểm tra tư tưởng để khi nhìn thấy người … đẹp … dòng tư tưởng phải tạm thời ngưng lại không để chạy tiếp nữa.

-Thiền định để đạt Sơ Thiền bởi … ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất.

Mỗi người mỗi hoàn cảnh tùy theo môi trường, nghiệp quả, tùy theo sức của từng người dần dần vượt qua được việc này.

Đức Phật và Phật Pháp

(The Buddha and His Teachings)

Hòa thượng Narada, 1980

Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998

Chương 20: Sự báo ứng của Nghiệp

…Nếu không bị ngoại cảnh xâm nhập, như lúc ngủ say không mộng mị, thì những chập tư tưởng Bhavanga liên tục nối tiếp như dòng nước. Khi có một đối tượng xuất hiện – vật chất hay tinh thần – thí dụ như một hình sắc, thì luồng Bhavanga rung động trong hai chập tư tưởng, rồi tắt. Lúc luồng Bhavanga vừa tắt thì “ngũ môn hướng tâm” hay “ngũ khai môn” (pancadvaravajjana) phát sanh và hoại diệt. Tác động của tâm nầy là hướng về đối tượng, trong trường hợp nầy đối tượng là hình sắc. Tức thì, nhãn thức (cakkhu-vinnana) thấy đối tượng, nhưng chưa biết gì. Kế đó là “tiếp thọ tâm”, hay “tâm tiếp thâu” (sampaticchana). Tiếp theo là “suy đạc tâm” (santirana) quan sát, dò xét đối tượng. Rồi “xác định tâm” (votthapana) phân biệt, lựa chọn, thu nhận hay loại bỏ. Đến đây là vai trò của tự do ý trí. Do nơi chập tư tưởng quyết định, phát sanh tiến trình Javana, một giai đoạn tối quan trọng, vì chính ở giai đoạn nầy hành động thiện hay bất thiện biểu hiện. Chính Nghiệp được tạo nên trong giai đoạn nầy…..

Duc Phat & Phat Phap – 20

www.budsas.org

Đức Phật và Phật Pháp (The Buddha and His Teachings) Hòa thượng Narada, 1980 Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998

Hạnh Trương

Không dễ như vậy đâu Khoa Nguyen ơi, nhớ câu ” nghiệp là thửa ruộng, thức là hạt giống, ái là sự nhuận ướt”.

Nếu có nghiệp đủ mạnh, thì 1 cái nhìn ( nhãn thức) là đủ tiêu. Mà ai biết nghiệp mình có mạnh hay không khi vô lượng kiếp quá khứ đã qua, còn Ái thì chưa diệt tận?

Thich Nu Nguyen Huong

Mô Phật, NH xin chia sẻ một chút kinh nghiệm tu tập của mình về vấn đế làm thế nào vượt qua hình sắc của một người nam làm “xâm chiếm và chế ngự” trong tâm mình như vậy: Thứ nhất, dùng Trí tuệ Phật Pháp phân tích 2 mặt của 1 vấn đề, quán chiếu tính chất bất tịnh đang tồn tại trong thân và tâm của đối tượng đang hấp dẫn mình. Thứ hai, quán xét tính chất vô thường, sự khổ lụy và sự nguy hiểm do ái Dục đem đến. Thứ ba, biết tiết chế trong ăn uống, tránh không xem các loại phim ảnh có tính chất nhạy cảm về vấn đề này. Tập hành Thiền ngày 2 thời sáng tối, mỗi thời khoảng tối thiểu 30 phút; hằng ngày tập sống buông xả tất cả trong tâm, chánh niệm trong các oai nghi; nếu có thể tập trì chú Đại bi trong khi làm các công việc. Khi còn ở Việt Nam, NH vừa lái xe honda vừa trì chú Đại bi. mỗ Đừng tập có thói quen hay có hành vi liên lụy đến dâm dục, thay vào đó hàng ngày phải nên để thời gian nghiên cứu học hỏi Phật Pháp qua Kinh sách, giao lưu học hỏi với các bậc thiện hữu tri thức. Ý thức rằng mình sẽ chết bất đắc kỳ tử không biết lúc nào để dồn tâm sức vào công việc công phu tu tập. Trong quá khứ, NH. đã có một thời gian rất dài là ăn uống rất thiếu dinh dưỡng nhưng lại phải học và ghi nhớ rất nhiều những bài vỡ ở Trường. Chính tất cả những lý do trên đã giúp cho NH vượt qua không những hình ảnh sắc của một người nam ngự trị và xâm chiếm trong tâm mình, mà ngay cả những tạp niệm cũng calm dowm lắng xuống rất nhiều so với trước đây. Nói chung tất cả Pháp hành mà Đức Phật chỉ dạy trong kinh tạng Pali là nhằm thanh lọc thân tâm của mình từ chổ thô đưa đến tế. Phần này nhấn mạnh về phần TỰ ĐỘ!

Hạnh Trương

Ai coi Ái Dục là chuyện dễ trị cho dù với các pháp thiền quán, tuệ quán, phòng hộ…thì thật là nên cẩn thận. HT không nhớ trong Nikaya có đoạn nào, kể về vị đạo sỹ chứng 8 thiền, 5 thông, mà khi bay ngang qua phòng của Hoàng Hậu, VÔ TÌNH nhìn thấy thân hình kiều diễm của bà mà mất hết thần thông…
Còn kinh nghiệm của HT thì với Ái Dục thì cho thấy nó vô cùng nguy hiểm, dù sở đắc cực kỳ nhiều pháp đặc biệt để đối trị, nhưng tới một giai đoạn nào đó thì đúng như trong kinh đã viết, sẽ xuất hiện những chuyện mà nó tương ưng với nghiệp, nó nện 1 cái là “lên đường”. Lúc đó chỉ có nhờ cậy vào sự bảo hộ của các thiện pháp đã có và đang có thì mới không “chìm xuồng”. Viết xong mà còn sởn gai ốc đấy các vị ạ.

Hiếu Nguyễn Chủ đề này chỉ mới có các cư sỹ và Sư Cô Nguyên Hương mạnh dạn tham gia. Các Sư có chia sẻ gì không ạ.

Phạm Doãn Có ai đã xem phim hay đọc tác phẩm văn học “Tiếng Chim Hót trong bụi Mân Gai” chưa ạ! Cuốn này viết về chủ đề “nhạy cảm” của tòa Thánh đó ạ!

Phạm Doãn Không biết văn học Pali có chỗ nào nói đến chuyện lúc Đức Phật ngay trước khi giác ngộ thì bị một bầy vũ nữ xinh đẹp uốn éo quấy rầy! Bên Đại Thừa thi hay nhắc đến tích này! Chiến thắng gọi là cuối cùng, chỉ khi nào ta đã chiến thắng hoàn toàn cái bản năng tồn sinh cơ bản (basic instinc)!

Hạnh Trương

Nói thêm, các pháp quán Bất Tịnh chỉ có giá trị ngăn ngừa, chứ cái gốc nó nằm ở thọ lạc. Mà lạc do dục thì là lạc đệ nhất trong các lạc thế gian. Cái nguy hiểm nó là ở chỗ ấy.
Trong kinh có mô tả nhiều về cái này, tất nhiên là các pháp quán, các ví dụ trong kinh đều có tác dụng ngăn ngừa, nhưng có những nghiệp rất kinh khủng.
Câu hỏi của Hiếu, nếu nó xâm chiếm và ngự trị thì anh thừa tool để giải quyết, vấn đề là nó đẩy mình đi trong lúc mình hoàn toàn tỉnh táo, nó không có gì thôi thúc cả, nó hoàn toàn bình thường, nhưng nó đẩy mình tới “cái chết” một cách rất đẹp, rất nhẹ nhàng.. như làn gió thoảng qua vậy…hehe.
Đáng sợ là ở chỗ đó

Phạm Doãn

Nikoskazanzakis, triết gia nhà văn Hy Lạp nổi tiếng, cũng cho rằng cái ám ảnh dữ dội trước khi Jesus chết (hoặc ngất) trên cây thập giá là những hình ảnh ám ảnh về tính dục. – – Tác phẩm văn học này đã chuyển thể thành phim: “The last temptation of Christ”. Tuy nhiên giáo hội Công Giáo không cho phép tín đồ xem phim này!
– Như vậy, hầu như mọi người cũng đều cho rằng bản năng tính dục là cái ghê gớm và mạnh mẽ nhất để níu kéo các vị Thầy trở lại trần gian!

Khoa Nguyen Tác phẩm thì có đọc rồi, thực tế bên ngoài khi các linh mục mặc đồ thường rất đẹp trai và phong độ, làm sao nữ con chiên cầm lòng được Nhưng các ngài chắc cũng có cách phòng hộ.

Thich Nu Nguyen Huong Có lẽ do nghiệp tánh của mỗi người gieo nhân trong nhiều đời quá khứ khác nhau chăng?! Trong bộ luận Thanh Tịnh có đề cập đến con người có 6 căn tánh. Có người nhẹ nghiệp Ái, nhưng nặng nghiệp Sân; có người có Tuệ mạnh nhưng Tín lại ít…Riêng bản thân NH thì nhận thấy mình có nhẹ nghiệp Ái nhưng còn nặng các nghiệp còn lại như Sân, Si… NH. nhớ lại khi mình chỉ mới 15 tuổi vào Chùa, suốt cả một thời gian dài 3 năm đầu và lâu hơn thế nữa, chẳng thấy mình nhớ nhà, ba mẹ gì cả!

Hạnh Trương

Theo HT, căn tánh là khác, nghiệp là khác đó cô Thich Nu Nguyen Huong ạ, nghiệp ở đây nó như quả bom nổ chậm chỉ chờ hai điều kiện là nổ. Thứ nhất là có thông tin phù hợp với nó (kết quả của THỨC) thứ nhì là ÁI vẫn còn.

Ví dụ hiện tại cô không thấy mê một chàng nào, nhưng trong quá khứ cô đã có một nghiệp = ước muốn mãnh liệt mà chưa được thỏa mãn với một người nào đó, thì cái tướng của người đó đã được ghi lại trong tâm cô, và cái ước muốn đó, cái lòng mong mỏi đó nó sẵn sàng capture quyền điều khiển hành vi của cô khi nó gặp được thông tin nó cần. Nghĩa là người đó, hoặc hình dáng giống cái thông tin quá khứ đó , hoặc âm thanh… được cô nhận thức được, thì nghiệp sẽ được kích hoạt, trong cô sẽ có sự thôi thúc, sẽ có ước muốn …sẽ có sự dẫn dắt tới việc hoàn tất ý nguyện đã được “lập trình” từ quá khứ. Và khi đó thì có trời mới biết chuyện gì sẽ xảy ra. Lúc đó chỉ có thiện nghiệp và giới luật may ra mới cứu thoát (cô đã xuất gia thì có giới phòng hộ)
Ví dụ thôi cô nhé, hihi
Những action nhỏ, lặp đi lặp lại, những nghiệp nhỏ như vậy, được lặp đi lặp lại, và trong hiện tại, được trả đi trả lại thì có thể tạm gọi là căn tánh.
Chúng ta đã sống vô lượng kiếp -> đã tạo vô lượng nghiệp-> có thể chịu n quả xấu kiếp này và các kiếp sau-> chỉ còn cách là “diệt tận ái” , chính là “người dệt cửi” và là nhân của khổ.
HT có gì sai xin cô và các đạo hữu sửa giùm.

Hạnh Trương

Không biết có nên trao đổi tiếp đề tài này ở dạng open không, quả thực có nhiều chuyện không nên để những ai không có ý định giữ gìn phạm hạnh đọc tới. Nó sẽ thành trò đùa cho họ, làm cản trở sự tiến bộ tâm linh cho họ về sau.

Phạm Doãn PD đề nghị khép đề tài tế nhị này lại, dù sự thực đây là chủ đề cực kỳ quan trọng – là vấn đề sinh tử của những người tu tập! Ai có muốn tìm hiểu sâu hơn thì nên trao đổi riêng!

Hoa Nguyen Tôi thấy HT khi lấy người khác ra làm thú dụ về cách hiểu nghiệp của mình là một xúc phạm. Vấn đề có thể bàn trên tầm mức nhận thức khách quan, nhưng chính người bàn làm vấn đề khó tiếp tục theo cách như thế.

Karmalaw Net cá nhân KN nghiên cứu Áii Dục theo khía cạnh khoa phân tâm học và Đông Y. Kn thấy có 1 cách trị rất hay như…thuốc, là uống thuốc Bắc. Một số cây cỏ thuộc Âm, khi ăn vào sẽ làm kìm hãm khả năng tính dục đồng thời giúp tinh thần sảng khoái ra. Chỉ là 1 ngoài lề cho những ai thích cái “hiệu quả tức thời”.

Nguyễn Viết Huy Hihi, Ái Dục thì có rất nhiều điều hay và cháu học được ở cuộc đời, nếm trải đủ cả Và vô cùng thông cảm với những ai dính phải, chẳng có gì để cười kể cả khi mình có giữ hay không giữ giới, vì đó là đối thủ lớn nhất và tài năng nhất, mình phải nên tôn trọng và hiểu rõ về ái dục hơn nữa.

Nói thêm, quán bất tịnh không phải là quán trực tiếp trên đối tượng quan sát, quán trên đối tượng quan sát thì có mà gục luôn tại trận, đúng như anhHạnh Trương nói, cái thức nó từ quá khứ nó xẹt ra luôn và hạ luôn tại trận, quán bất tịnh phải quán ở chỗ khác, trên đối tượng khác, không phải đối tượng ái dục
Xin trao đổi vấn đề này thêm ở mail group ạ .

Rama Bhik

Tình bạn, tình yêu phát sinh do ba nguyên nhân:
1.Pubbeva sannivāsa:
-Do kiếp trước từng là vợ chồng, hay có quan hệ thân hữu với nhau. Nên có thể chỉ gặp lần đầu liền phát sinh ” tiếng sét ái tình”. Hoặc có nhiều người mới gặp liền có cảm giác thân thiện như là như anh em, hay cảm giác như gặp lại con ruột của mình.
2.Patthanā kamma:
-Sau khi hoàn thành xong một Thiện phước người ấy có thể phát nguyện như vầy : ” Do oai lực của phước báu này hãy cho con lấy được người con gái như vầy…” Chính vì lẽ này mà một số người con gái xinh đẹp giàu có vẫn bị ép gã cho những người xấu xa không có đức hạnh.
Do đó để thắng oai lực của lời nguyện này người con gái đó phải có một lời nguyện ngược lại.Sau khi làm xong một Thiện phước nào đó, mình có thể nguyện:” Cho đến ngày đoạn trừ mọi ô nhiễm ác pháp, chứng đạo Thánh quả Niết Bàn, do nhờ oai lực của Phước Thiện này hãy dẫn dắt con luôn được thân cận với các bậc hiền trí, các bậc Thiện trí thức có giới hạnh”.
3.Paccuppannahita:
-Do lợi ích trong kiếp sống này. Một người con gái khi nhìn thấy người con trai có học vấn, có gia sản lớn có thể đảm bảo cho gia đình trong tương lai thì nàng liền phát sinh tình cảm.
Hoặc người con trai khi nhìn thấy người con gái xinh đẹp nhu mì và cảm thấy hứa hẹn hạnh phúc trong tương lai thì tình cảm cũng phát sinh.
(Dịch theo ý từ Pāra-Aṭṭha-1-35 và Sutta-Aṭṭha-2-247)

Rama Bhik

Liệu người cư sĩ tại gia, vừa có đời sống gia đình mà cũng có thể tu hành giác ngộ theo Phật Giáo không?
Được. Nhưng với điều kiện người đó phải biết pháp hành Thiền Minh Sát ( Vipassana).Chúng ta phải biết rằng tâm ái nhiễm (Kāmachanda) của con người thì phải đến tầng giác ngộ thứ ba( Anāgāmi) mới diệt được. Ngay cả những vị chứng ngộ bậc thánh đầu tiên ( Sotāpatti) thì tâm ái nhiễm giữa nam nữ vẫn còn. Trường hợp như nàng Visākha, lúc 7 tuổi nàng đã chứng ngộ bậc Thánh đầu tiên, chấm dứt vĩnh viễn tái sinh vào bốn đường khổ cảnh. Nhưng đến tuổi nàng cũng đã lấy chồng và sinh đến 12 người con.

Thich Nu Nguyen Huong Mô Phật, chào chú HT. có lẽ chúng ta nên dựa vào một chút định nghĩa về Nghiệp để làm rõ nội dung mà NH muốn nói ở đây nhé?! Nghiệp là hành vi tạo tác của thân, khẩu và ý,( ở đây mình tạm coi nó như là Nhân trong quá khứ), còn từ căn tánh hay cá tánh mà trong luận Thanh Tịnh Đạo đề cập, từ này được dùng như là quả của Nghiệp, thành quả của hành động tạo tác do mình lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá khứ để tạo nên cá tánh hay căn tánh của mình đời nay. Như đời nay, mình có cá tánh Tham ái nhiều hay sân nhiều…đó là quả do quá khứ mình đã tạo ra trong quá khứ! Nói tóm lại, đề tài này không có gì quá khó, nếu chúng ta bám sát quy luật Nhân Qủa mà phân tích chi li thì có làm rõ vấn đề, chỉ rất tiếc chúng ta không có quá nhiều thì giờ để bàn thảo tiếp mà thôi!

Nguyễn Viết Huy to Rama Bhik: Có thể đưa tư liệu lịch sử về nàng Visakha như bạn nói được không ạ ? Nếu có thật như vậy thì rất thú vị !

Thich Nu Nguyen Huong Có lẽ Phật thấy đời sống của cư sĩ khó tránh được điều này, nên chi Ngài chỉ Ngài chế Cư Sĩ Phật tử chỉ nên sống phạm hạnh, một vợ một chồng là tốt. Còn giới xuất gia có đời sống viễn ly thế tục hơn cư sĩ nên vấn đề trên người xuất gia dễ vượt qua hơn giới cư sĩ! Vị nào đồng ý thì click “like” vào đây nhé?!

Thich Nu Nguyen Huong Theo Pali tạng, thì cư sĩ tại gia độc thân nổ lực tu có thể chứng tới quả thứ 3 trong tứ quả Thanh Văn. Còn như cư sĩ có gia đình, vợ con thì khác à! Nếu vị này nổ lực tu có thể chứng đến tầng quả thứ 2 trong Tứ quả Thanh Văn mà thôi!

Thich Nu Nguyen Huong Còn vấn đề tri kiến giác ngộ hay giải thoát thì có nhiều cấp độ khác nhau, như: tri kiến giác ngộ và giải thoát của vị chứng sơ quả có khác với vị chứng Nhị quả, khác với một tiều Bồ tát, một Đại Bồ tát, hay một vị Phật!

Thich Nu Nguyen Huong Và ngay cả tri kiến giác ngộ và giải thoát của 6 vị Tổ Trung Hoa cũng khác về mức độ về tri kiến giác ngộ và giải thoát của đức Phật Thích Ca, theo sử liệu!

Thich Nu Nguyen Huong Không phải như thế đâu Rama Bhik! Theo kinh tạng Pali thì người chứng Sơ quả chỉ mới bước vào dòng Thánh, ở cấp độ này vị ấy còn phải luân hồi hay tái sanh đến 7 lần nữa mới chứng A LA HÁN, tức không còn luân hồi.

Thich Nu Nguyen Huong Qúy vị trong đây có ai biết đến đức Dalai Lama thứ 14 hay không? Vì thấy cảnh dân chúng Tây Tạng muốn tự do tu trên quê hương mình mà bị Trung Cộng đàn áp.. nên có một lần NH. biết trên mạng, Ngài đã phát nguyện kiếp tới tái sanh trở lại trên đất nước Tây Tạng để tiếp tục đấu tranh ôn hòa bảo vệ dân chúng Tây Tạng được sống tu tập theo con đường của Phật Thích Ca. Như thế, theo kinh tạng Pali, khi một người có mặt tại thế gian này phải đủ 3 yếu tố, một trong 3 yếu tố đó là chủng tử thức phải khởi tâm ái mới gá vào được bào thai. Qúy vị thấy đó, đại bi tâm của Ngài đã lấn át cái nỗi sợ khổ sanh tử như bao nhiêu người đã có tâm tâm niệm niệm muốn tu là để đừng có luân hồi nữa, khổ lắm!

Hoa Nguyen Thời Phật, dường như cư sĩ không được học thiền định, và lý tưởng/mong cầu của họ là được sinh Thiên (bằng cách tu giữ Thập thiện). Truyền thống đó vẫn tồn tại trong Phật giáo Nam truyền (?). Nhưng ở Phật giáo Bắc tông, giới cư sĩ sau này trở nên quan trọng hơn, trong vai trò bảo tồn và truyền bá Phật pháp, họ cũng có cơ hội đọc nhiều kinh Phật, và do đó có cư sĩ như Duy Ma Cật (ở Ấn) là bồ tát (nhưng kinh Duy Ma cật bị nghi ngờ không phải kinh thật).
Thiền định, nhất là Tứ thiền (không nói Tứ niệm xứ) đòi hỏi phải Ly Dục, và triền cái phải vượt qua đầu tiên là Tham dục. Nếu còn trong vòng tham dục, sắc dục, ái dục chắc là không thể chứng đắc bậc thiền cao. Trong thời còn đạo Bà la môn, nhiều đạo sư dạy thiền vẫn có vợ con ( ngày nay Ấn giáo cũng vậy, đạo sư thường có gia đình). Có phải giới của Phật giáo đòi hỏi cao quá không. Như tôi có nhận xét, lời Phật dạy về giữ giới, cách tu trì trong kinh Pali phần nhiều (chắc 90%) là dành cho giới xuất gia.

Thich Nu Nguyen Huong Nếu ý của Rama Bhik được nói như trên thì đúng!

Thich Nu Nguyen Huong Đúng như vậy đó chú Hoa Nguyen! Học Phật phải biết open mind mới dễ dàng thu thập những tinh hoa quý báu đã chứa đựng trong hai hệ kinh điển, đó là: hệ Pali và hệ Sanskrit.

Hoa Nguyen PD:”rằng bản năng tính dục là cái ghê gớm và mạnh mẽ nhất để níu kéo …” con người trở lại với đời sống của sinh vật bình thường, hay còn tệ hơn. Công giáo bỏ ra hàng tỷ đô để bồi thường cho trẻ con bị lạm dụng (bởi hàng giáo phẩm). Phật giáo ở VN thì nhiều người biết, và ở Nhật, Hàn có tân tăng. Đời sống văn minh vật chất càng khuyến khích, lôi cuốn, trợ giúp con người ham mê tính dục nhiều hơn. Là vấn đề lớn của thời hiện đại (và của tôn giáo).

AO Trang Nguoi Sư Rama ơi; Có thể ghi ra tieng Pali lời ước nguyện này? ::” Cho đến ngày đoạn trừ mọi ô nhiễm ác pháp, chứng đạo Thánh quả Niết Bàn, do nhờ oai lực của Phước Thiện này hãy dẫn dắt con luôn được thân cận với các bậc hiền trí, các bậc Thiện trí thức có giới hạnh”.
Thanks Sư

Thien Nguyen Ba Dạ, kính thưa Sư Cô Thich Nu Nguyen Huong!

Theo sự tư duy của “riêng” con về chuyện những cư sĩ tại gia hiện tại có gia đình vợ và con “thật sự” như con đây thì không thể chứng được sơ quả hay sơ thiền nói gì đến chứng được tầng thiền thứ 2 trong Tứ Quả (không tính đến những vị cư sĩ tại gia có gia đình vợ và con nhưng hiện tại sống giống như người “độc thân”, có thân hành, khẩu hành, ý hành như những vị xuất gia).

Tuy rằng con không biết về trạng thái của sơ thiền, nhị thiền,… thật sự như thế nào, nhưng con đọc trong kinh rằng: “Sơ thiền là ly dục, ly bất thiện pháp”. Những người cư sĩ tại gia có gia đình vợ và con “thật sự” như con đây chưa ly được “dục”, bất thiện pháp; vì vậy không thể chứng được tầng thiền thứ nhất của Tứ thánh quả.

Mong Sư Cô và quý vị góp ý cho con thêm!

Thúy An Kính thưa các vị đạo hữu cùng các quý sư. Con nhận thấy vấn đề đạo quả của người cư sĩ tại gia là rất quan trọng, nó định hướng cho đích đến, và sự lựa chọn giữ những giới luật, pháp hành nào.
Con chưa nghiên cứu được nhiều kinh điển Pali nhưng có đọc được bài viết này về quả vị của người cư sĩ, rằng người cư sĩ thậm chí có thể chứng đến quả A la hán.
http://www.budsas.org/uni/u-cusi/csgp01.htm
Không biết nài viết này có chính xác không, mong mọi người chỉ dạy thêm ạ.

Cu si gioi phap – Ty khuu Giac Gioi

www.budsas.org

Trong Phật giáo có bốn hội chúng (parisā) là hội chúng tỳ kheo (bhik…See More

Hiếu Nguyễn Về việc cư sĩ thì nếu mọi người đọc Đại Phẩm sẽ thấy, Đức Phật sẽ dạy một cách tuần tự có thứ lớp: “Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly.”

Thường sau khi được giảng tới đây, các vị được nghe (là những vị xuất sắc nhất trong cõi người) sẽ có hiện tượng:
“Khi đức Thế Tôn biết được [người này] có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến [người này]: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Và sau đó vị ấy xin được tu lên bậc trên, rồi đắc quả A-La-Hán.
Ở đầu Đại Phẩm, sau khi mô tả sự chứng đắc của Đức Thế Tôn, chúng ta cũng sẽ thấy rõ ngài đã ngần ngại không muốn giảng Giáo Pháp vì nó quá thâm sâu, nhưng nhờ vị trời xuống năn nỉ nên Đức Thế Tôn đã quyết định sẽ giảng cho những vị có tâm đã sẵn sàng nhất.
Một số kết luận:

(1) Vì đời sống ở thế gian của Đức Phật có hạn nên sự giảng dạy của ngài phần nhiều phải tập trung vào tinh anh nhất (cũng là tầng lớp sẵn sàng xuất gia – tu sĩ), do đó kinh tạng Pali ít đề cập đến cư sỹ là việc hiển nhiên.

(2) Đức Thế Tôn vẫn luôn khẳng định là tu sỹ thuận lợi hơn cư sỹ nhiều trong việc tu tập – điểm này chắc chúng ta không cần phải bàn cãi, quá rõ ràng.

(3) Pháp của Đức Thế Tôn là tuần tự, thứ lớp. Thường thì người nghe (cư sỹ) chỉ khoái và có khả năng đến cõi trời, nên có lẽ Đức Thế Tôn dừng ở đó, còn “sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly” dành cho những vị sẵn sàng vượt qua dục của cõi trời, sẵn sàng xuất gia.

(4) Cư sĩ tới thời điểm thích hợp vẫn được giảng giáo pháp thích hợp chứ không có sự kỳ thị. Ví dụ như ông Cấp Cô Độc trước khi chết mới được ngài Xá Lợi Phất giảng cho một bài pháp cực hay, nghe xong ông cảm thán: tại sao hàng áo trắng không được nghe những bài pháp như vậy? Câu trả lời có thể là: vì không đúng thời, không có lợi ích nên không giảng. Đức Phật luôn nhấn mạnh là ngài không hề che giấu Giáo Pháp, chỉ có điều không phù hợp, không được lợi ích thì ngài sẽ không nói.

Thich Nu Nguyen Huong: như Sư Cô thấy vài điểm con phân tích thì có thể nói tạng Pali về vấn đề cư sỹ thì khá là thống nhất và hoàn chỉnh.
Con xin phép được mạnh dạn nói là: Đức Phật không thỏa hiệp với các dục, nên nếu anh không ly dục, tôi chỉ dạy cho anh thế thôi. Có khi nào đời sau: vẫn muốn dục, vẫn muốn chứng quả, nên cư sỹ vấn sống đời cư sỹ vẩn đục, không trắng bạch như vỏ ốc, mà vẫn ham chứng thiền định.
Nếu có gì sai sót, xin mọi người cứ góp ý ạ.

Nguyễn Viết Huy Bạn Hiếu Nguyễn nói quá đúng! cảm ơn bạn !

Hiếu Nguyễn Dạ cám ơn anh ạ.

Hoa Nguyen

Thiên Nguyen Ba (nói là đọc trong kinh): “Sơ thiền là ly dục, ly bất thiện pháp”. Tôi đọc thấy Phật dạy trước khi ngồi tập Sơ thiền phải ly dục, ly ác pháp, như là sự chuẩn bị cho hành Thiền. Không thể đến với thiền với tâm đầy tham dục, sân hận. Nhưng cái ly dục và bất thiện pháp này còn ở mức thô, trên bề mặt nông cạn, và khi bắt đầu ngồi thiền là thấy có thể cả 5 triền cái bủa vây, ngăn cản, trong đó có dục, ở mức sâu hay vi tế hơn (mà có thể lúc đầu tâm chưa an tịnh chưa nhận ra). Cần mất thời gian vượt qua 5 triền cái này để vào cận định và vào sơ thiền (thời gian dài ngắn tùy công phu tu tập). Lúc đó đúng Sơ thiền là ly dục, ly bất thiện pháp. Kinh cũng nói do ly dục, ly bất thiện pháp mà có được hỷ, lạc ở Sơ thiền. Vậy điều sáng tỏ là Sơ thiền giúp ly dục, ly ác pháp. Suốt thời gian trong định Sơ thiền thì tâm ly dục trở nên thanh tịnh nhưng nếu không khéo giữ để triền cái nào (như dục) xuất hiện thì có thể mất định. Khi xuất định có thể trong một thời gian tâm vẫn giữ được sự thanh tịnh tương tự khi trong định, nhưng dần dần sẽ mất, và hành giả sẽ bị bủa vây bởi các triền cái, như dục. Tuy vậy mỗi lần vào được định là tâm được “thanh tẩy” khỏi các bất thiện pháp, cho nên tâm tham dục, bất thiện cũng giảm dần. Đó là ý nghĩa của tu và ích lợi của thiền định. Không thể tưởng phải chờ cho đến khi tâm ly (hết) dục mới nên tập Thiền, vì không có cách nào để ly hết dục ngọai trừ thiền định (ít ra vào Sơ thiền). Nói phải ly được dục, bất thiện pháp mới tập sơ thiền, là nói ngược, vì lúc đó tập sơ thiền làm gì (có thể vào được nhị thiền nếu tâm đã ly dục, có hỷ lạc của sơ thiền).

Hạnh Trương “Nói phải ly được dục, bất thiện pháp mới tập sơ thiền, là nói ngược”. Anh nói ngược kinh rồi

Hiếu Nguyễn Con nghĩ đây là mấu chốt của vấn đề, ai cũng nghĩ là “Thiền để ly dục”.

Thực ra con nghĩ ly dục là công việc của giữ giới, phòng hộ, độc cư, ngăn trừ bất thiện pháp. Chúng ta không “đoạn trừ”, “diệt” mà chỉ mới ly thôi (tránh xa).
Chính vì thế các vị nhập định khi chưa ly dục hoàn toàn, bằng nhiều phương tiện, nhập được vào, rồi bị “văng ra”.

Chú nói đoạn này “vì lúc đó tập sơ thiền làm gì” , con thấy vì khi đó dục mới LY chứ nó vẫn còn ạ, mình còn phải nhiều việc phải làm với nó – đó chính là công việc của các bậc thiền, để đoạn trừ phiền não vi tế, dục vi tế.

Hoa Nguyen Tôi vẫn nghĩ ở các bậc thiền thấp, cư sĩ bình thường có thể và nên tu tập để giúp tâm thêm thanh tịnh, tăng cường định lực dùng cho các pháp Quán của Phật giáo. Có chú giải ghi: chứng được thiền thứ nhất gọi là Tu đà hoàn (Nhập hay Dự lưu), sẽ phải tái sanh cõi người 7 lần nữa. Tôi chép lại thế thôi (không hẳn là tin vậy). Thường các sách thiền cho chứng được từ Sơ tới Tứ thiền thì sinh vào vài cõi Thiên thuộc sắc giới .
Nhưng để chứng đắc các bậc thiền cao hơn thì phải dành nhiều thời gian chuyên tu, cả giữ nghiêm nhặt giới. Cho nên chỉ những cư sĩ độc thân, quyết tâm và chí hướng cao mới có thể làm.

Hiếu Nguyễn Tại sao khi các cư sĩ muốn chứng thiền, mà lại không chấp nhận sự thật là mình phải ly các dục, trong khi mục đích tối hậu vẫn là không bị dục chi phối ạ? Phải chăng ở đây vẫn bị tham chi phối?

Nguyễn Viết Huy

Sơ Thiền không phải là quả Tu Đà Hoàn đâu bác Hoa Nguyen, không có chú giải nào ghi vậy cả, chắc chắn là như thế.
Ly dục và ly bất thiện pháp là điều kiện cần để vào sơ thiền, nhưng không là điều kiện đủ, điều kiện đủ là tâm có:
– Có tầm, hướng tâm hướng đến đề mục đối với thiền định là hơi thở
– Có tứ, luôn giữ tâm dán chặt trên đề mục một cách liên tục
– Nhờ có tầm, có tứ, có giới, có ly dục mà có Hỷ, Lạc, trạng thái tâm nhẹ nhàng, thanh thản, hài lòng và hạnh phúc, tâm có định, không có tham dục, không có sân, không bị buồn ngủ, không có nghi ngờ và bất an, suy nghĩ lăng xăng tạm thời vắng lặng.
Sơ Thiền có sơ đồ như sau :
Ly dục, ly bất thiện pháp —> Tầm, Tứ –> Hỷ,Lạc và nhất tâm.

Hoa Nguyen Tôi copy lại “chú giải” đó từ một bài viết trên Thư viện Hoa Sen, nhưng không bàn thêm. Chuyện “tầm tứ” là thừa (ngoài phần dùng trả lời anh TNB).

“Vị nào chứng Thiền thứ nhất gọi là Tu Đà Hoàn, hành giả đạt qủa Tu Đà Hoàn là bước vào dòng suối chảy đến Niết Bàn ở bước khởi đầu.
Người chứng Thiền thứ nhất, nếu chưa đạt được qủa vị thứ hai, sẽ còn phải tái sinh lại cõi người bảy lần nữa mới đạt tới quả Niết Bàn; nhưng các vị này đã tạo được tâm tin Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) vững chắc, nên không còn bị tái sinh vào các cõi dữ (Ngạ quỷ, Súc sinh, Địa ngục) nữa.”.

Nguyễn Viết Huy Chuyện tầm tứ là quan trọng nhất đó bác, ly dục và ly bất thiện pháp mà vào được sơ thiền ngay thì quả là vĩ đại.
Chú giải của bác sưu tầm chắc chỉ là ý kiến riêng của ai đó, không nằm trong các hệ thống kinh điển Pali và chú giải Pali được công nhận.

Hoa Nguyen HT :”Anh nói ngược kinh rồi “.
Anh Hạnh Trương biết rõ là tôi nói ngược lời dạy của TL Thông Lạc.

Hoa Nguyen Với anh Hiếu. Tôi đồng ý với câu nói của anh Thien NB:” “Sơ thiền là ly dục, ly bất thiện pháp”. Chế ngự 5 triền cái ở Sơ Thiền là ly dục, ly bất thiện pháp (nhưng không phải “ly” được hết lậu hoặc).
Khi chưa vào Sơ Thiền, chưa chế ngự được 5 triền cái, thì chưa gọi được là ly dục.

Nguyễn Viết Huy Trời bác Hoa Nguyen ơi, ly dục rồi mới vào Sơ Thiền đó bác ạ. Còn 5 triền cái kia nhờ đắc Sơ Thiền mà tạm thời lắng xuống.

Hoa Nguyen Tôi không hiểu về Sơ thiền như anh Huy. Trong 5 triền cái có Tham dục (đứng đầu). Phải khắc phục, chế ngự được triền cái Dục mới vào Sơ Thiền.

Nguyễn Viết Huy Cái này bác đọc lại Thanh Tịnh Đạo và các Kinh điển Pali chứ không phải ý của cháu.

Thien Nguyen Ba DN: 02 Sa Môn Quả

“74. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc. Này Ðại vương, cũng như không mắc nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn, này Ðại vương, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi diệt trừ chúng.

75. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ.”
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong02.htm

Hoa Nguyen Sao anh Huy không trích thử Thanh Tịnh đạo, và kinh Pali. Khi phản biện phải kèm theo chứng cứ, sao lại bảo người ta phải đi tìm. Có đáng để bàn tiếp với anh không.

Nguyễn Viết Huy Đấy bác Thien Nguyen Ba đã trích dẫn ở trên rồi kia ạ: “Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ”

Mà bác Hoa Nguyen sân ghê thế, thôi cháu không dám bàn tiếp nữa, bác nên hành Pháp thực sự chứ cứ đọc sách rồi nói suông thế ngại lắm

Phạm Doãn Đọc comment của Sư Rama:”…Chúng ta phải biết rằng tâm ái nhiễm (Kāmachanda) của con người thì phải đến tầng giác ngộ thứ ba (Anāgāmi) mới diệt được. Ngay cả những vị chứng ngộ bậc thánh đầu tiên ( Sotāpatti) thì tâm ái nhiễm giữa nam nữ vẫn còn…”

Hoa Nguyen

Thật không đáng để bàn những chuyện tào lao. Nhưng đây là câu viết của anh Huy :”ly dục rồi mới vào Sơ Thiền đó bác ạ. Còn 5 triền cái kia nhờ đắc Sơ Thiền mà tạm thời lắng xuống”.
Tôi bảo trong 5 triền cái đó có Dục, vậy ly dục là chế ngự được 5 triền cái, nghĩa là phải đi trước nhập định Sơ thiền. Câu kinh dẫn trên càng rõ hơn: ” Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất”.
Tôi viết ở trên:”Trong 5 triền cái có Tham dục (đứng đầu). Phải khắc phục, chế ngự được triền cái Dục mới vào Sơ Thiền”.
Nhưng anh Thiên BN nói ” Sơ thiền là ly dục, ly ác pháp” tôi thấy cũng đúng, chỉ khác cách nói. Với người tu thiền không phải lấy hỷ lạc làm mục đích tối hậu (ở Sơ thiền), mà nhắm vào ly dục, ly ác pháp. Giữ được định lâu dài thì thời gian ly dục, ly ác pháp càng được lâu hơn , và giúp cho công năng “bào mỏng” dục, ác pháp của thiền.

Hoa Nguyen Hiếu Nguyễn:”Tại sao khi các cư sĩ muốn chứng thiền, mà lại không chấp nhận sự thật là mình phải ly các dục,”.
Tôi không thấy ai (cư sĩ nào) ở vào trường hợp như thế. Nhưng ly dục nghĩa là thế nào? Cắt bỏ hay rời bỏ tham dục tới mức nào ?
Hy vọng các góp ý của tôi làm sáng tỏ cái ý là nếu muốn vào Sơ thiền (bậc thấp nhất) phải ly dục, ly bất thiện pháp. Nhưng vẫn là chưa ly dục, ly ác pháp hết được, phải tiếp tục theo nhiều tầng thiền cao hơn.

Hạnh Trương Ối giời ơi, đang nói cái dâm dục, lại chạy vèo qua dục ( của dục giới, ngũ dục) thế này, chỉ tại cái vụ tiếng Việt đây , hihi
Xin các admin chuyển luồng giùm đi ạ.

Hoa Nguyen Nhưng đừng xoá sạch như nhiều lần trước. Vì dâm dục cũng nằm trong tham dục, ái dục, sắc dục…

Hạnh Trương Chuyển thôi ạ, chứ không xóa ạ

Thich Nu Nguyen Huong Thiết nghĩ: nếu mỗi thành viên PLCD có cuốn tự điển Phật Học Pali-Việt bên cạnh mình thì đỡ mất thời gian rất nhiều cho chúng ta trong khi bàn thảo và chia sẻ kinh nghiệm tu tập ở đây biết mấy! Ví dụ: định nghĩa thế nào là Nghiệp, thế nào là Sơ Thiền, Sơ Qủa, 5 triền cái, 5 thiền chi… Nếu như trong chúng ta không bị kẹt các danh từ Phật học như trên thì vấn đề bàn thảo ở đây sẽ đi đến kết thúc rất là nhanh!

Thich Nu Nguyen Huong Mô Phật, chào chú Thien Nguyen Ba! Không biết chú đã dựa vào sử liệu hay kinh nào mà cho là Tứ quả Thanh Văn (Sơ quả hay Tu Đà Hoàn, Nhị quả hay Tư Đà Hàm, Tam quả hay A na hàm, Tứ quả hay A la hán) là tương ứng với 4 thiền ( Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền) vậy?Nếu chú biết được sử liệu đó, thì cho NH. biết đích thực từ đâu nhé?!

Thich Nu Nguyen Huong

(Trả lời chú Thien Nguyen Ba): Căn cứ theo Pali tạng, thì cư sĩ đang sống với vợ con như chú vẫn có thể chứng được Sơ quả, Nhị Qủa, nếu chú có đủ các yếu tố như sau: Nếu 1 vị chứng sơ quả thì vị ấy có đức tin kiên cố vào Ba ngôi Tam Bảo:1. đó là đức Phật là bậc đã giác ngộ và giải thoát mọi khổ đau, là vị có muôn hạnh lành; 2, Pháp, giáo Pháp của đức Phật có khả năng đưa người hành giả tu tập đạt được giải thoát an lạc, chấm dứt khổ đau sanh tử; 3, Tăng, là các bậc tu hành thanh tịnh có khả năng làm gương mẫu cũng như hướng dẫn cho hàng hậu học bắt chước noi theo con đường của đức Phật. Và Giac ngộ được giáo lý Tứ Diệu Đế. Điển hình như trường hợp vua Tịnh Phạn, trước khi lìa đời, vua được đức Phật thuyết giảng cho giáo lý Tứ Diệu Đế, khi nghe xong vua Tịnh Phạn khởi lòng tịnh tín đối với 3 ngôi Tam Bảo, giác ngộ giáo lý vô thường, khổ, vô ngã những giáo lý này đều gói trong Giao lý Tứ diệu đế. NH. vì lâu quá có đọc đâu đó trong kinh tang Pali, là vua Tinh Phan chúng Sơ quả Tu đà hoàn hoặc Nhị quả Tư đà hàm gì đó!

Hạnh Trương Sao cô TNNH lại hạn chế bạn đó trong nhị quả thế, tiến lên thánh quả cuối cùng đi chứ, hihi

Thich Nu Nguyen Huong Còn Qủa Tu đà hoàn, thì tiêu chuẩn phải có được như một vị Tư đà hàm và cộng tham mức độ làm muội lược hay giảm thiều tham, sân và si; cứ như thế tăng mức độ làm muội lược hơn nữa cho vị chứngA na hàm; cò vị chứng A la hán quả phải diệt tận 5 Thượng phần kiết sử và 5 hạ phần kiết sử (xin quý vị xem giải thích danh từ Phật học này trong tự điển Pali-Việt)!

Thien Nguyen Ba DN 29. Kinh Thanh tịnh

“Này Cunda, có bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây vị Tỷ-kheo, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ðó là hỷ lạc thứ nhất. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ðó là hỷ lạc thứ hai. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả … chứng và trú Thiền thứ ba… Ðó là hỷ lạc thứ ba. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ … chứng và trú Thiền thứ tư … Ðó là hỷ lạc thứ tư. Này Cunda, bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các vị Sa-môn Thích tử đang sống đam mê bốn loại hỷ lạc này”. Họ cần phải được trả lời: “Nói như vậy là phải; các ông nói như vậy là nói đúng đắn. Nói như vậy là các ông không xuyên tạc, đúng sự thật, và thực có”.

25. Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê theo bốn loại hỷ lạc ấy có thể mong đợi kết quả gì, lợi ích gì?” Ðược nói vậy, phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê bốn loại hỷ lạc ấy, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn sự lợi ích.

Thế nào là bốn? Này Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, được nhập vào dòng Thánh, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ. Ðó là kết quả thứ nhất. Lại nữa này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, làm muội lược tham, sân, si, chứng bậc Nhật lai, chỉ còn trở lại đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau. Ðó là kết quả thứ hai, lợi ích thứ hai. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh ở tại chỗ ấy mà nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Như vậy là kết quả thứ ba, lợi ích thứ ba. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ các lậu hoặc, tự mình chứng tri, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Như vậy là kết quả thứ tư. Này Hiền giả, vị nào sống đam mê bốn loại hỷ lạc này, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn lợi ích như vậy”.”
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong29.htm
Nếu có hiểu sai, mong Sư Cô chỉ bảo ạ!

Thich Nu Nguyen Huong

Trả lời chú Hanh Trương: Muốn chứng A la hán quả, điều tối thiều ắt phải có là phải sống đời viễn ly, xa gia đình vợ con và phải tu cho đạt đến tiêu chuẩn là đoạn trừ 5 Hạ phần kiết sử và 5 Thượng phần kiết sử! Chú có khả năng thuyết phục cho chú TNB.lìa bỏ gia đình hay không ạ?!

Thich Nu Nguyen Huong

Trả lời chú Thien Nguyen Ba: đoạn văn trên muốn nói (lưu ý chữ “có thể” mà không phải việc đã rồi) là Vị Tỳ kheo đắc các tầng thiền lại cộng thêm yếu tố diệt trừ Ba kiết sử…Như thế, chúng ta nên hiểu 4 thiền là các yếu tố thuận duyên hay trợ duyên đắc lực thêm cho một vị chứng Sơ quả cho đến Tứ quả với điều kiện phải làm muội lược tham, sân, si, và phải đoạn trừ các kiết sử nữa. Chú có còn nhớ trong Sử liệu Phật giáo, có nói đến 2 vị Thầy Bà la môn, chứng đến tầng thiền thứ 8 hay 9 . Tuy nhiên, đức Phật đã rời bỏ 2 vị Thầy này ra đi! Sau khi chứng ngộ, đức Phật, trở lại chỗ cũ trước đây để tìm 2 vị Thầy này, nhưng 2 vị này đã qua đời. Đức Phật, đã rất tiếc vì không nói cho 2 vị này Bài pháp Tứ Đế. Nếu 2 vị này nghe được bài giảng đó, chắc chứng liền quả A la hán. 2 vị Thầy này, Phật xem như là cái cây đã được phơi rất khô ( ví cho các tầng thiền), chỉ thiếu một yếu tố duyên lửa (Trí tuệ Phật Pháp ở đây chỉ cho giáo lý Tứ diệu đế) mà thôi. Do đó, 2 vị Thầy đó có thể sanh lên các cõi trời Vô Sắc giới, do tu định Vô sắc, chứ chưa nhập được vào Cõi Niết Bàn! Chỉ A la hán mới có khả năng nhập Niết Bàn, không còn tái sanh. Trong khi 2 vị Thầy đó, còn luân hồi tái sanh vào cõi trời Vô Sắc ấy vậy!

Hạnh Trương Cô có thể dẫn đoạn kinh nào quy định là phải xa gia đình vợ con không ạ?

Thich Nu Nguyen Huong Không nhớ rõ đoạn đó nằm trong bài kinh nào, nhưng chắc chắn là có trong kinh tạng Pali mà không phải ở luận, hay luật và cũng không phải trong kinh tạng thuộc Phạn tạng. Vì trước đây, khi viết luận án Tiến sĩ về Thiền, NH. có đọc qua các bài kinh thuộc tạng Pali.và bắt gặp đoạn kinh nói về điều đó!

Thich Nu Nguyen Huong Trả lời chú Hanh Trương: chú có thể gọi điện hỏi Sư Indacanda là thời đức Phật, có một vị cư sĩ nào đang sống đời sống tại gia cư sĩ với vợ con mà chứng A la hán quả hay không nhé?!

Hạnh Trương

Thich Nu Nguyen Huong : <<Chú có còn nhớ trong Sử liệu Phật giáo, có nói đến 2 vị Thầy Bà la môn, chứng đến tầng thiền thứ 8 hay 9 . Tuy nhiên, đức Phật đã rời bỏ 2 vị Thầy này ra đi! Sau khi chứng ngộ, đức Phật, trở lại chỗ cũ trước đây để tìm 2 vị Thầy này, nhưng 2 vị này đã qua đời.>>
Cô đọc kỹ lại xem hai vị Thầy của Phật đã chứng thiền gì, 7, 8, hay 9 và (2) “Phật có trở lại chỗ cũ trước đây” như cô nói hay không.

Để thuận tiện cho cô đọc lại, đây là cái link:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung85.htm
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung85.htm

85. Kinh Bo de vuong tu

www.budsas.org

Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản …See More

Hạnh Trương Sao cô lại lôi Sư vào đây làm gì ạ, tội nghiệp Sư, để cho Sư nghỉ ngơi, vấn đề của cô, cô hãy tự giải quyết chứ ạ.

Hạnh Trương HT chỉ làm đúng những gì Phật để lại trước khi nhập Niết Bàn, ai nói gì HT cũng phải kiểm tra lại trong kinh, trong luật xem có đúng không, nếu đúng thì HT hoan hỷ, tán thán, vậy thôi ạ.

Đào Trọng Trác Không biết bài này có đúng cái mà đạo hữu Hạnh Trương đang cần không ạh :
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung26.htm

26. Kinh Thanh cau

www.budsas.org

Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản …See More

Hạnh Trương À, cái này cần cho cô Thich Nu Nguyen Huong, cảm ơn đạo hữu Đào Trọng Trác

Thich Nu Nguyen Huong Trả lời chú Hanh Truong: Hãy đợi khi nào Sư khỏe thì hỏi cũng cho chú thêm phần đính chính về điều trên, thế thôi!

Thich Nu Nguyen Huong Trả lời chú Hanh Trương: Ở đây, không đủ thời gian để trích dẫn từng câu y trong kinh. Học ở đây, cốt nắm ý và hiều vấn đề! Đàm thoại ở đây, không phải như tiêu chuẩn phải có như đệ trình một luận án Tiến Sĩ là phải đòi hỏi nhất cử nhất động đều phải trích dẫn sử liệu có gốc gác, ai dịch? Bản dịch đó, người dịch đó có uy tín hay không…!

Hạnh Trương

Cô có muốn biết tại sao HT lại hỏi cô như vậy không? vì khẳng định của cô mâu thuẫn với căn bản của giáo pháp.
Đó là Bát Chánh Đạo là con đường dẫn tới các thánh quả, ở đâu có sự thực hành bát chánh đạo, ở đó có thánh quả, chứ thánh quả không phụ thuộc vào việc tại gia hay xuất gia cô ạ.
Điều thứ nhỉ, một vị xuất gia như cô nên phải thấy mâu thuẫn, đó là trong Milanda có đoạn giải thích về việc tại sao một vị nếu chứng quả A-La-Hán thì cùng trong ngày đó, vị ấy phải xuất gia. Cô có thấy “việc xuất gia là điều kiện tối thiểu” để chứng quả A-La-Hán như cô khẳng định ở trên không ạ?
Việc xuất gia, cho dù là một nền tảng thuận lợi nhất nhưng không phải là điều kiện tối thiểu, cũng chẳng phải là điều kiện bắt buộc (để chứng các quả thánh)

Hạnh Trương

<<Học ở đây, cốt nắm ý và hiều vấn đề! Đàm thoại ở đây, không phải như tiêu chuẩn phải có như đệ trình một luận án Tiến Sĩ là phải đòi hỏi nhất cử nhất động đều phải trích dẫn sử liệu có gốc gác, ai dịch? Bản dịch đó, người dịch đó có uy tín hay không…!>>
Vậy là không ổn đâu cô ạ, ở PLCD, nói gì liên quan tới Giáo Pháp thì nên có dẫn chứng, nếu nói đó là trong kinh, là Phật nói, còn không thì nên nói là ý riêng của tôi.
Không ai bắt chúng ta nhất cử nhất động phải trích dẫn gốc gác cả, nhưng việc trích dẫn khi được hỏi là cần thiết để chính chúng ta không trở thành những người tùy tiện và đôi khi thành xuyên tạc giáo Pháp của Phật Thích Ca.
HT chia sẻ những điều này nhằm lợi lạc cho những người đang đọc những comment của cô, và giảm bớt tác hại của những ý sai lệch mà cô đưa ra. Với tinh thần đó mong cô bỏ qua những phiền lòng nếu có.
Chúc cô sớm thành tựu trên con đường mình đã chọn.

Thich Nu Nguyen Huong Trả lời chú Hạnh Trương: Nếu chú muốn biết rõ Tên ai trong hai vị Thầy đó chứng Thiền thứ tám và người kia chứng tầng thiền thứ 9 thì đợi khi nào NH có thời gian sẽ tra cứu lại trên mạng đã nhé! Vì hiện giờ NH.đang ở Mỹ, tất cả kinh điển Pali VÀ tài liệu, sử liệu Phật giáo đang để ở Việt Nam cả rồi. Bây giờ, tất cả sự học đã đi qua, hiện nay trên đầu NH. quyên hết lời, chỉ nhớ nội dung. Mong chú thông cảm nhiều!

Hạnh Trương Vâng ạ, cảm ơn cô đã trả lời, cô không cần bận lòng với mấy chỗ đó nữa đâu ạ, cô cứ tiếp tục làm phật sự của cô đi ạ.

Thich Nu Nguyen Huong Trả lời chú Hanh Truong: Có lẽ vì chú Hanh Truong chưa đã thông tư tưởng Phật học, nên chú Thấy comments của NH. có mâu thuẫn như chú đã nói ở trên. NH. mong rẳng sau 20 năm không ngừng tu học giáo Pháp, chú sẽ thấy những điều NH. comments ở trên không có mâu thuẫn tí nào! Trước đây, NH. còn thấy có rất nhiều điều mâu thuẫn trong Kinh, Luật Và Luận. Nhưng bây giờ, cái Nghi về giáo Pháp không còn nữa, bây giờ đốivới NH. cứ như thế mà cố gắng thực hành không còn thắc mắc nghi ngờ như cách đây 10 năm nữa! N.H. cầu chúc chú thân tâm thường Hỷ-lạc trong giáo Pháp của đức Phật Thích Ca!

Hạnh Trương Vâng, cảm ơn cô lần nữa, mong cô bình an

Hiếu Nguyễn

Con có một ý nhỏ này, muốn chân thành chia sẻ với chú Hoa Nguyen và Sư Cô Thich Nu Nguyen Huong.
Con có background xuất phát từ Mahayana rồi sau này mới biết đến kinh điển Nikaya (nhưng con xin phép không tự nhận mình là Nam Bắc Tông gì đâu). Sau khi biết đến kinh điển Nikaya, càng đọc, nghiền ngẫm con càng thấy sự tỉ mẩn, chi tiết và trí tuệ tuyệt với của Đức Phật.
Theo con phải nghiên cứu lời Phật rất kỹ, tới từng cái prefix của 1 từ Pali. Con biết là ngôn ngữ đôi lúc chưa chuyển tải được hết ý của người nói, nhưng ít ra mình cũng ráng đi hết cái ý của từ Pali đó. Sau đó mình áp dụng trong thực hành để hiểu từng tí một lời của ngài.
Nếu các vị để ý kỹ, trong bài kinh MN10 (hiện giờ hay được gọi là bài kinh Tứ Niệm Xứ), cách dùng ngôn từ vi diệu vô cùng, từng chữ một đều quan trọng.
Các pháp hành hiện tại bỏ qua rất nhiều chi tiết mà kinh tạng Pali LẶP ĐI LẶP LẠI:

VD: Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”. Mọi người không để ý chữ tuệ tri, hầu hết cứ “theo dõi hơi thở”. Mọi người cũng không để ý cụm từ trong ngoặc. Đức Phật dạy rõ lả các ông phải tuệ tri “Tôi thở vô dài” -> chứ không phải là theo dõi hơi thở, cũng không phải chỉ là “tuệ tri hơi thở”.
Đây chỉ là 1 ví dụ nhỏ nhưng con xin nhắc lại với mọi người vài điểm tối quan trọng sau:

(1) Kinh Tạng Pali có thể nói là gần nhất (nhưng chắc chắn là không thể chính xác hoàn toàn) lời Phật dạy.

(2) Những điều sai sót có thể do chủ nghĩa phe nhóm nhằm mục đích lợi dưỡng (vd: làm Luật đơn giản đi, nới Luật ra, đề cao chi tiết này, chi tiết kia), nhưng những pháp hành lớn, những điều được lặp lại không biết là bao nhiêu lần (như ly dục ly bất thiện pháp -> chứng trú Sơ thiền, giới luật, hộ trì căn, có niệm, tỉnh giác, tuệ tri, tưởng tri…) thì con nghĩ rất khó để sửa hết một loạt – sẽ sơ hở ngay lập tức chứ ạ.

(3) Biết được đây (những pháp học, pháp hành cơ bản) là đúng Đức Phật đã dạy, thì mình phải không phụ lòng lời giảng hết sức tỉ mỉ của Đức Thế Tôn bằng cách học tập theo đúng chi tiết, trình tự, và khi trích dẫn không được “nhớ mang máng” vì đúng là SAI MỘT LI THÌ ĐI MỘT DẶM. Nếu mình trích dẫn mơ hồ, nhớ mang máng là mình DÙNG TƯỞNG mất tiêu rồi, mà tưởng thì dễ sai lắm ạ.

(4) Tại sao mình lại không làm theo lời dạy của ngài, khi mà ngài nói, đây là trình tự A, B, C, D… Thậm chí ngài dạy rõ là Vị Tỳ Khưu thành tự A, tới gặp ngài mới chỉ tiếp B…

Con xin kết luận ý tóm tắt là: kinh tạng Pali chứa đầy chìa khóa quan trọng, nên chúng ta cần trân trọng từng chữ một trong quá trình trích dẫn, cũng như khi tu học không nên chủ quan mà vì “TƯỞNG” nên tự thay thế pháp môn đức Phật đã chỉ dạy rất kỹ ạ.

Hoa Nguyen @ Hiếu Nguyễn:

Anh có 4 ý và viết khá dài, tôi khó trả lời lại cho đủ hết, nên cứ tuỳ tiện viết vài điều.
Việc anh tìm hiểu và tâm đắc với kinh tạng Pali là nhân duyên tốt anh có được, và cứ giữ gìn như thế. Nhưng không phải người khác cũng ở trường hợp của anh, nên những gì anh nói ở trên thì họ đọc hiểu được anh, nhưng không chắc là họ nghĩ như anh. Và tôi tin anh không lấy cố ý lấy mình ra làm nhân chứng cho điều gì ở đây (như nhiều người làm vậy mỗi khi nói về mình), vì mỗi người đến với đạo Phật do nhân duyên, ước vọng và căn cơ khác nhau. Tôi chưa biết gì nhiều về sư cô TN Nguyên Hương, nhưng đọc pháp hiệu thì biết sư cô xuất thân gốc từ Bắc tông, và thấy tiểu sử sơ lược ghi là đã học ở Ấn Độ có bằng tiến sĩ Phật học thì biết thêm sư cô đã từng đọc hiểu kinh tạng Pali và Sanskrit tới mức sâu xa. Cho nên phần anh giới thiệu về kinh Pali ở trên là không cần thiết cho người anh đang đối thoại (tuy có thể cần cho những người đọc khác).
Cách anh hiểu vế Tứ Niệm xứ là của riêng anh, hoặc tự anh tìm hiểu hay do vị thày nào giảng, nhưng người khác như tôi có thể không hiểu như anh. Kinh này trong Pali và Sanskrit gần giống hệt nhau, ở Bắc tông cũng nhiều người đọc, tu tập. Nhưng nhiều người đọc và tập TNX theo kinh dịch cũng không hiểu TNX theo cách hiểu của người tập thiền Minh Sát, không biết anh hiểu có giống họ không. Điều anh nhấn mạnh là “tuệ tri” (hơi thở) thì tôi hiểu đơn giản là (thở với) chánh niệm tỉnh giác.

@ Xin thưa với ni cô TN Nguyên Hương. Về đắc Sơ Thiền thì coi như được bước vào dòng Thánh (Dự Lưu) là do tôi (không phải anh Thiên BN) viết lên, tôi ghi theo một chú giải sau bài viết trên TVHS. Nhưng tôi cũng viết rõ ở ngay cmt đó: “Tôi chép lại thế thôi (không hẳn là tin vậy). Thường các sách thiền cho chứng được từ Sơ tới Tứ thiền thì sinh vào vài cõi Thiên thuộc sắc giới” .

Tất nhiên không thể hiểu đơn giản khi vào được Sơ Thiền (hay vài chục lần như thế) là sinh lên cõi Trời và được quả Dự Lưu. Nhưng tôi hiểu phải tu tập suốt đời, nhất là cho đến khi sắp chết phải đang trong trạng thái Sơ Thiền (đây là viết theo lời kinh sách). Và tôi có thể hiểu ý người chú giải như thế này: Đắc Sơ Thiền là ly được dục, ly được nhiều bất thiện pháp, kể tối thiểu là ly được tham dục, sân, hôn trầm, trạo cử, nghi (5 triền cái). Như vậy đã có được các thiện pháp là vô tham dục, vô sân, vô si (do ly nghi ), tỉnh giác, nhất tâm…Và như thế có phải đủ điều kiện để được là Dự Lưu không (Chú thích riêng: Anh Karma Net có lần nêu hỏi câu hỏi tương tự, nhưng không thấy ai trả lời).

Nguyễn Viết Huy

Kính bác Hoa Nguyen: Trong Tam Tạng gồm Kinh, Luật, Luận, phần về Kinh thì cháu chưa tìm thấy đoạn nói về Sơ Thiền có phải là chứng quả Dự Lưu không, nhưng về phần Luận thì cháu có tìm thấy trong Thanh Tịnh Đạo và đặc biệt trong sách của Ngài Mahàsi, Ngài chính là một trong hai vị chủ tọa của kỳ kết tập kinh điển lần thứ 6 vào năm 1954 tại Miến Điện.

Cháu xin trích dẫn quả Dự Lưu được đạt tới như sau:
Sau khi hành thiền định để đắc định tối thiểu là Sơ Thiền đối với các hành giả đi con đường Thiền Định rồi hành Thiền Quán, hoặc sát na định đối với hành giả hành Thiền Quán thông thường, hành giả sẽ bước vào hành Thiền Minh Sát Tuệ và phát triển các tuệ giác, từ tuệ giác đầu tiên là Tuệ phân biệt danh sắc cho đến tuệ giác thứ 17 là Tuệ duyệt xét, hành giả đạt Đạo và Quả, Quả vị đầu tiên được ngài Mahasi mô tả như sau:

“Trong khi hành giả gia công thực hành ghi nhận, tuệ minh sát sẽ dần dần tăng trưởng và sẽ sớm đạt đến giai đoạn Xả Hành trở lại. Nếu tâm định của hành giả chưa đến mức độ toàn hảo, chỉ có Tuệ Xả Hành liên tiếp phát sanh trở đi trở lại. Nhưng nếu tâm định của hành giả đã đạt đến mức toàn hảo thì, trong trường hợp vị hành giả minh sát thực hành ghi nhận với quyết định chỉ nhằm thành đạt Đạo và Quả đầu tiên thì chỉ có tâm Quả của Tu Đà Huờn Đạo tiến đến trạng thái chấm dứt các pháp hữu vi bằng cách chứng Quả [46]. Sự chứng ngộ nầy xảy diễn chính xác giống hệt như tâm Đạo và tâm Quả đã phát sanh trước kia, khi hành giả lần đầu tiên chứng đắc Tu Đà Huờn Đạo. Chỉ có sự khác biệt duy nhất là lần nầy khả năng chứng nghiệm Quả vị kéo dài hơn.

Đến đây hành giả phải lập tâm nhất quyết gia công vững tiến thêm: có thể lặp đi lặp lại nhiều lần sự chứng Quả, thành tựu nhanh chóng, và khi đã thành tựu, ẩn náu trong Quả vị ấy lâu dài, thí dụ 6, 10, 15, hoặc 30 phút, một giờ hoặc lâu hơn nữa.

Khi vị hành giả cố gắng chứng Quả như vậy thì Tuệ Sanh Diệt sẽ phát sanh trước tiên. Tuần tự vững tiến trong chiều hướng nầy hành giả sớm đạt đến Tuệ Xả Hành. Nhưng nếu công trình thực hành đã đạt đến mức độ thuần thục thì Tuệ Xả Hành sẽ phát sanh một cách nhanh chóng, chỉ sau bốn hay năm chặp tư tưởng ghi nhận. Nếu định lực của hành giả đã đến mức toàn hảo, tâm Quả sẽ liên tiếp rơi nhập vào trạng thái chấm dứt, bằng cách chứng Quả. Dầu trong khi đi kinh hành hoặc đang thọ trai, tâm của hành giả cũng có thể nhập vào trạng thái nầy và Quả vị thành tựu có thể kéo dài bao lâu tùy mình quyết định. Trong khi chứng nghiệm Quả vị, tâm sẽ chỉ an trú trong sự chấm dứt các pháp hữu vi, và sẽ không hay biết gì khác.”

Nguyễn Viết Huy

Bác Hoa Nguyen có thể tìm hiểu ở link tham khảo về đạo lộ đạt Đạo và Quả ở đây ạ : http://www.budsas.org/uni/u-ngan/gdtms-vn.htm
Từ Sơ Thiền cho đến quả Dự Lưu là một khoảng cách khá xa.

Giai doan tien trien TMS – Viet

www.budsas.org

Đã nhận thấy ba đặc tướng vô thường, khổ, vô ngã, một lần, hoặc nhiều lầ…See More

Phạm Doãn

Anh Hoa Nguyen : “Đắc Sơ Thiền là ly được dục, ly được nhiều bất thiện pháp, kể tối thiểu là ly được tham dục, sân, hôn trầm, trạo cử, nghi (5 triền cái). Như vậy đã có được các thiện pháp là vô tham dục, vô sân, vô si (do ly nghi ), tỉnh giác, nhất tâm…Và như thế có phải đủ điều kiện để được là Dự Lưu không?”
Góp ý:
– Năm TRIỀN CÁI (nivaranā) là các ngăn trở đối với các Bậc thiền
– Còn mười KIẾT SỬ (Samyojana) mới là chuẩn của các Bậc Thánh (khi diệt được nó)

Như vậy diệt được 5 triền cái chỉ đủ để nhập các bậc Thiền.
Còn phải lần lượt diệt được mười kiết sử, mới tuần tự nhập vào được các bậc Thánh.
(Có những kiết sử cũng là triền cái)

Liệt kê 10 Kiết sử:
Năm hạ phần kết sử:
– Thân Kiến, Nghi, Giới cấm thủ, Dục Tham, Sân
Năm thượng phần kiết sử
– Sắc ái, Vô sắc ái, Mạn, Trạo cử, Vô minh

Nguyễn Viết Huy 17 giai đoạn phát triển của Tuệ Minh Sát cháu gửi link ở trên cũng được Ngài Mahasi mô tả đã diệt được 10 kiểt sử như bác Phạm Doãn viết đấy ạ. Do vậy chứng quả Dự Lưu, về mặt định lượng thật tuyệt vời ! Sadhu !

Hoa Nguyen Phạm Doãn : Liệt kê 10 Kiết sử:
Năm hạ phần kết sử:
– Thân Kiến, Nghi, Giới cấm thủ, Dục Tham, Sân
Năm thượng phần kiết sử
– Sắc ái, Vô sắc ái, Mạn, Trạo cử, Vô minh
Như vậy so với Ly Dục, ly bất thiện pháp của Sơ Thiền, thì 10 kiết sử có thêm “thân kiến, mạn” (do chấp ngã), và Giới cấm thủ (giữ các giới sai lạc, của ngoại đạo). Tôi chưa tra cứu lại, nhưng chấp nhận ngay giải thích trên cùa anh PD. Vì “vô ngã” là điều kiện phải có của người tu theo Phật, chưa nói là chứng quả Thánh. Tất nhiên cũng phải từ bỏ các Giới cấm thủ. Tôi thoáng đọc và biết anh PD cũng tu tập thiền An Chỉ, nên chia sẻ thêm với anh. Tu An Chỉ quả thật giúp bào mòn dần Dục và nhiều bất thiện pháp, thanh tịnh được tâm, không phải chỉ để chứng đắc Sơ thiền, vì :
(ly dục+ly ác pháp) -> Sơ thiền -> (Tâm trong Định với vô dục, vô ác pháp).
Vấn đề là phải ở được trong định lâu và nhiều công phu tu tập. Tất nhiên càng lên tầng thiền cao càng tốt hơn.

Hiếu Nguyễn Chú Hoa Nguyen: cám ơn chú đã trả lời rất chi tiết. Vâng nhân duyên với kinh tạng Pali của con làm con hết sức hoan hỉ, không phải là dễ ở trong thời đại khủng hoảng “thừa” pháp môn này mà mình có thể gầy dựng lòng tin sâu sắc vào con đường mình đã chọn, không bị nhìn ngang ngó dọc.

Riêng về MN10 con nghĩ là nếu chỉ là chánh niệm tỉnh giác về hơi thở thì các diễn đạt về Pali sẽ là “có niệm về hơi thở” chứ không phải mất công thế kia. Nhưng điểm này con xin phép ngưng ở đây vì đã là pháp hành phải được “trải nghiệm” nhiều lần và có thành tựu thì mới có cái nhìn sâu sắc ạ. Con cũng tôn trọng luôn việc 2 người nhìn vào 1 sự việc, mỗi người có thể rút ra một kết luận quý báu hữu ích dành riêng cho người đó, và không nhất thiết phải giống nhau.

Về vấn đề bằng cấp Phật Giáo thì con nghĩ đã là thảo luận thì nên công bằng. Mình không nên “tưởng tri” về bằng cấp và số năm nghiên cứu Phật giáo ạ. Con chỉ mong là khi đã thảo luận về kinh tạng thì cần trích dẫn chính xác, như là một sự tôn kính Giáo Pháp của Đức Thế Tôn, một chữ cái sai sót cũng có thể khiến người đọc hiểu sai ý ban đầu (VD: trú xứ không tịch so với không tịnh là khác nhau 1 trời một vực). Tuy hơi mất công nhưng thực tế cũng lợi lạc ngay cả cho người trích dẫn, vì họ sẽ có cơ hội kiểm tra lại kiến thức của mình.

Hoa Nguyen @Anh Phạm Doãn.

Các kiết sử “Sắc ái, vô sắc ái, và vô minh” trên tôi để ở phần tồn nghi. Vì nếu diệt trừ được “vô minh” thì phải đi xa hơn Dự Lưu. Sắc ái và vô sắc ái cũng vậy. Đoạn anh Thiên NB trích từ kinh “Thanh Tịnh” rất đáng quan tâm, nhưng cũng hơi ngờ trong khi chờ xác nhận từ một kinh hay nguồn khác (đọc kinh nên dè dặt vì vài điều có thể là do “hậu bổ”):

“Này Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, được nhập vào dòng Thánh, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ. Ðó là kết quả thứ nhất. Lại nữa này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, làm muội lược tham, sân, si, chứng bậc Nhất lai, chỉ còn trở lại đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau. Ðó là kết quả thứ hai, lợi ích thứ hai. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh ở tại chỗ ấy mà nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Như vậy là kết quả thứ ba, lợi ích thứ ba. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ các lậu hoặc, tự mình chứng tri, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Như vậy là kết quả thứ tư”.

Chú ý: Để được quả Dự Lưu theo kinh trên chỉ cần “diệt trừ ba kiết sử”. Tôi tìm được một nguồn đòi hỏi diệt trừ 10 kiết sử (nhưng có thể lại cùng nguồn với anh Phạm Doãn). Hay vẫn chưa có ý thống nhất về điều kiện đạt quả thánh?

Hoa Nguyen Anh Hiếu Nguyễn.

Tôi hơi ngờ về từ “tuệ tri” được dùng trong Tứ Niệm xứ ở đó. Có thể HT Minh Châu dùng từ này để dịch theo ý riêng, tôi có bản tiếng Anh (sách) nhưng không tiện mở để đối chiếu (đã vào thùng để gởi đi xa). Tuệ tri sử dụng cho một ý niệm cao hơn, mà người mới tập thiền khó có ý tưởng rõ về nó. Nhưng nếu anh có được Tuệ tri khi tập TNX thì là điều tốt thôi. Những người không có, hay chưa có, đành vậy. Nếu anh đã đọc Luận án so sánh kinh Nikaya và Agama của HT Minh Châu thì biết một điều là kinh Pali hay kinh SAnskrit đã được biên tập khi chép xuống, đôi khi còn bị kiểm duyệt cắt bỏ chữ không ưng ý (đó là nhận xét của HT Minh Châu, ở đâu có thể nhờ ông Bình Anson làm chứng về điều tôi viết). Cho nên dù trong bản Pali việt là “tuệ tri” (với tiếng Pali thì cũng không chắc đúng là từ Phật đã dùng khi dạy TNX. Tôi nhớ trong phần kinh mở đầu Quán Niệm Hơi thở (cùng loại với TNX) mô tả những tu sĩ (trẻ) thực tập thiền quán này được chia thành nhóm chừng mươi người và do một vị tăng có kinh nghiệm Thiền chỉ dạy. Thử nghĩ những người trẻ đó hiểu “tuệ tri” như thế nào, và thật tình đặt câu hỏi: anh hiểu thế nào là tuệ tri trong ngữ cảnh của câu kinh đó. Phần tôi không chắc mình hiểu rõ.

Thien Nguyen Ba Dạ, thưa Chú Hoa Nguyen:

Trong MN 06: Kinh Ước Nguyện cũng có đề cập về Dự Lưu Quả,…
“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta trừ diệt ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… trú xứ không tịnh.”

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng trừ diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, ta chứng được Nhứt Lai, chỉ phải trở lại đời một lần nữa để đoạn tận khổ đau!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… trú xứ không tịnh.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng, trừ diệt năm hạ phần kiết sử, ta được hóa sanh, chứng được Niết-bàn ngay tại cảnh giới ấy, không còn trở lui thế giới này nữa!”, Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật… (như trên)… các trú xứ không tịnh.”
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung06.htm

Hoa Nguyen Anh Thien tìm được kinh nhanh lắm. Chắc có kỹ thuật riêng.

Hoa Nguyen Anh Hiếu, tôi tìm kinh Tứ Niệm xứ trên mạng và đây là bản dịch Anh ngữ. “Tuệ tri” của trong bản kinh Việt anh dẫn được dịch ra tiếng Anh là “understand” (hiểu, biết).

Breathing in long, he understands: “I breathe in long;” or breathing out long, he understands: “I breathe out long.” Breathing in short, he understands: “I breathe in short;” or breathing out short, he understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath.” He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.”
Bản Việt dịch trên mạng:
Thở vô một hơi dài, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở vô một hơi dài.” Thở ra một hơi dài, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở ra một hơi dài.” Thở vô một hơi ngắn, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở vô một hơi ngắn.” Thở ra một hơi ngắn, vị ấy ý thức rằng: “Tôi đang thở ra một hơi ngắn.” Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập; “cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập.

Thien Nguyen Ba – Trong MN 10 kinh Tứ Niệm Xứ
Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là:Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”. “Tuệ tri” trong bài kinh này được Ngài dịch từ tiếng gốc “pajānāti”.
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung10.htm

– Trong MN 118 Kinh Nhập tức Xuất tức niệm
Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là: “Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài””
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung118.htm

Hoa Nguyen: Thật sự tài “search” của anh Thien làm sáng tỏ nhiều thứ, tránh được hoang mang, nghi ngờ, và khỏi bàn cãi điều không cần thiết. Tôi hiểu hai bản kinh dùng từ khác nhau, nhưng cùng ý. Nếu ai nói khác, tôi cũng không có gì để phản biện.

Hạnh Trương  @Thien Nguyen Ba

đã làm thì làm cho trọn vẹn đi em, trong cả mấy bản kinh đó có dùng chung từ pajānāti hay không, em dẫn như vậy khiến người khác có thể hiểu là có hai từ khác nhau, trong khi chúng chỉ khác nhau ở bản dịch, còn ở nguyên bản là như nhau.
Những điểm như thế khi nghiên cứu kinh điển mình cũng đừng bỏ phí, nghi ngờ là dấn tới, không rõ hỏi liền mấy Sư giỏi Pali. Lợi thế của mình là được sự trợ giúp của mấy vị mà, không nhờ thiệt đó, hihi

Thien Nguyen Ba

Dạ, em không có bản song ngữ của MN 108 Kinh Xuất Tức Nhập Tức Niệm. Kính xin Quý Sư và các anh chị em trích đoạn pali gốc trong MN 108 của đoạn này:

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết-già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra.
Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.”
Riêng bản song ngữ pali việt của MN 10 Kinh Tứ Niệm Xứ có ở đây:
http://www.paliviet.info/VHoc/13/010.htm

Hạnh Trương http://www.accesstoinsight.org

Hoặc 1 site nào đó có bản Pāli, em tìm tới bài kinh theo số thứ tự hoặc theo tên bài, lần tiếp tới đoạn cần tìm theo 1 số từ mà em đã quen, chịu khó tự tìm mới ra nhiều cái hay và được nhiều hoan hỷ

Còn một cách nữa, em cài tool như Digital Pali Reader vào rồi tìm theo Pali, vừa ra bản gốc vừa có công cụ tra từ rất hay. Không phải lúc nào mình cũng có điều kiện để hỏi, không phải lúc nào cũng có sẵn người trả lời, không phải lúc nào câu trả lời cũng làm mình thỏa mãn, nên cách tìm hiểu, nghiên cứu, tiếp cận tài liệu hết sức quan trọng cho mình trong sự nghiệp tu học.
Sau khi tìm được rồi, mình còn nên ghi chép đúng cách nữa.

Access to Insight

www.accesstoinsight.org

An ATI reader has developed a free app that allows you to carry the ATI website …See More

Hiếu Nguyễn Dùng DPR thì thấy, trong MN 108 cũng là pajānāti đấy ạ, trong MN thì từ pajānāti xuất hiện 198 lần.

Xin trích thêm đoạn chiết tự này cho mọi người tham khảo:

1. SC Nguyên Hương:
pajānāti = pra +/jānāti
The prefix pra or pa (pali) có ý nghĩa nhấn mạnh, tăng cường ý nghĩa của Jânâti; i.e., thật biết, biết rõ ràng
The prefix pra or pa (pali) còn có ý nghĩa là hướng đến, về phía

2. Sư Tuan Ly:
Tuệ Tri (pajānāti): đó là sự nhận biết rõ rệt bằng <quán sát> — thay vì hời hợt trong quán sát và nhờ cậy vào ký ức. Trong English có chữ <“come to know”> để diễn tả ý này.
—-
Chúng ta đi hơi xa Ái Dục rồi mọi người nhỉ, hi hi hi?

Hiếu Nguyễn Lưu ý thêm, tuệ tri chỉ là từ tạm dùng, từ sau con sẽ sửa hết trong khi thảo luận thành pajānāti thì tốt hơn chú Hoa Nguyen ạ.

Hoa Nguyen Có lẽ dịch là “biết rõ” thì ý sáng và nghĩa rõ (lại không khác lắm với các từ đã biết). Tỳ Kheo Tâm Hạnh trong bản dịch kinh Quán niệm hơi thở dùng từ “biết rõ” (hơi thở ra vào). Kèm theo bản dịch kinh Tứ Niệm xứ của HT Minh Châu có một bản tiếng Anh dịch là “discern”, và có thể dịch từ này ra Việt là “nhận biết rõ”.

Hiếu Nguyễn Biết rõ nhờ quán sát có lẽ là thích hợp nhất chú ạ. Vì nếu mình mới nhìn sự vật chỉ biết thoáng qua, hoặc nhìn được 1 phần sự vật rồi phần còn lại mình bù bằng tưởng (tưởng tri) thì là cái biết thông thường. Cái pajānāti này là cái nhìn tươi mới nhờ quán sát đối tượng rõ ràng trong thời điểm hiện tại, không lệ thuộc vào trí nhớ.

Nhưng đối tượng của đoạn trích dẫn trong MN10 không phải là hơi thở chú nhé, mà là “TÔI thở ra/thở vô dài”. Con thấy trong MN rất nhất mạnh chi tiết đó, từ đầu đến cuối, của tất cả các bản dịch.

Hoa Nguyen Tôi cũng dựa theo chiết tự của hai vị này khi đề nghị “biết rõ” (nhưng cũng thấy từ hơi “nôm na”) :
1. SC Nguyên Hương:
pajānāti = pra +/jānāti
The prefix pra or pa (pali) có ý nghĩa nhấn mạnh, tăng cường ý nghĩa của Jânâti; i.e., thật biết, biết rõ ràng
2. Sư Tuan Ly:
Tuệ Tri (pajānāti): đó là sự nhận biết rõ rệt .

Phan Duc Tuan Theo mình Bài kinh Tứ niệm xứ cực kì quan trọng nhưng không quá khó hiểu đâu, cách dùng ngôn ngữ của Phật cũng giản dị chứ có gì mà vi diệu.
Quan trọng là thực hành đúng từng bước rất khó (đối với mình), ví dụ từ bước tuệ tri hơi thở dài hơi thở ngắn chuyển qua tuệ tri toàn thân hơi thở nếu chánh niệm không đủ thì không thể nào làm được.

Hiếu Nguyễn Vi diệu là chỉ sự lợi lạc to lớn thông qua cái rất đơn giản và ngắn gọn ạ. Ý của mình: vi diệu (tuyệt vời) >< phức tạp.

Thực ra bài kinh này nếu đi sâu hết có lẽ cũng vi tế lắm. Nhưng có lẽ chờ đến MN10 rồi mình bàn thảo luôn cho đỡ mất công các admin phải chạy đi dọn dẹp ạ.

Hoa Nguyen Anh Hiếu Nguyễn:”Nhưng đối tượng của đoạn trích dẫn trong MN10 không phải là hơi thở chú nhé, mà là “TÔI thở ra/thở vô dài”.
Đúng là theo truyền thống Nam tông (giữ được từng lời từng chữ). Nhưng”tôi” ở đây phải cần thiết để được nhắc tới trong mỗi hơi thở.
Tôi chép nguyên đoạn đầu trong bản dịch của HT Minh Châu:

Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: “Tôi quay dài” hay khi quay ngắn, tuệ tri: “Tôi quay ngắn”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân”

Để so sánh với kinh Niệm Xứ của Trung A-Hàm (không thấy cần thiết nhắc tới “tôi):

“Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân như thân; Tỳ-kheo-niệm hơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào, niệm hơi thở ra thì biết niệm hơi thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra dài thì biết thở ra dài. Thở vào ngắn thì biết thở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toàn thân thở vào, học toàn thân thở ra. Học thân hành tĩnh chỉ thở vào, học khẩu hành tĩnh chỉ thở ra. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.”

 


One Comment on “– Ái Dục”

  1. tuornotu nói:

    Đọc một lèo từ trên xuống dưới, xong đọc thêm vài lần, chớp chớp mắt một hồi vẫn chưa thấy cô chú cho kết luận về cái vụ “tính dục”.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s