– “Niệm” theo Allan Wallace

 

ĐÂU LÀ Ý NGHĨA CHÂN THẬT CỦA NIỆM ĐƯỢC ĐỨC PHẬT DẠY – Alan Wallace – Thanh Hòa biên dịch

www.thuvienhoasen.org

—————

Bhikkhu Indacanda

Bài viết này được thấy ở FB của Trinh Duc Vinh, nhưng vì các comments đi qua hướng khác nên không share mà post lại ở đây. Điều thú vị ở đây là những điều vị GS. này viết không khác với những điều mà chúng ta đã bàn luận trước đây, về Niệm, về Tác Ý. Quý vị cũng nên đọc bài này, sẽ củng cố thêm được tri kiến của mình. Tuy nhiên, có một vài chỗ Sư thấy chướng chướng, nhưng nghĩ là do việc chuyển ng…See More

 

THẢO LUẬN

Hạnh Trương

Người Tàu kể cũng khôn thật, chắc họ biết trước “đại náo loạn” chữ nghĩa nên dạy cho con cháu họ “bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh”. Chưa thành Phật thì cũng tốt hơn là lạc vào rừng khái niệm u u mê mê do các “đại học giả” quăng đầy Net thế này.

Trinh Duc Vinh

Con post bài này lên facebook vì thấy nhiều người có quan điểm nói niệm là điều duy nhất cần và đủ cho sự giác ngộ, thậm chí Bát Chánh Đạo cũng là thừa thãi và do đức Phật tùy tiện thêm vào. Hi hi. Thực ra chánh niệm là then chốt của thiền học Phật giáo nhưng nếu không có các giáo lý khác đi kèm thì sẽ dễ dẫn đến hiểu sai và hành trì sai. Chánh niệm hay thiền Minh sát do đức Phật đưa ra đầu tiên nhưng hiện nay rất nhiều trường phái khác cũng sử dụng và lắp ghép vớii nhều quan điểm sai lầm (tà kiến) của mình.

Trinh Duc Vinh

Thiền sư U Tejaniya có viết 1 cuốn sách nổi tiếng là “Chỉ có chánh niệm thôi thì không đủ” nhưng con thấy bài viết này nói cụ thể và mang màu sắc học thuật nghiêm túc hơn, mặc dù trong đây có cả quan điểm của Đại thừa và Mật tông.

Hoa Nguyen

Bài viết của Alan Wallace thật sâu sắc, bao quát, hiểu biết rất rộng về nhiều loại Thiền Phật giáo. Và tác giả có thái độ rất khách quan, vô tư khi đánh giá các loại Thiền Phật giáo (khác nhau không phải vì “sai lầm” mà tôi nghĩ chỉ vì chú tâm phát triển phần cho là quan trọng nhất).

Hạnh Trương

Chúng ta hay bị cái mẽ học thuật làm mê mờ, đọc kỹ một chút bài viết sẽ thấy nó là lạ (chướng – theo từ của Sư):

<<Mặt khác, ý nghĩa nguyên thủy của sati là nhớ lại, không quên. Điều này bao gồm sự hồi tưởng về những việc trong quá khứ, nhớ việc cần làm trong tương lai, và ghi nhớ ngay trong hiện tại theo ý nghĩa duy trì sự chú tâm liên tục đến thực tại hiện tiền. Ngược lại với niệm là thất niệm (hay quên), cho nên niệm, chẳng hạn được áp dụng cho hơi thở, bao hàm sự chú tâm liên tục, không dao động đến hơi thở ra vào. Niệm có thể được dùng để giữ sự chú tâm thuần túy (manasikāra – tác ý) nhưng trong văn liệu Phật giáo truyền thống không có chỗ nào đồng nhất niệm với sự chú tâm như thế.>>

Ở đoạn trên, niệm được định nghĩa 2 lần và khác hẳn nhau, mọi người đọc kỹ 1 chút sẽ thấy .

<<Trong tác phẩm Thanh tịnh đạo (The Path of Purification) vào thế kỷ V, ngài Giác Âm (Buddhaghosa) – vị luận sư uy tín nhất trong truyền thống Nguyên Thủy – giải thích rằng: “niệm là tâm sở nhờ nó ta nhớ lại, hoặc chính nó nhớ lại” (The Path of Purification, C. XIV, 141.). Đặc tính của nó, ngài Buddhaghosa nói, là “không dao động”, nhờ đó tâm gắn chặt với đối tượng quán sát. Nhiệm vụ của nó là “không tuột mất”, ngụ ý rằng niệm giúp ta duy trì được sự chú tâm mà không quên mất. Biểu hiện của nó là “canh giữ” hay trạng thái “xúc tiếp với đối tượng”, ngụ ý rằng “rợi dây ghi nhớ” duy trì sự chú mục một cách vững chắc trên đối tượng được hướng đến, cho dù đó là một đối tượng đơn lẻ, tương đối độc lập hay là một chuỗi các sự kiện liên đới nhau>>

Trích dẫn từ Thanh Tịnh Đạo thật tuyệt, nhưng …

<<Có sự khác nhau nào giữa niệm và chánh niệm? Có cái gọi là tà niệm hay không?

Một tay súng nấp mình trong bụi cây, chờ đợi kẻ thù, có thể nhận biết một cách tinh tường những gì đang khởi lên trong mỗi khoảnh khắc trôi qua. Nhưng bởi vì anh ta đang âm mưu sát hại, cho nên anh ta đang thực hành tà niệm. Thực vậy, cái anh ta đang trải qua là sự chú tâm thuần túy nhưng thiếu vắng yếu tố giới.>>

Ví dụ về niệm ở đây lại khác xa những gì được viết và trích dẫn từ Thanh Tịnh Đạo.??? ( lưu ý: thực vậy, cái …. là sự chú tâm thuần túy…)

Ví dụ là cái dùng để vấn đề được định nghĩa được hiểu rõ, nhưng ở đây, ví dụ lại tự mâu thuẫn với định nghĩa và trích dẫn. ???

Tóm lại phần đầu tác giả trình bày là niệm không phải là chú tâm, thế nhưng từ đó trở đi, trong các ví dụ và các vấn đề được đề cập tới, đều thấy tác giả nói niệm là chú tâm?

Vậy người đọc thấy được gì ở đây? Khoan nói việc tác giả nói đúng hay sai, nội việc tự mâu thuẫn trong một đoạn ngắn như vậy đã thấy không đáng tin cậy rồi.

Ghi chú: HT chỉ nhận xét bản dịch, mặc dù qua ví dụ về tay súng, thì có thể thấy đúng là tinh thần của tác giả không sai khác với nội dung được dịch ra tiếng Việt.

 

Các đạo hữu, trong khi có kinh Phật trong tay, trong kinh Phật đã định nghĩa rõ mà chúng ta không đọc, lại đi tìm hiểu qua mấy tài liệu này thì đúng thật là bỏ lõi cây đi tìm … lá rụng.

Hoa Nguyen

Định nghĩa về niệm, chánh niệm không phải thật sự như nhau giữa các tác giả sách thiền Nam tông, như Bhante Gunaratana (Tích Lan), Ajahn Brahmavamso (Anh hay Úc), Ayya Khemal (Đức). Ít ra cách diển tả không như nhau. Tác giả, dịch giả VN có thể làm cho sự khác biệt thêm khởi sắc. Tôi thấy dường như “chánh niệm” có thể hiểu không như nhau ở thiền An chỉ và thiền Minh sát. Thiền của Mật tông cũng nhấn mạnh về Chánh niệm, Tỉnh giác, nhưng e hiểu cũng không giống hẳn.

Hoa Nguyen ‎

“Chánh niệm là sự quan sát không có phán đoán, nó phản chiếu những gì đang xảy ra trong hiện tại và chính xác như-nó-là, không có một chút gì thiên vị. ” (Bhante Gunaratana). Điều này đúng ở thiền Minh Sát, và cũng ở thiền Minh Sát chánh niệm thường phản ánh sự việc theo trình tự thời gian, mỗi lần một niệm, kế tiếp nhau.Thí dụ các hành động giơ tay ra, gấp thức ăn, đưa lên miệng, nhai, nuốt…được ghi nhận với chánh niệm, mà không đánh giá động tác của thân (tuy có thể đánh giá, nhận dạng tâm sở dấy lên bên trong).

Nhưng mặt khác, theo Alan Wallace, trong chánh niệm có “yếu tố giớí ” hay “mang tính phản kỷ theo tinh thần của giới” (ông thí dụ trường hợp một người mưu sát). Nghĩa là có sự nhận biết sự tốt xấu, thiện ác đi theo sự việc mà chánh niệm biết rõ, để tiếp nhận hay loại trừ. Thử nêu thí dụ trong thiền An Chỉ, khi vào Sơ Thiền chánh niệm giúp nhận ra sự vắng mặt của 5 triền cái và sự xuất hiện của 5 thiền chi. Nhưng mới vào Sơ thiền, các thiền chi có thể còn yếu, chập chờn và bị mất, một vài triền cái tái hiện, khiến định có thể mất. Chánh niệm cũng nhận ra tình trạng này, và giúp làm vững định bằng làm mạnh lên thiền chi liên hệ. Ở đây chánh niệm nhận biết gần như cùng lúc sự có mặt hay vắng mặt của các triền cái hay thiền chi.

Hạnh Trương

‎”Chánh niệm là sự quan sát không có phán đoán, nó phản chiếu những gì đang xảy ra trong hiện tại và chính xác như-nó-là, không có một chút gì thiên vị. ” (Bhante Gunaratana).

Định nghĩa này hoàn toàn sai với các định nghĩa trong Kinh Điển, trong Thanh Tịnh Đạo, Vi Diệu Pháp… thiết nghĩ chúng ta không nên đưa những định nghĩa kiểu thế này lên nhóm. Nó có thể làm nhiều đạo hữu chưa quen khái niệm, chưa nghiên cứu kỹ kinh điển hiểu sai ngay từ đầu.

<<Trong tác phẩm Thanh tịnh đạo (The Path of Purification) vào thế kỷ V, ngài Giác Âm (Buddhaghosa) – vị luận sư uy tín nhất trong truyền thống Nguyên Thủy – giải thích rằng: “niệm là tâm sở nhờ nó ta nhớ lại, hoặc chính nó nhớ lại” (The Path of Purification, C. XIV, 141.). Đặc tính của nó, ngài Buddhaghosa nói, là “không dao động”, nhờ đó tâm gắn chặt với đối tượng quán sát. Nhiệm vụ của nó là “không tuột mất”, ngụ ý rằng niệm giúp ta duy trì được sự chú tâm mà không quên mất. Biểu hiện của nó là “canh giữ” hay trạng thái “xúc tiếp với đối tượng”, ngụ ý rằng “rợi dây ghi nhớ” duy trì sự chú mục một cách vững chắc trên đối tượng được hướng đến, cho dù đó là một đối tượng đơn lẻ, tương đối độc lập hay là một chuỗi các sự kiện liên đới nhau>>

Tìm đâu ra trong định nghĩa này rằng “niệm là sự quan sát”

Niệm chỉ giúp duy trì sự chú tâm, nhờ khả năng ghi nhớ của nó, chứ niệm cũng không phải là sự chú tâm.

Trong Nikaya , HT thấy có 2 ví dụ về niệm:

1. Kinh Trung Bộ 105- Kinh Thiện Tinh, đức Phật lấy ví dụ về việc chữa vết thương, ở đó, niệm được ví dụ như vật dụng dò tìm

2. Kinh Tương Ưng, tập 5- Trong bài kệ về cỗ xe, Đức Phật ví dụ Niệm như người đánh xe, biết hộ trì , phòng hộ. Đánh xe tới mục tiêu là “an ổn khỏi các khổ ách”.

Các định nghĩa về niệm trong Thanh Tịnh Đạo, trong Vi Diệu Pháp cũng rất rõ ràng, HT không hiểu sao người ta cứ vẽ rắn thêm chân🙂

Bhikkhu Indacanda to ‎Hoa Nguyen và các members mới:

Những vấn đề về Niệm, Chánh Niệm, Tà Niệm, Tác Ý, Như Lý Tác Ý, v.v… đã được bàn luận và đã được lưu lại ở trong số 85 docs ở phía trên, có lý luận, có trích dẫn. Ngoài ra còn có một vài vấn đề khác nữa như: tuệ tri, tưởng tri, liễu tri, v.v… Có nhiều điểm đáng để học hỏi ở các docs này. Nếu người nào có theo dõi kỹ lưỡng các comments trước đây sẽ thấy được những điểm yếu của GS. Allen Wallace trong bài viết về Niệm được post gần đây.

 

Chuyện tiếu lâm, đọc qua rồi quên đi: Một thời đức Phật ngự tại Trung Quốc và thuyết giảng Giáo Pháp bằng tiếng Tàu, sau đó Ngài ngự sang Anh Quốc và thuyết giảng bằng tiếng Anh!!!

Hoa Nguyen

Đại Đức Bhante Henepola Gunaratana là người Tích Lan học đạo Phật ở Tích Lan, dạy đạo Phật ở Mã Lai trong 10 năm, sau tốt nghiệp tiến sĩ Triết học ở Mỹ, và dạy đạo Phật tại ba trường đại học ở Mỹ (American University, Georgetown University và University of Maryland). Ông có trung tâm dạy thiền riêng ở Mỹ. Sách và bài viết của ông được xuất bản ở Mã Lai, Ấn Độ, Tích Lan, và Mỹ. Cuốn “Mindfulness in Plain English” được dịch ra nhiều thứ tiếng, riêng tiếng Việt có hai bản dịch thấy trên Thư Viện Hoa sen. Đoạn tôi trích của dịch giả Lương Thanh Bình, chương 13. Bản tiếng Việt có lẽ không rõ, khó hiểu, nhưng tiện cho vài độc giả Việt ở đây. Tôi có bản tiếng Anh, khi cần sẽ gõ lại đoạn trên. Xin trích thêm ở chương 13, sách giới thiệu mà Việt dịch là CHÁNH NIỆM CƠ BẢN:

“Chánh niệm nhìn sự việc như-nó-là. Chánh niệm không thêm vô hay bớt ra một điều gì tới sự hiểu biết, không bóp méo gì cả. Sự chú tâm đơn thuần chỉ nhìn vào những gì trổi dậy. …” (Mindfulness sees things as they really are. Mindfulness adds nothing to perception, and it subtracts nothing. It distorts nothing. It is bare attention and just looks as whatever comes up…”.

Bhikkhu Indacanda primary sources và secondary sources.

Hạnh Trương

‎1. Hehe, cái đ/c Đại Đức này, sees things as they really are là việc của pajanati (tuệ tri), là động từ thường xuyên xuất hiện trong kinh Niệm Xứ, có lẽ vì lẽ đó mà Đại Đức của chúng ta kết luận nhầm lẫn.

“Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy TUỆ TRI thân thể như thế ấy”

2. Việc dịch Mindfulness thành CHÁNH niệm là sai lầm, vì Chánh Niệm đã có từ của nó trong tiếng Anh là Right Mindfulness.

3. Tại sao Hoa Nguyen dường như cố tình lờ đi các định nghĩa về sati trong kinh điển đã được trích dẫn? các định nghĩa mới này về niệm giúp gì cho chúng ta? hay là đạo hữu muốn chúng ta thấy rằng “đúng là không nên đọc gì ở mấy luận sư đương thời”. HT nghiêng về ý này và nếu như vậy thì đã đủ rồi, hihi, cảm ơn anh.

Hoa Nguyen

Ngài Bhante Henepola Gunaratana là đại đức đáng kính trọng, đã viết nhiều viết sách bàn về thực hành thiền quán Phật giáo cho người mới bắt đầu đến những người muốn hiểu biết sâu hơn. Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm khác của ngài là “Con đường Thiền Chỉ và Thiền Quán” của Mahthera Henepola Gunaratana do Tỳ Khưu Pháp Thông dịch. Đây là bản dịch rất nghiêm túc, giá trị của một bậc tôi nghĩ vừa rất thông hiểu Phật học, vừa chắc chắn hiểu biết thực tiễn thiền quán:

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-cdtctq/tcq-00.htm

Trang đầu có lời giới thiệu về tác giả: “Tác giả của cuốn sách, Hòa thượng Thiền sư Henepola Guṇaratana, sinh năm 1927 tại Tích Lan, xuất gia năm 13 tuổi, hiện đang hướng dẫn những khóa thiền lớn tại Hoa Kỳ và Canada. Cuốn sách đã đem lại ánh sáng hiểu biết cho rất nhiều người, nhất là những hành giả đang lúng túng giữa thiền chỉ và thiền quán, hay những người thường xem nhẹ giá trị của định trong thiền minh sát”.

Nên đọc tác phẩm trên trước khi đáng giá về ngài Gunaratana, và người đọc cẩn thận có thể gặt hái nhiều lợi lạc cho mình.

Thien Chi & Thien Quan

www.buddhanet.net

Lời giới thiệu (1) Lời giới thiệu (2) Lời người dịch

Hạnh Trương

Thưa anh Hoa Nguyen, em vẫn không hiểu tại sao chúng ta, trong khi có tam tạng kinh điển, vốn là lời Phật thuyết, không thì cũng là lời của các đại đệ tử của Phật giảng, mà lại đi tìm đọc những tác phẩm về sau này.

Có phải vì đọc kinh quá khó, nên ta tìm thứ dễ đọc, dễ theo ý mình hay không?

Có phải chúng ta đọc cái gì nó trơn tru, thuận tai thì thích đọc hơn hay không?

Em đọc cũng khá nhiều luận, sách .. trong nhiều năm vừa qua. Càng về sau em càng thấm thía. Thời đại này người tu thì ít, học giả thì nhiều. Vì sao, tu khó lắm anh ạ, ăn ngày một bữa, không ăn phi thời khó, ngủ giường thấp khó, không nói dối khó, không nói phù phiếm khó…. Ly dục khó vô cùng.

Vì tránh khó, chọn dễ nên rảnh quá, mới đi viết sách chỉ bảo cho chúng sanh. Hôm nay em nói thẳng, ai giận em cũng chịu.

Còn nếu anh chọn con đường thực hành, thì anh sẽ thấy phải hết sức cẩn thận với từng câu chữ, từng khái niệm trong kinh. Phật dậy pháp để thực hành diệt khổ, chẳng phải để hý luận. Mà thực hành sai 1 ly thì đi 1 dặm, nhiều khi đi luôn đó anh.

Em chọn con đường diệt khổ đó nên em rất sợ những tác giả này. Anh thông cảm cho em. Cho dù họ là người đáng kính tới đâu, nhưng càng đáng kính thì họ càng nguy hiểm. Vì sự đáng kính của họ làm cho lỗi của họ càng được phổ biến hơn, càng có nhiều người vì tin tưởng, vì kính trọng họ mà làm sai theo họ.

Em xin phép, cho dù họ đáng kính tới đâu, em cũng vẫn sẽ phê bình tác phẩm của họ nếu nó lọt vào mắt em. Vì sự trong sáng của Phật Pháp, cho mình và cho mọi người. Ai nói sao em cũng chịu.

Hoa Nguyen ‎

“Thời đại này người tu thì ít, học giả thì nhiều. Vì sao, tu khó lắm anh ạ, ăn ngày một bữa, không ăn phi thời khó, ngủ giường thấp khó, không nói dối khó, không nói phù phiếm khó…. Ly dục khó vô cùng.”.

Câu trên nghe rất quen, dường như từ trưởng giả Thông Lạc, là người trách cứ tất cả tu sĩ Phật giáo ngày nay là không biết giữ giới nên không ai tu chứng ra sao cả, như không ai làm chủ được chuyện sinh tử ! “Kinh điển Bắc tông là giả mạo, Nam tông hành thiền không ly dục, ăn phi thời, Minh sát quán sát “điên khùng”, không ai sống đúng Phạm hạnh, ba y một bát” vẫn nghe âm vang (xin đọc lại các tác phẩm mới in lại của TL). Tôi không đồng ý điều trên, nhưng không phải chỗ để bàn lúc này, dù sao cũng thấy ngay là thầy TL không đi khất thực, không ngồi thiền ở gốc cây hay vào rừng tu một mình, lại bắt chước Bắc tông không ăn thịt.

Những ai có đọc ít sách đều biết câu “dịch là phản”, vì mỗi người hiểu nghĩa chữ không giống nhau, và dùng chữ dịch cũng khác nhau, có khi không theo đúng ý tác giả. Có bản dịch tương phản, và người đọc đôi khi phải tra cứu nhiều sách để chọn bản dich đúng. Cho nên cái gọi là “primary source” có giá trị hay không là tuỳ bản dịch.

Tôi lấy một thí dụ. Trong bản dịch của HT Thích Minh Châu ,Phật dạy khi ngồi thiền quán đặt niệm ở trước mặt. Thầy Thích Thiện Chơn cũng dạy đặt niệm ở trước mặt, và nói thêm “Phật Thích Ca đặt niệm ở một vùng nhỏ trước mặt”. Trong bản dịch Tăng Nhất A-hàm từ Hán tạng, thầy Thích Thanh Từ cũng dịch “đặt niệm trước mặt” , điều lạ là bản dịch này đã từ chữ Sanscrit dịch qua Hán tự, và căn cứ vào kinh điển của Nhất thiết hữu bộ, không phải của Theravada với chữ pali. Tất cả đều giống nhau. Nhưng ở đây mới thấy giải thích là theo cách hiểu mới từ tiếng Pali, thì không phải có nghĩa niệm ở trước mặt, mà có nghĩa là “có hiện diện của (chánh) niệm”. Không biết tôi nhớ để ghi lại như vậy có đúng không ?. Tôi vẫn theo cách đã biết trước đây, nhưng vì có sẳn mấy bản dịch kinh Pali qua tiếng Anh, hôm nào tôi sẽ đọc để đối chiếu. Dù sao đặt niệm trước mặt hay ở chỗ khác là quan trọng cho mỗi cách thiền, với mục đích khác nhau. Phật có dạy không nên hoàn toàn tin ai (hiểu ở đây dịch giả nào) chỉ vì uy tín của người đó. Tất nhiên có thể tin nhiều hơn ở người mình biết giá trị, tài năng từ trước.

Hạnh Trương

Em hoàn toàn đồng ý với anh Hoa Nguyen là không nên hoàn toàn tin ai, kể cả chính mình ( nhưng phải tin vào sự giác ngộ của Như Lai). Quay về điểm chính của anh về ví dụ ” đặt niệm trước mặt” hay là ” giữ niệm luôn hiện diện”.

Trước kia em cũng chịu chỗ này luôn, không cách nào hiểu nổi cụm từ “đặt niệm trước mặt”. Tra các cách không ra, thế nào là đặt niệm trước mặt.

Đặt niệm trước mặt thì niệm là danh từ, giả sử niệm là danh từ, là cái có thể đặt trước mặt, thì xuất hiện vấn đề : trước mặt nó là chỗ nào? nó có phải là ở thân, ở thọ, ở tâm, hay ở pháp. Nếu đối tượng là thân thọ tâm pháp thì việc đặt cái niệm đó ở trước mặt là vô lý.

Tiếp theo sẽ xuất hiện câu hỏi, vậy niệm là cái gì để mà có thể đặt nó trước mặt? nếu nó là sự ghi nhớ, tại sao lại đặt sự ghi nhớ trước mặt, nó phải có đối tượng của nó chứ ( sự ghi nhớ), nếu nó là chú tâm, thì sao phải đặt sự chú tâm trước mặt, mà không nói đơn giản là “niệm trước mặt”. Nếu nó là quán sát thì cũng thế, sao không nói cho đơn giản là “quán sát trước mặt”. Rồi quán sát cái gì trước mặt chứ?

Nếu niệm không phải là danh từ, mà là động từ thì không thể đem đặt nó ở đâu được. Nó đơn giản là niệm.

anh HN hiểu thế nào về câu đó ạ “đặt niệm trước mặt”. Khi anh ngồi thiền thì anh ứng dụng cái câu ” đặt niệm trước mặt” đó như thế nào?

Hoa Nguyen

Anh Hạnh Trương hỏi thì tôi xin nói hiểu biết ít oi của mình.Theo các sách dạy Thiền (tôi không được học thiền từ thầy ), khi hành Thiền đặt niệm hay để tâm ở đầu mũi, nhân trung, môi trên. Đó là ở trước mặt. Thầy Chơn Thiện nói rõ Phật Thích Ca đặt niệm ở “vùng nhỏ trước mặt”, và tôi tập theo như vậy (lý do riêng là mũi tôi thấp, không cao như người Ấn ). Nimitta cũng hiện ra trước mặt. Đặt niệm ở trước mặt, theo kinh nghiệm của tôi, dễ tránh được hôn trầm. Zen thì (có khi) đặt niệm ở huyệt đan điền (dưới bụng) là để bớt vọng tưởng, tâm dễ an tịnh cho thiền An Chỉ, nhưng chuyển niệm lên huyệt mi tâm khi thấy hôn trầm. Mật tông (có khi) quán tượng ở đỉnh đầu, Minh sát thì nhiều người biết.

Hạnh Trương

Ví dụ khi anh nói là đặt niệm ở huyệt đan điền, thì cụ thể là gì ạ. Anh chú ý tới đan điền, hay là anh chú tâm tới đan điền hay là sao ạ. Anh có thể mô tả cụ thể hơn ví dụ này để em và anh có thể hiểu được niệm là gì và đặt nó như thế nào không ạ.

Hoa Nguyen

Thật ra, Zen cũng dạy đặt niệm ở trước mặt, có khi là một điểm trước mặt trên thảm (chiếu). Nhưng có trường phái hay trường hợp , đặt niệm ở huyệt đan điền, là nơi cách rốn chừng hơn 2-3 cm, mà nếu chú ý kỹ sẽ thấy mạch đập. Mi tâm là điểm giữa hai chân mày, chú ý cũng nghe mạch đập.

Hạnh Trương

Vậy anh hiểu niệm = chú ý phải không ạ?

Hoa Nguyen

Tôi đã phân tích Niệm có rất nhiều nghĩa. Như có ý thức, nhận biết rõ, không hẳn là chú tâm (càng không phải nhất tâm). Một từ ngữ càng về sau càng có thể mở rộng nghĩa, bao hàm nhiều ý khác nhau. Chính vì thế nên thấy cần đọc nhiều tác giả để thấy họ hiểu hay giải thích thế nào.

Hạnh Trương

Ái chà, giờ em mới hiểu tại sao, hihi. Cái gọi là Văn Học Phật Giáo. Tại em thì vẫn nghĩ Kinh Phật như CHỈ DẪN cho người tìm đường thoát khổ nên từ ngữ của nó bao giờ cũng chính xác, rõ ràng. Những cái được gọi là THUẬT NGỮ, để người khác có thể hiểu đúng và làm theo mà không băn khoăn về nhiều nghĩa của nó. Chỗ nào có thể hiểu theo nhiều nghĩa, thì sẽ có VÍ DỤ để không thể hiểu theo nghĩa khác.

Cảm ơn anh Hoa Nguyen, lần nào trao đổi với anh cũng giúp em nhìn ra cái gì đó mới mẻ.

Riêng về đề tài “đặt niệm trước mặt” hay “giữ niệm luôn hiện diện”, thì nó phụ thuộc rất nhiều vào việc hiểu niệm là gì. Và hiểu bài kinh như một tác phẩm văn học hay chỉ dẫn thực hành.

Theo ý kiến cá nhân của em, thì cụm từ “đặt niệm trước mặt” cũng như cách hiểu thiền là chú ý, nhận biết rõ, ý thức… tới phía trước mặt, đã dẫn tới 1 tiến hóa vô cùng lý thú của cách diễn giải bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm và kèm theo đó phát sinh rất nhiều cách thiền khác nhau, mà HẬU QUẢ của nó thật khôn lường. Khi nào có đủ điều kiện em sẽ phân tích về đề tài này (điều kiện ở đây là về phía em thôi).

Tiện đây, HT thấy nếu Sư Indacanda giúp ai đó trong nhóm làm một nghiên cứu nhỏ về đề tài “sự tiến hóa trong diễn giải kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm qua các THỜI KỲ” thì thật là tuyệt. Có thể dựa trên bản kinh chính, bản chú giải, phân tích đạo, thanh tịnh đạo và ở thời hiện đại là của trường phái thiền Pa-Auk.

Bhikkhu Indacanda

Ý kiến vừa nêu ra của Hạnh Trương được người ta gọi là <sa đà trên văn tự>, thôi để cho các học giả lo, còn Sư thuộc loại <học thiệt> nên không phải lo. Sư có 1 trò chơi là chiêm nghiệm về <quy luật vận hành> của mọi thứ chuyện trên đời. Và có được 1 kết luận như vầy: Nếu thấy vật gì, bị rơi vào quy luật rồi, thì giống như bị rơi vào dòng nước xoáy, mình chỉ ngồi ngó thôi, chớ có nhảy vào theo mà bị cuốn trôi theo dòng nước. Nếu muốn vớt lên thì vớt lên lúc chưa đến vực xoáy hoặc chạy xuống phía dưới chờ cái đó được nước xoáy đẩy ra ngoài rồi hãy vớt lên. Hi hi.

Hoa Nguyen

Hạnh Trương viết :””sự tiến hóa trong diễn giải kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm qua các THỜI KỲ” và Sư Indacanda viết :”<sa đà trên văn tự>, dường như muốn đặt một cái label cho câu chuyện.

Nên nhìn lại để thấy vấn đề bắt đầu từ chánh niệm mà định nghĩa đơn giản nhất là đặt tâm hay niệm lên trên một đối tượng thiền để nhận biết rõ nó. Nếu dùng từ Hán “liễu tri” thì dịch sát nghĩa vẫn là “biết rõ”. Nhưng đặt niệm thế nào để biết rõ, phải là sự “quan sát” với sự để ý, để tâm, chú ý, chú tâm. Trước đây một người đã dựa vào bản dịch từ tiếng Đức chọn từ “chú tâm”, và hồi đó tôi thấy cũng được nhưng dường như có hơi nặng (trong khi từ “để ý” thì hơi nhẹ). Sách dịch Anh ngữ không ngại dùng “observation” cho quan sát, và “attention” cho chú ý, chú tâm khi giữ chánh niệm, nhưng cũng nêu không phải là chú tâm theo nghĩa thường hiểu. Trích:

“Mindfulness is a form of attention that has the capacity to observe what is happening to us and within us during each moment of experience. It is referred to as “bare attention”since it observes whatever is occurring bare of judgement, decision, and commentary. In other words, mindfulness is the direct observation of the medition object without any of the distortions that normally arise from our cognitive processes (Matthew Flickstein, tác giả vài sách thiền Nguyên thuỷ).

Tạm dịch: Chánh niệm (hay Niệm) là một dạng chú ý (chú tâm) có khả năng quan sát những gì đang xảy ra cho chúng ta và ở bên trong chúng ta trong mỗi lúc trải nghiệm. Nó được gọi là sự “chú ý đơn thuần” (trần trụi) vì nó quan sát những gì đang xảy ra mà không phán xét, quyết định, và bình phẩm. Nói cách khác, chánh niệm là sự quan sát trực tiếp đề mục thiền quán mà không có biến dạng nào thường dấy lên từ quá trình nhận thức của chúng ta .

Nói là “một dạng chú ý” thì không phải như là sự chú ý, chú tâm bình thường. Tính cách vô tư, khách quan, không thêm bớt khi quan sát của chánh niệm nói ở trên rất giống với ý tưởng của Bhante Gunaratana đã giới thiệu.

Tôi cũng đồng ý có thứ chánh niệm khác mà Alan Wallace trình bày trong bài viết bàn tới ở đây, dùng cho loại thiền khác. Chuyện đặt niệm ở đâu sẽ bàn sau.

Hoa Nguyen ‎. Hành tướng của Niệm

– Còn Niệm là thế nào, thưa đại đức?

– Niệm cũng có hai chức năng. Thứ nhất là nhắc nhở tâm, thứ hai là giúp tâm cầm nắm.

– Nhắc nhở tâm như thế nào?

– Thưa, bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan. Chức năng thứ nhất của Niệm là như vậy đó, tâu đại vương!

– Xin đại đức cho thí dụ.

– Vâng! Ví như người canh cửa của đức vua, y phải tự nhắc nhở mình thường xuyên là đừng có lơ đễnh nhiệm vụ, người nào đi vô đi ra phải biết. Như vị quan giữ kho của đức vua, y phải biết rõ đây là kho lương thực, đây là kho vàng bạc, vải vóc, quân nhu, khí giới v.v… Như vậy, Niệm như là người canh cửa, như vị quan giữ kho – đấy là chức năng thứ nhất, tâu đại vương!

– Vậy là trẫm đã hiểu. Còn “cầm nắm” là thế nào hở đại đức?

– Tâu đại vương! Một pháp phát sanh lên, niệm không những nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy mà còn “cầm nắm” trọn vẹn cái thiện, cái ác ấy nữa. Các pháp như tứ niệm xứ, tứ chánh cần, ngũ căn, ngũ lực… nghĩa là ba bảy trợ đạo phẩm, tứ vô lượng tâm cũng phải được hiểu như vậy.

– Trẫm muốn nghe ví dụ để hiểu rõ vấn đề hơn.

– Được thôi, tâu đại vương! Ví như người canh cửa của đức vua, sau khi không lơ đễnh nhiệm vụ thấy rõ người nào đi vô đi ra, mà còn biết đây là quan, đây là dân, đây là người được phép vào, đây là người không được phép vào. Ví như quan giữ kho của đức vua sau khi biết đây là kho vàng, kho bạc, kho lương thực mà còn nắm vững tình trạng của kho ấy, biết kho vàng, kho bạc nhiều hay ít, biết kho lương thực đầy hay vơi, v.v… Để khi vua cần hỏi, vị quan giữ kho có thể cho đức vua nắm rõ tài sản, kim ngân trong cung khố của mình. Chức năng thứ hai của Niệm là có thể trình cho biết các pháp lui tới tâm như thế nào, nó thiện hay ác, tốt hay xấu như vị quan giữ kho trình lên đức vua vậy tâu đại vương

– Cảm ơn đại đức. Ví dụ vậy là tuyệt hảo, trẫm “nắm giữ” được pháp và nghĩa của Niệm rồi.

* * *

Hoa Nguyen

Trên tôi vô ý đưa lên một đoạn trong kinh Mi-Tiên Vấn Đáp do HT Giới Nghiêm dịch (lấy trên trang nhà Buddha Sasana) nói về Niệm, mà chưa có lời nào giới thiệu. Theo ngài Mi-Tiên Niệm có hai chức năng: Thứ nhất là nhắc nhở tâm, thứ hai là giúp tâm cầm nắm. Về chức năng thứ nhất (ghi nhận một cách thuần tuý) tôi đã dẫn ý trong sách Anh ngữ của hai tác giả. Về chức năng thứ hai (“cầm nắm” trọn vẹn cái thiện cái ác) thì gần với ý của Alan Wallace. Tôi biết ngài Mi-Tiên nói về Niệm ở chỗ này nhân đọc một cuốn sách Anh ngữ, nhưng khi định tìm bản dịch tiếng Việt của Sư Indacanda đã thấy hôm nào thì lạc mất link. Ghi vắn tắt hai điều về Niệm đáng chú ý:

 

1/ bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan.

2/ Một pháp phát sanh lên, niệm không những nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy mà còn “cầm nắm” trọn vẹn cái thiện, cái ác ấy nữa.

Hoa Nguyen ‎@Anh Hạnh Trương.

Vấn đề dịch một câu trong kinh Nhập tức xuất tức đã có người nêu lên rồi, và chúng ta coi như đã được giải thích thoả đáng. Góp ý trên của tôi chỉ lấy đó làm một thí dụ về có nhiều bản dịch khác nhau, và tôi không nói bản dịch nào đúng hơn khi không có và không đọc được hai nguyên bản để so sánh. Cũng không thể so sánh bản dịch nếu hai nguyên bản khác nhau. Nhưng nhân đây chúng ta bàn vấn đề đặt (chánh) Niệm ở đâu khi hành thiền. Thử so sánh hai đoạn dịch sau đây, một của thầy Nhất Hạnh từ Hán tạng, và một của Sư Bhikkhu Indacanda từ tạng Pali. Tôi trích ở mỗi bên hai niệm có số thứ tự như nhau.

Kinh Quán Niệm hơi thở- Thiền sư Nhất Hạnh dịch

“Này đây, quý vị khất sĩ! Người hành giả đi vào rừng hoặc tới một gốc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế hoa sen, giữ thân cho thẳng và đặt vững chánh niệm trước mặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thở vào; thở ra, người ấy biết rằng mình thở ra.

1. Thở vào một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở ra một hơi dài.

6. Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc. Ta đang thở ra và cảm thấy an lạc. Người ấy thực tập như thế

Kinh Niệm Hơi Thở Vào – Hơi Thở Ra” – Bhikkhu Indacanda dịch

“Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

Kinh Niệm Hơi Thở Vào – Hơi Thở Ra” – Bhikkhu Indacanda dịch

1/ Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’

6/ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’

 

Nhận xét chỗ đáng chú ý : Thiền sư Nhất Hạnh dịch “đặt vững chánh niệm trước mặt mình”, giống với nhiều bản dịch tôi dẫn chứng trước, phần nhiều từ Hán tạng.

Bhikkhu Indacanda dịch “thiết lập niệm luôn hiện diện” (giống một bản dịch tiếng Anh tôi có (tác giả Nyanaponoka Thera, người Tích Lan) chỉ viết “keeps his mindfulness alert” , không nói rõ đặt chánh niệm ở đâu.

Sẽ tiếp.

Hiếu Nguyễn

Cách chú Hoa Nguyen tiếp cận vấn đề rất rộng rãi và phóng khoáng, kiến thức của chú cũng rộng rãi như cách chú tiếp cận vấn đề🙂

Anh Hạnh Trương nếu được thì triển khai thêm về việc kinh Nhập Tức Xuất Tức (trong một chủ đề khác) như anh nói ở trên nha. Cám ơn anh. Mấy tuần nay em cũng đọc đi đọc lại về phần tổng kết về niệm anh nói ở chủ đề bên kia, và em cũng có một số quan điểm của riêng em. Để tới khi quan điểm của em chín chắn hơn, em sẽ xin được thảo luận thêm với anh về niệm.

Xin 2 người tiếp tục tranh luận để mọi người được học hỏi.

Hạnh Trương

anh Hoa Nguyen, có lẽ anh xem kỹ hơn câu anh viết :

<<1/ bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan.>>

Bổn phận của Niệm là nhắc nhở tâm. (Dịch đúng phải là nhớ tới trách nhiệm), nhưng mà ý như vậy em thấy là ổn. Đồng ý là nhắc nhở tâm. Nhưng còn ghi nhận là vai trò của tâm, không phải là của Niệm. Anh đọc kỹ hơn chỗ này.

Niệm chỉ nhắc nhở “cần phải ghi nhận” . Còn ghi nhận là việc của tâm khác. Chỗ này không nên nhầm lẫn. Chúng ta đang nhầm lẫn cái gì? nhầm lẫn rằng Niệm ghi nhận . Không, Niệm không ghi nhận đối tượng. Niệm chỉ nhắc nhở là đó là cái cần ghi nhận, Niệm chỉ nhớ tới việc cần phải làm, Niệm nhớ tới đối tượng cần được theo dõi, Niệm nhắc nhở, nhớ tới trách nhiệm của tâm là phải hộ trì, phòng hộ. Niệm nhớ tới việc cần nắm giữ trạng thái thiện đã có để không bị bất thiện tái phát.

Em xin nhấn mạnh lần nữa, Niệm như là người đánh xe, chứ Niệm không trực tiếp làm các việc Ghi nhận, Chú Tâm, Chú Ý,…

Nếu chỗ này ta chưa thông, thì ta chưa thể bàn được về việc dịch là đặt niệm trước mặt là hợp lý, hay giữ niệm luôn hiện diện là hợp lý.

Khi nào chúng ta thông qua được chỗ này , em sẽ nói tại sao việc hiểu niệm sai dẫn tới tu niệm sai , dẫn tới các trường thiền tu Niệm có người bị điên, loạn thần kinh. Cái này là sai 1 ly là đi luôn.

Hiếu Nguyễn

‎”dẫn tới các trường thiền tu Niệm có người bị điên, loạn thần kinh” – anh Hạnh Trương có thể nói rõ thêm về phần này không?

Trường thiền anh nói là trường thiền nào, tu theo pháp nào? Tỷ lệ người bị điên, loạn thần kinh là bao nhiêu? Lý do họ bị điên và loạn thần kinh có phải trực tiếp do tu thiền theo “cách cũ” hay không? Họ có thường xuyên trình pháp và làm theo lời chỉ dạy của Thiền sư hay không?

Trong nghiên cứu khoa học, hẳn anh cũng biết khi có 2 sự việc vô tình cùng xảy ra thì chưa chắc đó là mối quan hệ nhân-quả: sự việc là nguyên nhân xảy ra sự việc kia. Có thể đó là do các nguyên nhân khác mà mình chưa chú ý tới, hoặc sự tổng hợp của nhiều nguyên nhân.

Vấn đề trọng yếu, mong anh trả lời!

Hạnh Trương

Vì nó rất ảnh hưởng nên mình đã cố gắng diễn đạt từ nhiều góc độ để chúng ta có thể hiểu Niệm là gì và không là gì. Một trường hợp rất kỳ lạ. Xem lại Kinh Điển, Vi Diệu Pháp, Thanh Tịnh Đạo, rồi ngay cả Mi Tiên vấn đáp đều có định nghĩa rồi giải thích rồi ví dụ rõ ràng về Niệm, mà không hiểu sao thời hiện đại này người ta lại hiểu Niệm là chú tâm, là quán sát…

… Ngài đã ngự sang Anh Quốc và cùng với SATI = CHÁNH NIỆM, ngài đã về Việt Nam… chắc là phải viết thêm câu chuyện vui mà Sư Indacanda đã nhắc tới ( vui mà mặt vẫn thế này😦 )

Hiếu Nguyễn

Anh Hạnh ơi, anh phải triển khai tiếp khái niệm về Niệm mà anh nhận thấy được từ kinh điển -> sự sai sót trong cách thực hành hiện nay mà anh thấy -> sự điều chỉnh pháp hành: thì mọi người mới thuyết phục.

Nếu anh chỉ chỉ ra định nghĩa về niệm, không thôi thì mọi người sẽ cho là không có liên quan tới pháp hành hoặc chỉ là lý thuyết vì đó chỉ là “cách hiểu kinh” thông qua chữ nghĩa đơn thuần. Em cũng cảm thấy có manh mối chút nào qua cách giải thích của anh rồi, nhưng vẫn còn lấn cấn một số điểm.

 

Em rất mong anh tiếp tục triển khai mạnh dạn và hoành tráng hơn theo cách hiểu của anh và sư Indacanda. Như vậy lợi lạc hơn cho thành viên trong Pali Việt.

Nhưng khái niệm như: “có niệm tôi thở vào” rất trừu tượng. Nếu niệm chỉ là sự nhớ vậy nó phải có đối tượng: nhớ cái gì. Như anh nói ở trên ghi nhận là việc của tâm. Vậy khi đó mình ghi nhớ là phải thở vào. Như vậy khác gì với pháp hành thông thường là hay biết và “theo dõi” sự thở vào. Khi hành theo pháp hành thông thường, thì tâm mình cũng thường xuyên phải tự nhắc tâm là “không bỏ rơi” hay phải nhớ việc đang làm (thở vào). Như vậy pháp hành thông thường, hiển nhiên là có niệm rồi, nó sai ở đâu?

Một ý kiến nữa anh đề cập là chánh niệm, nghĩa là sự ghi nhớ có mục đích nhưng mục đích này phải phù hợp với chánh kiến (chứ không ghi nhớ như thợ săn ngắm bắn) – và anh ví dụ để nhiếp phục tham dục. Theo kinh nghiệm pháp hành của em thì khi đã có sự “chú tâm” (như pháp hành phổ biến hiện nay) nếu có được sự nhận thấy sự xuất hiện của các tâm bất thiện như tham dục hay sân hận, thì tự các tâm này sẽ tan biến. Như vậy vẫn đạt được mục đích ban đầu. Anh nghĩ sao về vấn đề này?

Hoa Nguyen

Anh Hạnh Trương . Tôi copy y chang đoạn kinh đó từ trang Web. Tôi vẫn có ý tiếc không tìm lại được bản dịch khác của Sư Indacanda (tôi nhớ đã đọc đoạn ngài Nagasena nói về mộng trong bản đó). Nhân đây, lại cúi đầu khâm phục trí tuệ siêu phàm của ngài Nagasena. Đọc kinh nhiều khi phải hiểu “ý tại ngôn ngoại”, nhất là ở bản dịch.

Hạnh Trương

Anh Hoa Nguyen, anh nghĩ là có ngài Nagasena thật hay sao ?

Bhikkhu Indacanda

Nói chơi mà thiệt, nói thiệt mà chơi:

“Yêu là gì vậy, anh hai?” “Yêu là thế này, yêu là thế nọ.”

“Yêu là vậy sao!” “Vậy em hiểu rồi.”

Em hiểu rồi, vì em đã yêu.

Niệm cũng vậy. “Niệm là thế này, niệm là thế nọ.”

Thật sự “có niệm” thì biết ngay. “Niệm là vậy sao!” “À ha, mình cũng có niệm.”

Hoa Nguyen

Anh Hạnh Trương. Tôi chưa đào sâu chỗ này (cứ để tồn nghi). Nhưng vua Milinda cũng thông minh trí tuệ một cách đáng ngờ. Chưa chắc các cuộc đối thoại thật sự là như vậy (nghi ngờ kinh là tội lớn, xin sám hối). Điều lạ là Bắc tông và Nam tông đều có kinh/luận này (phiên âm là Na-Tiên và Mi-Tiên).

Bhikkhu Indacanda NIỆM – (Trích từ Milindapanha)

13. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, niệm có gì là tướng trạng?”

“Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng, có sự nắm lấy là tướng trạng?”

“Thưa ngài, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là thế nào?”

“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều nhắc nhở cho đức chuyển luân vương về sự vinh quang rằng: ‘Tâu bệ hạ, bệ hạ có chừng này voi, chừng này ngựa, chừng này cỗ xe, chừng này bộ binh, chừng này vàng khối, chừng này vàng ròng, chừng này tài sản, xin bệ hạ hãy ghi nhớ điều ấy,’ và không lơ đễnh về tài sản của đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

“Thưa ngài, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là thế nào?”

“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, nắm lấy quả là như vậy. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như vị tướng quân báu của đức chuyển luân vương biết được điều lợi ích và không lợi ích cho đức vua rằng: ‘Đối với đức vua, các điều này có lợi ích, các điều này không có lợi ích, các điều này hữu dụng, các điều này không hữu dụng,’ nhờ đó bỏ đi các điều không có lợi ích, nắm lấy các điều có lợi ích, bỏ đi các điều không hữu dụng, nắm lấy các điều hữu dụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta nói rằng niệm quả là có lợi ích về mọi mặt.’”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

Hạnh Trương Tuyệt vời!

Bhikkhu Indacanda

Trước đây, Sư có tâm sự với Hạnh Trương là <Tu là chính> rồi sau đó mới kiểm tra với kinh điển để khẳng định sự tiến triển và củng cố niềm tin trong việc tu tập. Thì NIỆM cũng vậy, phải tu tập về Tứ Niệm Xứ rồi từ từ nghiệm ra NIỆM là thế nào. Nói thật tình, ai cũng tự hào là bản thân mình là CÓ NIỆM, nhưng coi chừng cái CÓ NIỆM ảo tưởng đó khi đối chiếu với Kinh Điển lại là cái khác. Hoặc có thể CÓ NIỆM nhưng cái CÓ NIỆM đó chỉ là ngọn lửa của cây đèn dầu ở trong cơn gió mạnh.

Hạnh Trương ‎

Sư Trung Thiện : có sự ghi nhớ chân chánh về pháp nào đang diễn tiến nơi thân, thọ, tâm hay Pháp….gọi là hướng tới thực hành Tứ Niệm Xứ.

“VỀ PHÁP NÀO ĐANG DIỄN TIẾN …..”, thưa Sư, Sati không phải là sự ghi nhớ về pháp nào đang diễn tiến ạ🙂 .

<<NHỜ ĐÓ, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”>>

<<“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều NHẮC NHỞ cho đức chuyển luân vương >>

<<Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm TRONG KHI ĐƯỢC SANH LÊN thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng>>

Hạnh Trương

ôi chao Sư ơi, mong Sư hoan hỉ, hihi, vì cái thuật ngữ sati này nó … nên con đành phải canh me từng chữ, không lại không biết Phật sẽ qua nước nào nữa, hihi.

Bhikkhu Indacanda ‎

Hạnh Trương thấy văn tự nguy hiểm dễ sợ chưa! Nói thật Sư dịch vậy chứ Sư không hiểu tận tường ý nghĩa, cứ việc lắp từ lại với nhau mà thôi. Giờ đọc lại mấy chỗ Hạnh Trương làm thành chữ HOA mới giật mình, “may phước mà mình đã không bỏ đi mấy chữ đó.” Một trong những lý do Sư cứ nằng nặc không chịu bỏ đi phần Pali bên cạnh phần tiếng Việt, là để chạy tội: Lạy Phật, con hiểu sao con ghi vậy, chứ con không có nói đây là ý của Phật ạ.

Sư Trung Thiện: sư Bhikkhu Indacanda “khôn đúng Pháp” ! cần học tập

Bhikkhu Indacanda Pháp chân thật mà Sư.

Sư Trung Thiện

Thưa Đ.Đ kính mến, nói đến chân thật mới thấy đây không phải là Pháp dễ thực hiện. hôm rồi, trong khi nói Pháp, đã nói sai 1 câu. ngay lập tức Trung Thiện đã dừng lại và nói rằng, câu vứa rồi sư đã nói sai. Và thấy an vui…khi dám thú nhận ngay tại đó, ngay tức thì….

Vo Trong Phi

Người dịch kinh Phật có cái khổ ở chỗ này. Dịch hay, bóng bẫy, trau chuốc thì dễ đi xa nghĩa gốc, dễ mắc phải giới… nói dối. Bám sát nghĩa gốc thì người ta chê dở. Sư Indacanda dịch sát nguyên văn coi bộ an toàn!

Sư Trung Thiện

Tỳ khưu nào hoán chuyển thể dạng của Dhamma là phạm giới đó, là câu văn để nguyên là câu văn, là kệ thơ, để nguyên kệ thơ…

Hạnh Trương

Thưa Sư Indacanda, rất là phục Sư vì đã Sư đã kiên định dịch kinh đúng từng chữ như thế và còn song ngữ nữa. Với những người tìm pháp hành thì đây là điều quý vô cùng. Mong Sư có sức khỏe để tiếp tục công trình của mình.

Hoa Nguyen

Tôi xin chép lại đoạn kinh Na Tiên về Niệm trong bản dịch tiếng Anh để tiện đối chiếu. Tôi thấy không cần dịch đoạn này ra tiếng Việt, vì chỉ một chữ đáng so sánh với bản của Sư Indacanda là “keeping check” với “lơ đễnh” .

Trích từ cuốn “The Heart of Buddhist Medition” của Nyanaponika Thera, trang 188-189:

“The Characteristic Quality of Mindfulness

King Milinda asked: ‘What is the characteristic quality of mindfulness, Venerable Sir?’

The Venerable Nagasena replied: ‘It is the quality of keeping check and of retaining.’

_’In how far, Venerable Sir, is “keeping checking” characteristic of mindfulness?’

_’If mindfulness has arisen, one keeps check of things salutary or unsalutary, blameless or blameworthy, excellent or inferior, and (other) contrasts of dark and bright; and one knows: “These are the four Foundations of Mindfulness, these are the four Right Efforts, the four Roads of Spiritual Success, the five mental Faculties and Powers, the seven Factors of Enlightenment, this is the Noble Eightfold Path”. Knowing this, one practises what ought to be practised, and does not practise what ought not to be practised; one adopts what ought to be adopted, and does not adopt what ought not to be adopted. In that way, great king, has mindfulness the quality of keeping check.’

Như vậy lời giải thích trên là “rất giống” với quan điểm của Alan Wallace trích từ link cho ở đầu đề tài này.

Alan Wallace nói:

“Một khi niệm được đánh đồng với sự chú tâm thuần túy, nó dễ dàng dẫn đến sự nhận thức lệch lạc rằng việc tu tập niệm không liên quan với giới hay với sự tu dưỡng các tâm thiện và sự gạn trừ các tâm bất thiện.”

“Nói chung, chánh niệm phải được kết hợp với sampajañña (sự biết rõ mang tính phản kỷ theo tinh thần của giới) – mặt khác, nội quán phải bao gồm sự nhận thức rõ – và chỉ khi nào 2 yếu tố này hoạt động cùng nhau thì chánh niệm mới có thể hoàn thiện mục đính nó hướng đến. Đặc biệt, trong sự tu tập Tứ Niệm Xứ, chánh niệm phải hoạt động trên nền tảng Bát Chánh Đạo: chẳng hạn, nó phải được hướng đạo bởi chánh kiến, khích lệ bởi chánh tư duy, đặt cơ sở trên chánh giới (ngữ, nghiệp, mạng), và được tu tập cùng với chánh tinh tấn.”

Alan Wallace giải thích ông nhìn vấn đề từ quan điểm của thiền Minh Sát:

“Cho nên, chú tâm thuần túy hoàn toàn không mô tả được ý nghĩa hoàn thiện của Thiền Minh Sát, nó chỉ tương ứng với giai đoạn đầu trong quá trình thực tập thiền chánh niệm”.

Hạnh Trương

Em cứ tưởng là có thể đóng cái trao đổi này ở đây được rồi chứ, hihi. Chắc nhờ BS Phạm Doãn đóng giùm một phần đi ạ.

Để có thể làm rõ hơn vấn đề, theo anh Hoa Nguyen, thì Alan Wallace sẽ phân biệt thế nào là Niệm, Chánh Niệm, Tà Niệm và Thất Niệm ạ. Và theo anh hiểu thì thế nào ạ. Và anh cho ví dụ cụ thể để mình cùng nhau hiểu vấn đề.

Hoa Nguyen

Xin lỗi, Sư Indacnada dịch là “không lơ đễnh”, tôi khi viết lại thiếu chữ “không”.

Hoa Nguyen

Anh Hạnh Trương. Muốn biết AW nghĩ gì tạm thời đọc bài viết trên Thư Viện Hoa Sen có link ở trên. Còn tôi nghĩ gì về AW thì cũng đã nói nhiều (ở đây tôi là người nhắc tới tên AW nhiều nhất). Tôi bày tỏ khâm phục AW , nhưng đồng thời cũng viết trong các comment đầu là AW nêu hay nhấn mạnh một trong hai quan điểm khác nhau về Chánh niệm (nếu chưa có quan điểm thứ 3 thứ 4). AW cho Niêm phải hướng về thiện và xa rời bất thiện, còn quan điểm kia cho Niệm là “chú ý trần trụi”, vô tư, khách quan. Phần tôi nghĩ tuỳ giai đoạn Thiền mà chánh niệm sẽ là thế này hay thế kia, và cũng tuỳ loại Thiền, hay mục đích của hành thiền.

Quan điểm chánh niệm “đơn thuần” hay thuần tuý (trái với quan điểm của AW) có thể hiểu qua đoạn kinh sau đây:

“Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ, tưởng sẽ chỉ là thọ tưởng; trong cái thức tri sẽ chỉ là thức tri. Như vậy là đoạn tận khổ đau” (Tiểu bộ kinh I, trang 398, bản dịch của HT Minh Châu, 1982, theo chú thích của Thích Chơn Thiện).

Thầy Chơn Thiện giải thích thêm: Cho đến khi nào chánh niệm tỉnh giác không còn việc gì để làm nữa, nghĩa là cho đến khi nào mà các phản ứng tâm lý tham ái và chấp thủ bị loại ra hết ngoài cái nhìn, ngoài sự quan sát hay theo dõi các pháp của hành giả, thì cho đến khi ấy khổ đau được hoàn toàn đoạn tận, đấy là điểm cuối cùng của lộ trình tu tập giải thoát.

Hà Anh Nguyễn con luôn hoan hỷ với các bài post của bác Phạm Doãn Sadhu Sadhu

Phạm Doãn ‎@ Nguyen Dieu Ha Anh: Chỉ là giúp gom các comments vào một chủ đề thôi. Sau này dễ tìm lại để đọc!

Hiếu Nguyễn ‎@Anh Hạnh: Hôm nay, sau khi hành thiền, em bắt đầu hiểu được: niệm (sự ghi nhớ nhắc nhở), và sự chú tâm là 2 thứ khác nhau. Em cũng bắt đầu hiểu ý nghĩa của từ “thiết lập” và tác dụng “phòng hộ”. Cách dịch và dùng từ rất tuyệt vời. Xin cảm ơn Sư Bhikkhu Indacanda.

Phạm Doãn Hơn tháng nay tôi bệnh nặng. Không kịp đọc đủ các comments. Hôm nay mới khỏe lại. Lưu ý các vị admins, nên cùng chung sức, ví dụ khi thấy các đề tài quan trọng được thảo luận, thì nên bỏ chút thì giờ gom chúng lại thành một document để làm tài sản cho group. Như vậy cả người mới và người cũ đều có thể truy cập lại khi cần thiết. Kính.

Hiếu Nguyễn

Tình cờ mình đọc được đoạn này của ngài Thiền Sư Ajahn Chah, có liên quan tới niệm, rất sát sao với những gì mọi người đã thảo luân:

[…] The trick is to have sati taking control and supervising the mind. Once the mind is unified with sati a new kind of awareness will emerge. The mind that has developed calm is held in check by that calm, just like a chicken held in a coop…the chicken is unable to wander outside, but it can still move around within the coop. Its walking to and fro doesn’t get it into trouble because it is restrained by the coop. Likewise the awareness that takes place when the mind has sati and is calm does not cause trouble. None of the thinking or sensations that take place within the calm mind cause harm or disturbance. […]

Trong bài gốc tiếng Anh, sati để nguyên, không được dịch. Awareness, mindfulness là những từ khác. Ngài thiền sư cũng nêu rõ tác dụng của thiết lập niệm, tạo một “hàng rào bảo vệ”.

Đây là link của bài viết đầy đủ: http://www.what-buddha-taught.net/Books/Ajahn_Chah_Meditation.htm

Hiếu Nguyễn Bài này tương ứng với Chương 17: Thiền định, của cuốn sách “Suối nguồn tâm linh”. Nhưng người dịch trong sách dịch Sati là Rama Bhik

Không có sự khác biệt giữa Niệm( Sati) và Chánh Niệm( Sammāsati). Trong Pali từ niệm (Sati) không có trường hợp nào là xấu cả.
Theo Abhidhamma thì Niệm ( Sati) là Tâm sở Tịnh Hảo( Sobhanacetasika) liên kết với 59 tâm Tịnh hảo. Nêu những tâm Thiện như khi làm phước bố thí, giữ giới, hành Thiền đều có bóng dáng của Niệm. Còn sự chú tâm đơn thuần có trường hợp là Niệm, có trường hợp không có Niệm. Sự chú tâm này đôi lúc là Tầm( Vitakka) và Tứ ( Viāra).< Các vị học VDP xin kiểm lại>.
Trường hợp ví dụ như trên mà Hanh Truong đã đề cập, hoặc một ví dụ khác là con hổ chú tâm để săn mồi. Nó luôn hướng đến đối tượng< Tầm-Vitakka> và giữ tâm liên tục trên đối tượng là con mồi< Tứ-Vicāra>.
Sự chú tâm này có khi là nguy hiểm, khi một số vị hành Thiền họ nhớ lại những tư tưởng về Dục, hoặc những tư tưởng bất thiện khởi lên liên tục làm cho vị này có vẻ ” Định” trong vài tiếng đồng hồ.Nhưng mà định tâm này là Tà Định ( Micchāsamadhi).
Một điều rất khó cho ta biết là khi nào sự chú tâm đó là có Niệm hay không, có lẽ là phải căn cứ vào mục đích của hành động đó là Thiện hay Bất Thiện.
Với nhiều vị hành Thiền Minh sát , họ có thể thấy rõ những hoạt động tưởng như vô thức như duỗi chân co tay hay thở vào thở ra đều có sự tác động của tâm, và họ có thể thấy ra cái tác ý đó Thiện hay là Bất Thiện.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s