– Giới Cấm Thủ

SĪLABBATĀNI – MAHĀNIDDESAPĀḶI

SĪLABBATAPARĀMĀSO = sự bám víu (parāmāso) vào giới (sīla) và nghi thức (vata)

(Cụm từ này đã được các tiền bối dịch là GIỚI CẤM THỦ)

————-

GIỚI (SĪLA) GÌ? NGHI THỨC (VATA) GÌ? – Ở Tạng Thái Lan và PTS dùng từ vatta (phận sự) thay vì vata (nghi thức) như Tạng Tích Lan và Miến Điện. Ý nghĩa “phận sự” thấy thích hợp hơn.

————-

Sīlabbatānī ti  atthi sīlaṃ ceva vataṃ  ca, atthi vataṃ na sīlaṃ.

Tạm diễn nghĩa như sau:

Sīlabbatāni = Có việc vừa là giới vừa là phận sự. Có việc là phận sự mà không phải là giới.

————-

Katamaṃ sīlaṃ ceva vataṃ ca? Việc nào vừa là giới vừa là phận sự?

Idha bhikkhu sīlavā hoti pātimokkha-saṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu, yo tattha saññamo saṃvaro anatikkamo, idaṃ sīlaṃ. Yaṃ samādānaṃ, taṃ vataṃ. Saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, samādānaṭṭhena vataṃ. Idaṃ vuccati sīlaṃ ceva vataṃ ca.

————–

Katamaṃ vataṃ na sīlaṃ? Việc nào là phận sự mà không phải là giới?

Aṭṭha dhutaṅgāni: āraññikaṅgaṃ piṇḍapātikaṅgaṃ paṃsukūlikaṅgaṃ tecīvarikaṅgaṃ sapadānacārikaṅgaṃ khalupacchābhattikaṅgaṃ nesajjikaṅgaṃ yathāsanthatikaṅgaṃ, idaṃ vuccati vataṃ na sīlaṃ. Viriyasamādānampi vuccati vataṃ na sīlaṃ. “Kāmaṃ taco ca nahāru ca aṭṭhi ca avasissatu sarīre upasussatu maṃsalohitaṃ, yaṃ taṃ purisathāmena purisabalena purisaviriyena purisaparakkamena pattabbaṃ, na taṃ apāpuṇitvā viriyassa santhānaṃ bhavissatī”ti cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpaṃ viriyasamādānaṃ vuccati vataṃ na sīlaṃ.

(Mahāniddesapāḷi, PTS, pp. 66-68)

 

Giới và phận sự: Có việc là giới và còn là phận sự, có việc là phận sự mà không phải là giới.

Việc nào là giới và còn là phận sự? Ở đây, vị tỳ khưu là người có giới, sống thu thúc với sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các điều học, trong đó cái gì là sự tự chế ngự, sự thu thúc, sự không vượt qua, cái này là giới. Cái gì là sự thọ trì, cái ấy là phận sự. Giới với ý nghĩa thu thúc, phận sự với ý nghĩa thọ trì. Việc này được gọi là giới và còn là phận sự.

Việc nào là phận sự mà không phải là giới? Tám pháp từ khước: pháp của vị ngụ ở rừng, pháp của vị chuyên đi khất thực, pháp của vị chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, pháp của vị chỉ sử dụng ba y, pháp của vị đi khất thực tuần tự theo từng nhà, pháp của vị không ăn vật thực dâng sau, pháp của vị chuyên về oai nghi ngồi (không nằm), pháp của vị ngụ chỗ ở theo chỉ định, việc này được gọi là phận sự mà không phải là giới. Việc thọ trì sự tinh tấn được gọi là phận sự mà không phải là giới. Vị ra sức và xác định tâm rằng: “Hãy sẵn lòng để cho còn lại chỉ da, gân, xương, hãy để cho thịt và máu ở xác thân khô cạn, việc nào có thể đạt được với sức mạnh của người nam, với sức lực của người nam, với tinh tấn của người nam, với nỗ lực của người nam, khi không đạt được việc ấy thì sẽ không có ngừng lại sự tinh tấn.” Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy được gọi là phận sự mà không phải là giới.

Vị ra sức và xác định tâm rằng: ‘Khi mũi tên tham ái chưa được nhổ lên, ta sẽ không ăn, ta sẽ không uống, ta không đi ra khỏi trú xá, ta cũng sẽ không nằm xuống một bên hông.’ Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy cũng được gọi là phận sự mà không phải là giới. Vị ra sức và xác định tâm rằng: ‘Ta sẽ không lìa khỏi tư thế kiết già này cho đến khi nào tâm của ta còn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ.’ Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy được gọi là phận sự mà không phải là giới. Vị ra sức và xác định tâm rằng: ‘Ta sẽ không đứng dậy khỏi chỗ ngồi, ta sẽ không bước khỏi đường kinh hành, ta sẽ không rời khỏi trú xá, ta sẽ không rời khỏi nhà một mái, ta sẽ không rời khỏi tòa lâu đài, ta sẽ không rời khỏi tòa nhà dài, ta sẽ không rời khỏi hang, ta sẽ không rời khỏi động, ta sẽ không rời khỏi cốc, ta sẽ không rời khỏi nhà mái nhọn, ta sẽ không rời khỏi cái chòi, ta sẽ không rời khỏi ngôi nhà tròn, ta sẽ không rời khỏi căn lều, ta sẽ không rời khỏi nhà ăn, ta sẽ không rời khỏi mái che, ta sẽ không rời khỏi gốc cây này cho đến khi nào tâm của ta còn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ.’ Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy được gọi là phận sự mà không phải là giới. Vị ra sức và xác định tâm rằng: ‘Ta sẽ đem lại, ta sẽ hoàn tất, ta sẽ chứng đắc, ta sẽ chạm đến, ta sẽ chứng ngộ Thánh pháp ngay trong buổi sáng này.’ Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy được gọi là phận sự mà không phải là giới. Vị ra sức và xác định tâm rằng: ‘Ta sẽ đem lại, ta sẽ hoàn tất, ta sẽ chứng đắc, ta sẽ chạm đến, ta sẽ chứng ngộ Thánh pháp ngay trong buổi trưa —như trên— trong buổi chiều — trước bữa ăn — sau bữa ăn — vào canh đầu — vào canh giữa —  vào canh cuối — vào hậu bán nguyệt — vào tiền bán nguyệt — vào mùa mưa — vào mùa lạnh — vào mùa nóng — ở lứa tuổi thiếu niên — ở lứa tuổi trung niên — ở lứa tuổi lão niên này.’ ‘Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy cũng được gọi là phận sự mà không phải là giới.

Pāli Việt Hôm nay đang làm công việc so sánh các văn bản Pali của 4 nguồn khác nhau: Sri Lanka, PTS, Thái, và CSCD. Đến đoạn này thấy khoái chí nên đưa lên đây quảng cáo. Phần chi tiết còn lại có lẽ 1 tuần nữa mới xong.

Đức Hòa Sādhu! Sādhu! Sādhu!

Pāli Việt

Trước đây ở Pali Chuyên Đề đã có thảo luận về GIỚI CẤM THỦ với nhiều trích dẫn tiếng Việt. Giờ đây phần Pali của sīlabbatāni (giới cấm) đã có, xin mời các thành viên làm việc với phần Pali. Tuy nhiên, còn một điểm cần lưu ý: Ý nghĩa của sīlabbatāni ở đây có thể áp dụng vào ngữ cảnh của SĪLABBATAPARĀMĀSO (giới cấm thủ / sự bám víu vào giới và nghi thức) hay không thì vẫn phải tiếp tục nghiên cứu.

Chua Nhu Phap sadhu sadhu Tiền Bối Pāli Việt. Kính tri ân Bhante Indacanda Mahathera.

Pāli Việt

Phần Pali đang chờ Sư Cô Chua Nhu Phap dịch ra tiếng Việt giùm. Sư bận lắm, không làm được.

Pāli Việt (TIN NHĂN ĐƯỢC CHUYỂN TIẾP)
Kính gửi Sư một số Link về Giới Cấm Thủ
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi10-0709.htm
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi06-0612.htm
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi07-0709.htm
Theo từ điển Hán ngữ:
Giới = phòng bị, đề phòng, tránh.
Cấm = chịu đựng, nhịn, ngăn.
Thủ = lấy, chọn, áp dụng.
Định nghĩa về giới cấm thủ trong từ điển Phật học:
Giới cấm thủ là một trong Tam Kết. Trong các bản dịch Pāli ghi chữ Kết là Kiết, con không biết âm Kiết này từ đâu ra bởi vì chữ 結không đọc là Kiết.
TAM KẾT
Sanskrit: Trīṇi saṃyojanāni. Pāli: Tīṇi saṃyojanāni.
Cũng gọi Sơ quả tam kết. Kết chính là Kiến hoặc, chúng sinh do Kiến hoặc này trói buộc nên không thể thoát ly sinh tử. Hàng Thanh văn dứt hết Hoặc này thì chứng được Sơ quả Tu đà hoàn, vì thế gọi là Sơ quả tam kết.
Tam kết là:
1. Hữu thân kiến kết (satkāyadṛṣṭi-saṃyojana): Đối với pháp năm ấm, chúng sinh chấp lầm làm thân, thường khởi ngã kiến, cưỡng lập chủ tể. Đây là Không cận chướng trong ba pháp Tam-ma-địa cận chướng, cũng là cội rễ của 62 kiến thú. Vì các kiến thú là căn bản của dư phiền não, dư phiền não là gốc của nghiệp, các nghiệp lại là gốc của quả Dị thục; nương vào quả Dị thục thì tất cả pháp thiện, bất thiện, vô kí đều được sinh trưởng, cho nên cần phải đoạn trừ.
2. Giới cấm thủ kết (śīlavrataparāmarśa-saṃyojana): Chỉ cho việc thực hành các tà giới. Đây là Vô nguyện cận chướng trong ba pháp Tam-ma-địa cận chướng; chẳng hạn những người ngoại đạo đối với điều chẳng phải giới lại lầm tưởng là giới, như giữ giới bò (ăn cỏ), giới chó (ăn phân)…
3. Nghi kết (vicikitsā-saṃyojana): Tức nghi ngờ chính lý, mê tâm trái lý, không tin sâu chính pháp. Đây là Vô tướng cận chướng trong 3 pháp Tam-ma-địa chướng.
Tam kết trên đây là quan trọng nhất trong Kiến hoặc, cho nên được dùng làm tên chung cho Kiến hoặc, nếu đoạn được 3 kết này thì chứng quả Dự lưu, không còn trở lui, nhất định tiến tới Bồ đề.
(theo Phật Quang Từ điển. Thích Quảng Độ dịch)

Tæng Chi Bo – Chuong 10 – Pham 07-09

buddhanet.net

‎1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn Anàthapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

Chua Nhu Phap

Mô Phật! Thiện tai ! thiện tai ! Hãy để con yên Tiền Bối Pāli Việt. Ven Adhiṭṭhāna LIKE thì đưa vai vô cùng Tiền Bối đi nha. Mình là Culi không phải Pali. hiiiiiii

Pāli Việt

Giới và phận sự: Có việc là giới và còn là phận sự, có việc là phận sự mà không phải là giới.
Việc nào là giới và còn là phận sự? Ở đây, vị tỳ khưu là người có giới, sống thu thúc với sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các điều học, trong đó cái gì là sự tự chế ngự, sự thu thúc, sự không vượt qua, cái này là giới. Cái gì là sự thọ trì, cái ấy là phận sự. Giới với ý nghĩa thu thúc, phận sự với ý nghĩa thọ trì. Việc này được gọi là giới và còn là phận sự.
Việc nào là phận sự mà không phải là giới? Tám pháp từ khước: pháp của vị ngụ ở rừng, pháp của vị chuyên đi khất thực, pháp của vị chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, pháp của vị chỉ sử dụng ba y, pháp của vị đi khất thực tuần tự theo từng nhà, pháp của vị không ăn vật thực dâng sau, pháp của vị chuyên về oai nghi ngồi (không nằm), pháp của vị ngụ chỗ ở theo chỉ định, việc này được gọi là phận sự mà không phải là giới. Việc thọ trì sự tinh tấn được gọi là phận sự mà không phải là giới. Vị ra sức và xác định tâm rằng: “Hãy sẵn lòng để cho còn lại chỉ da, gân, xương, hãy để cho thịt và máu ở xác thân khô cạn, việc nào có thể đạt được với sức mạnh của người nam, với sức lực của người nam, với tinh tấn của người nam, với nỗ lực của người nam, khi không đạt được việc ấy thì sẽ không có ngừng lại sự tinh tấn.” Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy được gọi là phận sự mà không phải là giới.

Pāli Việt

Vị ra sức và xác định tâm rằng: ‘Khi mũi tên tham ái chưa được nhổ lên, ta sẽ không ăn, ta sẽ không uống, ta không đi ra khỏi trú xá, ta cũng sẽ không nằm xuống một bên hông.’ Việc thọ trì sự tinh tấn có hình thức như vậy cũng được gọi là phận sự mà kh…See More

Ven Adhiṭṭhāna Pāli Việt bạch Ngài, như vậy chữ phận sự ở đây dùng chữ kicca hay sao ạ? còn giới đồng thời là phận sự ở đây nhằm hướng đến phương diện rộng là catupārisuddhisīla phải chăng ạ ?

Pāli Việt Ở Tạng Thái Lan và PTS dùng từ vatta (phận sự) thay vì vata (nghi thức) như Tạng Tích Lan và Miến Điện. Ý nghĩa “phận sự” thấy thích hợp hơn.

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s