– Tác ý & Tuệ tri & Tưởng tri

THẢO LUẬN VỀ

TÁC Ý (manasikara) & TUỆ TRI (pajānāti) & TƯỞNG TRI (sañjānati)

–oo0Oooo–

Sư Indacanda:

Như lý tác ý và Yoniso manasikāra

– Quý vị hiểu như thế nào về cụm từ “như lý tác ý” ?

– Quý vị hiểu như thế nào về từ yoniso manasikāra ?

Xin quý vị đừng hỏi ngược lại Sư nghe, vì Sư cũng đang rối trí với những từ như thế này đây.

Phạm Doãn:

Con không biết tiếng Pali, chỉ hiểu theo khái niệm tiếng Việt: Tác ý (manasikara) là chủ động ý chí khi tiếp chạm đối tượng. Ví dụ khi thấy sự ác, mình chủ động ý chí loại trừ nó ra khỏi tâm trí. Vì việc diệt niệm ác khởi lên trong tâm thuận theo giáo lý của Đức Phật, thuận theo sự tiến hóa tâm linh đưa đến giải thoát nên gọi là “như lý tác ý” hay “theo lý tác ý” cũng được. Ngược lại chấp nhận niệm ác để nó tồn tại và giúp nó phát triển thì gọi là “phi như lý tác ý”.

Sư cô Nguyên Hương:

Yoniso manasikāra thường được dịch là ‘như lý tác ý’. Về chữ và nghĩa, phân tích khá vui! yoni: origin; realm of existence; the female organ; knowledge; species. (f.) yoni nghĩa đen là cái tử cung!

(yoniso: wisely; properly; judiciously. (adv.) ) manasikāra là tác ý thì có vẻ khá rõ ràng, nó cũng có thể hiểu như là vấn đề suy xét trong tâm. như vậy cụm từ có thể được hiểu là tác ý về cội nguồn, hay suy xét một cách có hệ thống. Tuy nhiên, theo một số thí dụ về cụm từ này trong kinh diển, ví dụ như M I, 2, 15: “jānato ahaṃ, bhikkhave, passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi, no ajānato no apassato. kiñca, bhikkhave, jānato kiñca passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmi? yoniso ca manasikāraṃ ayoniso ca manasikāraṃ. ayoniso, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā uppajjanti, uppannā ca āsavā pavaḍḍhanti; yoniso ca kho, bhikkhave, manasikaroto anuppannā ceva āsavā na uppajjanti, uppannā ca āsavā pahīyanti. Như vậy tác ý ở đây liên quan đến việc tu tập tâm trong sự tương tác với đối tượng. Khi căn và trần gặp nhau một cách có ý thức (tức là có xúc), tâm phải xử lý thông tin như thế nào để không có phiền não nghiệp chướng (āsavā) khởi lên do sự tiếp xúc đó. Như vậy yoniso ở đây có thể là xử lý có hệ thống hay hiểu biết đúng thì āsavā không sinh khởi được. Ngược lại ayoniso hay hiểu biết sai, xử lý không đúng cách thì tạo ra āsavā.

Phạm Văn So:

Con cũng rất bối rối khi gặp những thuật ngữ như Tưởng Tri, Tuệ Tri, Thắng Tri, Liễu Tri và rất mong gặp được bài viết đối chiếu Pali-Anh-Việt và ý nghĩa rõ ràng của những từ này.

Sư cô Nguyên Hương:

TƯỞNG TRI: trong tiếng Pali là sañjānati (san + jānati), có thể dịch nghĩa

đen là biết trong tâm, hay ý tưởng về một kinh nghiệm vừa đi qua.

Sañjānāti [saŋ+jānāti]

1. to recognize, perceive, know, to be aware of

2. to think to suppose

3. to call, name, nickname

Có một đoạn kinh rất hay trong Madhupinndika sutta (M I, 28) như sau:

“cakkhuñcāvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā V vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti P , yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.

Nghĩa là: khi con mắt tiếp xúc với sắc trần, nhãn thức sinh khởi; sự gặp gỡ của ba tác nhân (mắt, sắc & tâm tỉnh thức) là xúc; duyên xúc (tạo ra) thọ;

cái gì vừa thọ nhận (cảm giác) thì có tưởng tri (tri giác);

tưởng tri đó dẫn đến suy nghĩ: tầm (vitakketi)

những gì vừa suy nghĩ đem đến vọng tưởng (papañceti)

Vọng tưởng đó chính là nguyên nhân làm cho người ta trôi lăn trói buộc trong điên đảo mộng tưởng (papañcasaññāsaṅkh) liên đới với quá khứ-tương lai- hiện tại…

Đây là một đoạn kinh mô tả cực kỳ chính xác quá trình nhận thức và cách mà con người tạo ra tri thức có nền tảng trong vô minh, chưa giải thoát giác ngộ. Đoạn Kinh này được trích dẫn rất phổ biến để giải thích về nhận thức luận và tâm lý học Phật giáo (không phải Abhidhamma).

Hy vọng quí vị thấy thú vị với cách mà ngài Maha Ca-Chiên-Diên giải thích!

Sư Indacanda:

Sao mệt với mấy cái Tri này ghê!

Tuệ Tri = pajānāti ,

Thắng Tri = abhijānāti,

Liễu Tri = parijānāti.

Rồi sao nữa? Không lẽ phải đi học tiếng Hán để hiểu nghĩa mấy chữ này sao! Sư Cô Nguyên Hương lỡ giúp rồi thì giúp cho trót luôn đi. Còn thêm mấy chữ này nữa: vijānāti, paṭijānāti.

Không biết có còn thêm chữ nào phát xuất từ chữ jānāti không đây nữa?

Thêm từ này nữa: papañca, papañceti, HT. Minh Châu dịch là hý luận (vừa là danh từ, vừa là động từ), còn Sc. Nguyen Huong ghi nghĩa là vọng tưởng (vừa là danh từ, vừa là động từ).

papañca này ở ngữ cảnh khác còn có nghĩa là chướng ngại (obstacle) nữa.

Sư Hiếu Huỳnh (updated Aug 1, 2011)

1. Pāḷi

– Manasi (manas chia định sở cách): ở tâm ý, nơi tâm ý

– Kāra (√kar): hành vi, việc làm

>>> Manasikāra: hành động (cho đối tượng hiện hữu) nơi tâm ý

– Yoniso (yoni + so): tùy theo/phù hợp với căn bản, nguồn gốc; một cách sáng suốt, một cách hoàn hảo

2. Hán dịch

– Manasikāra 作意 tác ý mang nghĩa chú ý, dụng tâm

– Yoniso manasikāra: 从起源作意 tòng khởi nguyên tác ý (chú ý/dụng tâm tùy theo nguồn gốc xuất hiện), 如理作意 như lý tác ý (chú ý/dụng tâm theo như cái lý lẽ/chân lý)

– Ayoniso manasikāra: 未从起源作意 vị tòng khởi nguyên tác ý (chú ý/dụng tâm chưa theo nguồn gốc xuất hiện), 非如理作意 phi như lý tác ý (chú ý/dụng tâm trái với cái lý lẽ/chân lý)

hh tổng hợp từ vài cuốn từ điển, mọi người tham khảo và góp ý🙂

Phạm Doãn:

Tỳ khưu Thiện Minh dịch ý hành là (cetanā):

“tâm thức là bao gồm 7 sở hữu tâm (cetasika) – xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), ý hành (cetanā), nhất tâm (ekaggatā), mạng căn (jivitindriya), chú ý hoặc tác ý (manasikara).”

Cô Nguyên Hương:

Cetanā là tư tâm sở, theo Vi diệu pháp, nó là một trong bảy biến hành tâm sở mà manásikara là một như đã post bởi Bs Pham Doãn.

Thầy Viên Minh cũng thường đề cập đến cetanā là ‘tư’ và nó chính là tâm sở quyết định nghiệp được tạo tác trong tiến trình tương tác.

Sư Thiện Minh dịch là ý hành có thể theo tiếng Anh là intention/volition. cetanā xác định hiệu quả của kinh nghiệm lên tâm thức (của người đang kinh nghiệm), trong lúc đó manasikāra lại hướng nó đến một nhận thức nào đó.

” mấy cái Tri ” đó làm cho chúng ta thấy ngôn ngữ Pali rất phong phú! Trong một post trước đây con đã đề cập đến những thuật ngữ Pali xuất phát từ gôc -/jna là ‘nhận biết’ hay chỉ đơn thuần là ‘biết’. Nhưng vì các soạn giả Pali muốn chứng tỏ rằng người tu Phật thì có rất nhiều mức độ giác ngộ hay nhận biết nên họ sử dụng nhiều từ khác nhau để diễn tả cái ‘biết = tri’ đó.

Thưa sư và các đạo hữu, khi con nói CÁC SOẠN GIẢ PALI là ý rằng những người đã edit or redactors (người biên tâp) của các Kinh điển đó. Vì Kinh điển không được viết trực tiếp từ miệng ĐP khi ngài đang thuyết giảng theo kiểu ghi tốc lý thời nay, mà qua gần 500 năm sau mới viết thành văn lên lá bối, con nghĩ trong việc ghi chép này có sự thay đổi chút ít (bao nhiêu thì chúng ta không biết). Con đang viết Từ điển thuật ngữ Pali- Việt, nhưng rất tiếc là chưa xong. Trong tài liệu này con cố ý tránh dùng từ Hán-Việt nếu có thể. Vâng, các bản dịch của HT Minh Châu bị khó hiểu vì cái mớ từ Hán Việt đó.

Võ Trọng Phi:

Kính gởi sư! Lướt qua www.buddhanet.net, con thấy cetanā được dịch với các từ như sau: tác ý, ý hành, tư tác, tư tâm sở, tư, sự cố ý, sở hữu Tư, chủ ý.

Tuấn Lý:

– Về yoniso manasikāra, tôi thấy comment của Sư Hiểu Huynh là đầy đủ, súc tích, rõ nghĩa và dễ hiểu. Chữ này dịch như lý tác ý là tạm được rồi. Tôi sẽ bổ sung thêm vài lý do ở phần sau. Nếu cần thiết thì đổi “tác ý” thành “dụng tâm” hoặc “cân nhắc” (pondering): “dụng tâm như lý”, “như lý cân nhắc”…

– Về các loại tri, tôi “like” cả hai comments của Sư Indacanda và SC Nguyen Huong. Theo suy nghĩ của tôi, người học cần chấp nhận một số từ ngữ chuyên môn như một điều tất yếu. Chúng ta không thể dịch khác đi những chữ tích phân, lượng giác, phương trình, hình bình hành, hình thang, phân tử, nguyên tử, gia tốc, động năng, … Một quyển từ điển giải thích các từ ngữ chuyên môn là cần thiết. Quý Sư trong nhóm Pali-Việt song song với dịch thuật nên xây dựng thêm quyển từ điển này tương ứng với các từ ngữ quý Sư đã sử dụng. Có thể vài mươi năm nữa hậu thế lại bình phẩm quý sư dịch tối nghĩa, đọc không hiểu, vì thiếu quyển từ điển này. Hoặc quý sư chú thích ý nghĩ của những từ quan trọng phía dưới mỗi bài kinh lớn cho người đọc dễ tham khảo. Quan trọng ở công đức này nằm ở chỗ chỉnh sửa những đoạn bị dịch sai rõ rệt hơn là một số từ ngữ chuyên môn mà người học phải chấp nhận.

Đôi lời đóng góp theo sự nhận định của tôi.

Tôi xin đóng góp sự hiểu biết về bốn loại tri.

– Tưởng Tri (sañjānati): là loại chúng ta sử dụng thường ngày. Loại tri này lệ thuộc vào ký ức và sự đặt tên. Mắt ta thấy một cây bút, ta không quán sát gì nhiều nhưng vẫn biết ngay đó là một cây bút. Đó là tưởng tri. Tưởng tri nhờ cậy vào sự hiểu biết (và sự định danh) đã có trong quá khứ.

– Tuệ Tri (pajānāti): đó là sự nhận biết rõ rệt bằng <quán sát> — thay vì hời hợt trong quán sát và nhờ cậy vào ký ức. Trong English có chữ <”come to know”> để diễn tả ý này.

– Thắng Tri (abhijānāti): là một loại Tưởng tri nhưng kèm theo toàn bộ hiểu biết về đối tượng — thay vì chỉ định danh (xác định nó là cái gì), rồi bỏ qua như Tưởng Tri. Nghĩa là Thắng Tri có sự dừng lại, dồn hết hiểu biết đã có vào đối tượng. Ví dụ khi dịch một từ nào đó, ta dồn hết hiểu biết đã có, kinh nghiệm đã có vào từ ngữ ấy. Cái tri này gọi là Thắng Tri.

– Liễu Tri (pariññā): khác với Thắng Tri, loại tri dựa vào kinh nghiệm cá nhân, mang ý chủ quan. Liễu Tri là tri đi kèm toàn bộ hiểu biết <đầy đủ và chính xác> về đối tượng, mang nghĩa khách quan. Ta có thể đạt “Thắng tri về đối tượng” hơn là “Liễu tri về đối tượng” vì không dễ có hiểu biết chính xác và hiểu biết đầy đủ về đối tượng một cách khách quan. Liễu Tri là loại tri cao nhất.

Về dịch thuật, Liễu tri lấy chữ “liễu” tôi thấy thích hợp, Tưởng Tri lấy chữ “tưởng” theo saññā tôi thấy có mối liên hệ. Tuệ tri và Thắng tri, tôi không biết có cách dịch nào khác hơn không? Đặc biệt Tuệ tri tôi thấy không rõ nghĩa, mặc dù tạm gọi là ổn.

Phạm Doãn:

Sư Giác Chánh (Siêu Lý học, phần sở hữu tâm)

SỞ HỮU TÁC Ý (Manasikāra)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tác Ý là cách gom thâu đối tượng làm thành cảnh cho Tâm.

– Bốn ý nghĩa của Tác Ý:

1- Chơn tướng: Là cách hướng dẫn pháp tương ưng bắt cảnh trọn vẹn.

2- Phận sự: Là làm cho tâm phối hợp với cảnh.

3- Sự thành tựu: Là hướng tâm đến cảnh.

4- Nhân cần thiết: Là phải có cảnh.

Thí dụ: Như ống viễn kính thâu cảnh vật ở xa cho vừa tầm mắt được thấy.

II. Phân tích chi pháp: Sở hữu Tác Ý có 3 loại:

1- Tác Ý thành lộ.

2- Tác Ý thành đổng tốc.

3- Tác Ý thành cảnh.

Sư Hiếu Huỳnh:

Kiriyā kāro. Manamhi kāro manasikāro. Purimamanato visadisamanaṃ karotītipi manasikāro. Svāyaṃ ārammaṇapaṭipādako, vīthipaṭipādako, javanapaṭipādakoti tippakāro (visuddhi. 473)

Tác ý là cái tạo nên những gì sẽ được tạo, cái tạo nên trong tâm ý. Nó làm cho tâm khác với tâm hữu phần trước đấy, nên gọi là tác ý. Nó có ba cách làm việc này: kiểm soát đối tượng, kiểm soát lộ trình tâm và kiểm soát những tốc hành tâm. (Thanh Tịnh Đạo II. đoạn 152, Ni sư Trí Hải)

Dịch theo Ngài Tịnh Sự thì:

ārammaṇapaṭipādako >>Tác ý thành Cảnh

vīthipaṭipādako>>Tác ý thành lộ

javanapaṭipādako>> Tác ý thành Đổng tốc

tìm trong vài quyển sách, mọi người tham khảo.

Sư Indacanda:

Như vậy là thêm 1 từ Pali nữa cũng được dịch là “tác ý”:

– manasikāra

– cetanā

– paṭipādaka

Yoniso manamanasikāra: Kiểm tra lại bản dịch Phân Tích Đạo 2 tập và Milinda Vấn Đạo thì thấy cụm từ yoniso manamanasikāra đã được Tk. Indacanda dịch như sau:

– sự tác ý đúng đường lối (đa phần)

– sự tác ý đúng đắn (rất ít)

– sự chú tâm đúng đắn (1 lần)

Giờ ai mà hỏi vì sao đã dịch như vậy, thì cũng chẳng biết phải trả lời ra sao nữa. Kiểm tra lại thấy vậy thì biết vậy thôi.

Phạm Doãn:

Thưa sư, sư cô và đạo hữu: Khi ta quyết định lựa chọn làm một việc gì (will, volonte) thì có phải ta đã tác ý chưa? Và như vậy có phải ta đã dùng đến manasikara, hay ta đã dùng đến cetana, hay đã dùng cả hai? Con biết câu hỏi này khó, chỉ nên đặt ra cho các vị chuyên dạy Abhidhamma , nhưng sẵn cuộc thảo luận đây, có ai biết thì giúp giùm. Con rất cám ơn!

Võ Trọng Phi:

Kính gởi sư! Con tâm đắc với cụm từ “sự tác ý đúng đường lối” vì nó rõ ràng, cụ thể và khá sát với cụm Hán ngữ “như lý tác ý”. Với cetanā, con thấy các vị giảng sư Vi Diệu Pháp thay bằng từ Tư hoặc Sở Hữu Tư thì khá nhiều, gọi “tác ý” thay thế cho cetanā thì có vẻ ít hơn.

Sư Indacanda:

To BS Pham Doãn: Mỗi lần bí lối là Sư vào đây chiêm nghiệm. Dường như TƯ đi sau TÁC Ý một bước.

39- SỞ HỮU TƯ (Cetanā)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tư là trạng thái tính làm, quyết làm cố tâm.

– Bốn ý nghĩa của Tư:

1- Chơn tướng: Ðôn đốc pháp đồng sanh.

2- Phận sự: Làm cho pháp đồng sanh bắt cảnh.

3- Sự thành tựu: Sắp đặt được pháp đồng sanh.

4- Nhân cần thiết: Thọ, Tưởng và Thức uẩn.

Thí dụ: Người giám đốc xí nghiệp chỉ huy các công nhân làm việc.

42- SỞ HỮU TÁC Ý (Manasikāra)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tác Ý là cách gom thâu đối tượng làm thành cảnh cho Tâm.

– Bốn ý nghĩa của Tác Ý:

1- Chơn tướng: Là cách hướng dẫn pháp tương ưng bắt cảnh trọn vẹn.

2- Phận sự: Là làm cho tâm phối hợp với cảnh.

3- Sự thành tựu: Là hướng tâm đến cảnh.

4- Nhân cần thiết: Là phải có cảnh.

Thí dụ: Như ống viễn kính thâu cảnh vật ở xa cho vừa tầm mắt được thấy.

Phạm Doãn:

Con cám ơn câu trả lời trên đây của sư! mấy năm trước con có viết một bài ngắn (Con người ta có ý chí tự do hay không?). Viết xong rồi bế tắc! hì hì… Hôm nay con hỏi nhều về tác ý (manasikara), về tư (cetana) là mục đích muốn tìm hiểu xem cái ý chí con người khi lựa chọn một quyết định, nó là sở hữu tâm nào? Sở hữu Tác ý hay sở hữu tư hay là cả hai?

Sư Hiếu Huynh:

Sao thấy trong từ điển “paṭipādaka” chỉ mang nghĩa là “hỗ trợ, dẫn dắt, an bài, sắp đặt” nên nếu nói đầy đủ “tác ý thành cảnh” thì e rằng phải là ārammaṇapaṭipādaka manasikāra. con kính sư Bhikkhu Indacanda check dùm và nhờ bác Phạm Doãn có gì thì edit lại dùm.🙂

Tuan Ly

Manasikāra hướng tâm đến đối tượng để khảo sát đối tượng, tùy theo đối tượng thiện hay bất thiện nó trở thành thiện hay bất thiện. Cetanā điều phối phần việc còn lại, trong đó có “muốn” và thúc đẩy hành vi. Thiện hay bất thiện tùy vào cái nó “muốn”.

Khi đối tượng (cảnh) xuất hiện, tác-ý có mặt để hướng đến khảo sát đối tượng. Sau đó có thể xuất hiện khán-ý-môn, cũng là một loại tác-ý, kháng lại đối tượng qua ý môn và tạo tâm động lực kế tiếp. Sở hữu tư có thể xuất hiện để quản thúc, thúc đẩy hành vi thiện hoặc bất thiện.

Manasikāra phải có cảnh và Yoniso-Manasikāra cũng phải có cảnh. Ví dụ : “<Tịnh tướng>, này các Tỷ-kheo, nếu <không như lý tác ý>, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi”. Nghĩa là Yoniso-Manasikāra không đi một mình.

Vấn đề ở đây đạo hữu cần quan tâm không phải ở tác ý <vì tác ý luôn luôn có mặt> khi có cảnh. Học VDP ta nên để ý chỗ này. Vấn đề ở đây là ta có “cái lý như lý” để sử dụng hay không! :))

Trở về câu hỏi:

1. Manasikāra luôn có mặt;

2. Cetanā có hay không có tùy thuộc “sự chọn lựa” của câu hỏi. Nếu chọn lựa vô ý vô tác thì tất nhiên cetanā không có mặt. Cetanā thiện hay bất thiện cũng tùy vào cái nó muốn là gì.

Khi tu người ta có thể lo nghĩ mình có chịu tác ý hay không chịu tác ý. Ở đây ta thấy tác ý luôn có mặt khi có cảnh. Thế nên điều ta quan tâm phải là tác ý đúng cách hay tác ý không đúng cách (như lý hay phi như lý). Cần tìm hiểu về yoniso và làm sao có yoniso để sử dụng khi tác ý.

Phạm Doãn:

Cám ơn sư Tuan Ly đã phân tích rõ. Theo nguồn gốc của từ yoniso: yoni=uterus=nơi sinh ra, nơi khởi nguồn. Vậy yoniso ở đây là quay về nguồn, về uyên nguyên. Đời sống là ra đi. Tu tập là quay về. Đạo Phật có xác định một chiều quay của bánh xe pháp. Yoniso là thuận theo chiều quay bánh xe pháp. Ví dụ Dục là lực đẩy đời sống đi tới. Tác ý ly Dục là nổ lực đi ngược về.

Trí Việt:

Cháu thấy Tỳ Kheo Thanissaro dịch là : Appropriate attention, nghĩa là Sự chú tâm đúng đắn🙂

Phạm Doãn:

Tỳ khưu Thiện Minh dịch ý hành là (cetanā):

“tâm thức là bao gồm 7 sở hữu tâm (cetasika) – xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), ý hành (cetanā), nhất tâm (ekaggatā), mạng căn (jivitindriya), chú ý hoặc tác ý (manasikara).”

Sư Indacanda:

NHÓM THUẬT NGỮ: THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH, Ý HÀNH ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở 2 TRƯỜNG HỢP: manokamma, manosankhara

DỊCH THUẬT PALI: Tạm đúc kết như sau:

– Xác định cấu trúc của câu (đa số các dịch giả khi gặp cấu trúc lạ khó phân tích thường chọn lối dịch giảng, tỷ lệ may rủi có thể nói là 50-50)

– Chọn nghĩa của từ (xác định ngữ cảnh)

Atthakatha (Chú Giải) trợ giúp rất nhiều cho 2 việc trên.

Kiriyā kāro. Manamhi kāro manasikāro. Purimamanato visadisamanaṃ karotītipi manasikāro. Svāyaṃ ārammaṇapaṭipādako, vīthipaṭipādako, javanapaṭipādakoti tippakāro (visuddhi. 473)

Tác ý là cái tạo nên những gì sẽ được tạo, cái tạo nên trong tâm ý. Nó làm cho tâm khác với tâm hữu phần trước đấy, nên gọi là tác ý. Nó có ba cách làm việc này: kiểm soát đối tượng, kiểm soát lộ trình tâm và kiểm soát những tốc hành tâm. (Thanh Tịnh Đạo II. đoạn 152, Ni sư Trí Hải dịch từ bản Anh ngữ).

Tác là việc làm. Tác ý là việc làm ở ý. Tạo ra tâm không giống với tâm trước đó” nghĩa là tác ý. Cái này đây có ba sự thể hiện: dẫn đến cảnh, dẫn đến lộ (tâm), dẫn đến các (sát-na tâm) đổng tốc (Tk. Indacanda).

BẢN DỊCH ANH NGỮ GIÚP CHO VIỆC NHẬN DIỆN CẤU TRÚC CỦA CÂU VĂN PALI (NHƯNG CŨNG ĐỪNG LỆ THUỘC). VÀ CÓ MỘT SỐ NGỮ CẢNH CỦA CHÂU Á LÀ XA LẠ VỚI NGƯỜI CHÂU ÂU.

Tạm ngưng thảo luận ở mấy từ này thôi. Vấn đề ngữ nghĩa chưa chấm dứt đâu.

ĐỂ DỊCH LẠI CÁI ĐOẠN PALI DƯỚI ĐÂY THÌ PHẢI TỐN NHIỀU THỜI GIAN LẮM, VÌ PHẢI THAM KHẢO MỘT SỐ TÀI LIỆU. VÌ THẾ, CHỈ DỊCH ĐẠI KHÁI ĐOẠN NÀY ĐỂ CHO QUÝ VỊ THẤY ĐƯỢC VIỆC DỊCH “LỔN CỔN LẢNG CẢNG” CỦA NHÀ SƯ “MẮC DỊCH” CÓ GIÁ TRỊ NHƯ THẾ NÀO THÔI:

Tạng Kinh, Trung Bộ, bài 18: Kinh Mật Hoàn (Madhupiṇḍikasuttaṃ). Cái đoạn văn Pali này do Sc. Nguyên Hương nêu lên ở trên:

“cakkhuñcāvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti , yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.

Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại (HT. Thích Minh Châu).

Nghĩa là: khi con mắt tiếp xúc với sắc trần, nhãn thức sinh khởi; sự gặp gỡ của ba (tác nhân = mắt, sắc & tâm tỉnh thức) là xúc; duyên xúc (tạo ra) thọ; cái gì vừa thọ nhận (cảm giác) thì có tưởng tri (tri giác); tưởng tri đó dẫn đến suy nghĩ (tầm = vitakketi) những gì vừa suy nghĩ đem đến vọng tưởng (papañceti); vọng tưởng đó chính là nguyên nhân làm cho người ta trôi lăn trói buộc trong điên đảo mộng tưởng (papañcasaññāsaṅkhā) liên đới với quá khứ-tương lai- hiện tại… (Sư Cô Nguyên Hương giảng)

Này các đại đức, do mắt và các cảnh sắc, nhãn thức sanh liên. Sự hội tụ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, cảm thọ khởi lên. Cảm thọ cái nào thì nhận biết cái ấy; nhận biết cái nào thì suy tầm về cái ấy; suy tầm về cái nào thì tưởng tượng về cái ấy; tưởng tượng cái nào thì do nguyên nhân của điều ấy khiến sự xác định bởi tưởng tượng và nhận biết xảy đến cho con người khi các sắc được nhận thức bởi mắt ở các thời quá khứ, vị lai, và hiện tại (Tk. Indacanda).

BÂY GIỜ QUÝ VỊ CÓ THỂ SUY LUẬN RỒI ĐÓ.

(Hết)

Ghi chú: thêm một từ thường thấy trong Nikaya:

yathābhūtaṁ pajānāti: tuệ tri rõ như thực, như thực rõ biết

(Bổ sung của sư Rama ngày 20/08/2011)

Bhikkhu Rama

NHƯ LÝ TÁC Ý ( YONISO MANASIKĀRA)

A/ Thế nào là tác ý?

– Tác ý là tạo nên đối tượng nơi tâm,làm phát sinh đối tượng nơi tâm (Visayaṃ manasi kāro manasikāro) hoặc định nghĩa (ārammaṇapaṭipādako manasmiṃ kāroti manasikāro) –Abhi-aṭṭha-1-177;Visuddhi-2-9 6

– Như Lý Tác Ý có nghĩa là tác ý đúng cách, tác ý đường( Yoniso manasikāro nāma upāyamanasikāro pathamanasikāro)-( Dī-aṭṭha-2-236)

B/ Tác ý đúng cách, tác ý đường là như thế nào?

1.Ngũ uẩn này là Vô thường( Anicca) tác ý là Vô thường.

2.Ngũ uẩn này là Khổ( Dukkha) tác ý là Khổ.

3.Ngũ uẩn này là Vô ngã ( Anatta) tác ý là Vô ngã .

4.Ngũ uẩn này là Bất tịnh( Asubha) tác ý là Bất tịnh.

Chư Thiện hữu nào chuyên về Pháp Hành, muốn đi sâu vào làm thế nào để có Như Lý Tác Ý ,làm thế nào phát sinh tuệ Minh Sát trên 3 đặc tướng Vô Thường, Khổ, Vô ngã thì nên tham khảo thêm tài liệu Nibbānagāminipaṭipadā của ngài trưởng lão Pa-auk Sayadaw( Viện chủ hệ thống các trường thiền Pa-auk, hiện đang ở Myanmar) hoặc gặp trực tiếp các vị thiền sư có kinh nghiệm để được chỉ dẫn trực tiếp.

C/ Có 3 loại tác ý-manasikāra (Theo Abhi-Aṭṭha-1-177)

1.Ārammaṇapaṭipādakamanasikāra (Tác ý dẫn đến cảnh)

Tác ý này làm nhiệm vụ chính là làm phát sinh đối tượng nơi tâm.Tác ý ở đây chính là Tác ý tâm sở (manasikāra cetasika). Nó nằm trong 52 loại tâm sở.

2.Vīthipaṭipādakamanasikāra (Tác ý dẫn đến Lộ trình tâm)

Làm cho phát sinh lộ trình nên gọi là Tác ý dẫn đến lộ trình tâm (Vīthiṃ paṭipādayatīti vīthipaṭipādakamanasikāra):

Tác ý ở đây chính là Ngũ môn hướng tâm(Pañcadvāravajjanacitta).Nó làm phát sinh Nhãn Thức Tâm(Cakkhuviññāṇacitta)…Tiếp nhận tâm(Sampaṭicchanacitta)…v.v…và toàn bộ tiến trình tâm.

• Atī • na • da • Pañ • cak • sam • saṇ • vot • ja • ja • ja • ja • ja • ja • ja • ta • ta • bha • bha •

3.Javanapaṭipādakamanasikāra (Tác ý dẫn đến Tác Hành tâm):

Tác ý ở đây chính là Ý Môn hướng tâm(Manodvāravajjanacitta)=Xác định tâm(Voṭṭhabbana)

• na • da • Ma • ja • ja • ja • ja • ja • ja • ja • ta • ta • bha • bha •

Vấn đề ở đây là tác ý này nếu thuận theo Pháp (Yoniso) thì Tạo ra Thiện nghiệp, còn không thuận theo Pháp (Ayoniso) thì tạo ra Bất thiện nghiệp.

Khi có Như Lý Tác Ý, các bậc Thánh hữu học và phàm phu thì Tác Hành tâm này sẽ là: Thiện dục giới tương ưng với Tuệ( Mahākusala-ñāṇasampayutta),Còn

bậc Thánh Arahat sẽ là Tâm hành dục giới tương ưng với Tuệ( Mahākiriyā-ñāṇasampayutta).

Chính 2 Ngũ môn và Ý môn Hướng Tâm(Āvajjana) này- tức tác ý: tạo ra tâm không giống với tâm trước đó (Purimamanato visadisamanaṃ karotītipi manasikāro)

D/Nhân cần thiết để có Như Lý Tác Ý:

1.Bản thân khéo hành trì ( Attasammāpaṇidhi)

2.Lắng nghe Chánh Pháp ( Saddhammassavana)

3.Thân cận Thiện Trí Thức(Sappurisūpanissaya)

4.Ở trú xứ thích hợp ( Paṭirūpesavāsa)

5.Trước đây từng tạo Thiện nghiệp( Pubbe katapuññatā)

E/ Tầm quan trọng của Như Lý Tác Ý với người hành Pháp Phật:

Này các tỳ kheo, người có như lý tác ý các thiện pháp chưa sanh sẽ sanh, các bất thiện đã sanh sẽ diệt.(Yoniso, bhikkhave, manasi karoto anuppannā ceva kusalā dhammā uppa-jjanti uppannā ca akusalā dhammā parihāyanti)-(Aṅ-1-12)

Này các tỳ kheo, người có như lý tác ý các Pháp Giác Chi chưa sanh sẽ sanh, các Pháp Giác Chi đã sanh sẽ đưa đến Pháp Hành( Bhavanā) được tròn đủ.(Yoniso, bhikkhave, manasi karoto anuppannā ceva bojjhaṅgā uppajjanti, uppannā ca bojjhaṅgā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti)-(Aṅ-1-13)

F/ Người có Như Lý Tác Ý thì được 9 quả báu:

1. Vui mừng(pāmojja)

2. Hỷ(pīti)

3. Vắng lặng(passaddhi)

4. Lạc(sukha)

5. An Tịnh(passaddhi)

6. Biết như thật(yathābhūtaṃ pajānāti) (Theo Paṭisam-83)

7. Chán ngán( về luân hồi)(Nibbinda)

8. Ly dục(Virāga)=Thánh Đạo

9. Giải thoát(Vimutti)=Thánh Quả. (Theo Paṭisam-Aṭṭha-274)

Pāli Việt Như vậy là thêm 1 từ Pali nữa cũng được dịch là “tác ý”:
– manasikāra
– cetanā
– paṭipādaka

Yoniso manamanasikāra: Kiểm tra lại bản dịch Phân Tích Đạo 2 tập và Milinda Vấn Đạo thì thấy cụm từ yoniso manamanasikāra đã được Tk. Indacanda dịch như sau:
– sự tác ý đúng đường lối (đa phần)
– sự tác ý đúng đắn (rất ít)
– sự chú tâm đúng đắn (1 lần)
Giờ ai mà hỏi vì sao đã dịch như vậy, thì cũng chẳng biết phải trả lời ra sao nữa. Kiểm tra lại thấy vậy thì biết vậy thôi.

Phạm Doãn

Thưa sư, sư cô và đạo hữu: Khi ta quyết định lựa chọn làm một việc gì (will, volonte) thì có phải ta đã tác ý chưa? Và như vậy có phải ta đã dùng đến manasikara, hay ta đã dùng đến cetana, hay đã dùng cả hai? Con biết câu hỏi này khó, chỉ nên đặt ra cho các vị chuyên dạy Abhidhamma , nhưng sẵn cuộc thảo luận đây, có ai biết thì giúp giùm. Con rất cám ơn!

Phu Sa

‎”Ni sư Nguyên Hương”: Thưa sư và các đạo hữu, khi con nói CÁC SOẠN GIẢ PALI là ý rằng những người đã edit or redactors (người biên tâp) của các Kinh điển đó. Vì Kinh điển không được viết trực tiếp từ miệng ĐP khi ngài đang thuyết giảng the…See More

Phu Sa Từ điển thuật ngữ Pali- Việt:

Vo Trong Phi

Kính gởi sư! Con tâm đắc với cụm từ “sự tác ý đúng đường lối” vì nó rõ ràng, cụ thể và khá sát với cụm Hán ngữ “như lý tác ý”. Với cetanā, con thấy các vị giảng sư Vi Diệu Pháp thay bằng từ Tư hoặc Sở Hữu Tư thì khá nhiều, gọi “tác ý” thay thế cho cetanā thì có vẻ ít hơn.

Pāli Việt

To BS Pham Doãn: Mỗi lần bí lối là Sư vào đây chiêm nghiệm. Dường như TƯ đi sau TÁC Ý một bước.

39- SỞ HỮU TƯ (Cetanā)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tư là trạng thái tính làm, quyết làm cố tâm.
– Bốn ý nghĩa của Tư:

1- Chơn tướng: Ðôn đốc pháp đồng sanh.
2- Phận sự: Làm cho pháp đồng sanh bắt cảnh.
3- Sự thành tựu: Sắp đặt được pháp đồng sanh.
4- Nhân cần thiết: Thọ, Tưởng và Thức uẩn.

Thí dụ: Người giám đốc xí nghiệp chỉ huy các công nhân làm việc.

42- SỞ HỮU TÁC Ý (Manasikāra)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tác Ý là cách gom thâu đối tượng làm thành cảnh cho Tâm.

– Bốn ý nghĩa của Tác Ý:

1- Chơn tướng: Là cách hướng dẫn pháp tương ưng bắt cảnh trọn vẹn.
2- Phận sự: Là làm cho tâm phối hợp với cảnh.
3- Sự thành tựu: Là hướng tâm đến cảnh.
4- Nhân cần thiết: Là phải có cảnh.

Thí dụ: Như ống viễn kính thâu cảnh vật ở xa cho vừa tầm mắt được thấy.

Phạm Doãn

Con cám ơn câu trả lời trên đây của sư! mấy năm trước con có viết một bài ngắn (Con người ta có ý chí tự do hay không?). Viết xong rồi bế tắc! hì hì… Hôm nay con hỏi nhều về tác ý (manasikara), về tư (cetana) là mục đích muốn tìm hiểu xem cái ý chí con người khi lựa chọn một quyết định, nó là sở hữu tâm nào? Sở hữu Tác ý hay sở hữu tư hay là cả hai?

Phu Sa

Pali Viet: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-tudien-palviet/tdpv-00.htm http://tudien.daitangkinhvietnam.org/
English-Pali Dictionary: http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/dict-ep/index.htm Viet – Pali : http://buddhanet.net/budsas/un

i/u-tudien-palviet/vp-00.htm

Pali-English Dictionary: http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/dict-pe/index.htm Small Pali-English: http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/bud-dict/pali-gloss.htm Buddhist Dictionary: http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/bud-dict/dic_idx.htm Buddhistisches Wörterbuch : http://www.palikanon.com/wtb/wtb_idx.html
Glossary of P±li : http://www.vri.dhamma.org/general/glossary.html http://www.tipitaka.org/_old/vriroman/booklistframe2.html http://www.tipitaka.org/english/stp-pali-eng-parallel.html

Hieu Huynh

Sao thấy trong từ điển “paṭipādaka” chỉ mang nghĩa là “hỗ trợ, dẫn dắt, an bài, sắp đặt” nên nếu nói đầy đủ “tác ý thành cảnh” thì e rằng phải là ārammaṇapaṭipādaka manasikāra. con kính sư Bhikkhu Indacanda check dùm và nhờ bác Phạm Doãn có gì thì edit lại dùm.🙂

Tuan Ly

Phạm Doãn:
Manasikāra hướng tâm đến đối tượng để khảo sát đối tượng, tùy theo đối tượng thiện hay bất thiện nó trở thành thiện hay bất thiện. Cetanā điều phối phần việc còn lại, trong đó có “muốn” và thúc đẩy hành vi. Thiện hay bất thiện Manasikāra phải có cảnh và Yoniso-Manasikāra cũng phải có cảnh. Ví dụ : “<Tịnh tướng>, này các Tỷ-kheo, nếu <không như lý tác ý>, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi”. Nghĩa là Yoniso-Manasikāra không đi một mình.

Vấn đề ở đây đạo hữu cần quan tâm không phải ở tác ý <vì tác ý luôn luôn có mặt> khi có cảnh. Học VDP ta nên để ý chỗ này. Vấn đề ở đây là ta có “cái lý như lý” để sử dụng hay không! :))

Trở về câu hỏi:

1. Manasikāra luôn có mặt;

2. Cetanā có hay không có tùy thuộc “sự chọn lựa” của câu hỏi. Nếu chọn lựa vô ý vô tác thì tất nhiên cetanā không có mặt. Cetanā thiện hay bất thiện cũng tùy vào cái nó muốn là gì.

Khi tu người ta có thể lo nghĩ mình có chịu tác ý hay không chịu tác ý. Ở đây ta thấy tác ý luôn có mặt khi có cảnh. Thế nên điều ta quan tâm phải là tác ý đúng cách hay tác ý không đúng cách (như lý hay phi như lý). Cần tìm hiểu về yoniso và làm sao có yoniso để sử dụng khi tác ý.

Tuan Ly

Khi tu người ta có thể lo nghĩ mình có chịu tác ý hay không chịu tác ý. Ở đây ta thấy tác ý luôn có mặt khi có cảnh. Thế nên điều ta quan tâm phải là tác ý đúng cách hay tác ý không đúng cách (như lý hay phi như lý). Cần tìm hiểu về yoniso và làm sao có yoniso để sử dụng khi tác ý.

Phạm Doãn

Cám ơn sư Tuan Ly đã phân tích rõ. Theo nguồn gốc của từ yoniso: yoni=uterus=nơi sinh ra, nơi khởi nguồn. Vậy yoniso ở đây là quay về nguồn, về uyên nguyên. Đời sống là ra đi. Tu tập là quay về. Đạo Phật có xác định một chiều quay của bánh xe pháp. Yoniso là theo chiều quay bánh xe pháp. Ví dụ Dục là lực đẩy đời sống đi tới. Tác ý ly Dục là nổ lực đi ngược về.

Nguyễn Viết Huy

Cháu thấy Tỳ Kheo Thanissaro dịch là : Appropriate attention, nghĩa là Sự chú tâm đúng đắn🙂

Pāli Việt

To BS. Phạm Doãn:
Tỳ khưu Thiện Minh dịch ý hành là (cetanā):
“tâm thức là bao gồm 7 sở hữu tâm (cetasika) – xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), ý hành (cetanā), nhất tâm (ekaggatā), mạng căn (jivitindriya), chú ý hoặc tác ý (manasikara).”
NHÓM THUẬT NGỮ: THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH, Ý HÀNH ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở 2 TRƯỜNG HỢP: manokamma, manosankhara

Pāli Việt

DỊCH THUẬT PALI: Tạm đúc kết như sau:
– Xác định cấu trúc của câu (đa số các dịch giả khi gặp cấu trúc lạ khó phân tích thường chọn lối dịch giảng, tỷ lệ may rủi có thể nói là 50-50)
– Chọn nghĩa của từ (xác định ngữ cảnh)
Atthakatha (Chú

Giải) trợ giúp rất nhiều cho 2 việc trên.

Kiriyā kāro. Manamhi kāro manasikāro. Purimamanato visadisamanaṃ karotītipi manasikāro. Svāyaṃ ārammaṇapaṭipādako, vīthipaṭipādako, javanapaṭipādakoti tippakāro (visuddhi. 473)
Tác ý là cái tạo nên những gì sẽ được tạo, cái tạo nên trong tâm ý. Nó làm cho tâm khác với tâm hữu phần trước đấy, nên gọi là tác ý. Nó có ba cách làm việc này: kiểm soát đối tượng, kiểm soát lộ trình tâm và kiểm soát những tốc hành tâm. (Thanh Tịnh Đạo II. đoạn 152, Ni sư Trí Hải dịch từ bản Anh ngữ).
Tác là việc làm. Tác ý là việc làm ở ý. Tạo ra tâm không giống với tâm trước đó” nghĩa là tác ý. Cái này đây có ba sự thể hiện: dẫn đến cảnh, dẫn đến lộ (tâm), dẫn đến các (sát-na tâm) đổng tốc (Tk. Indacanda).

BẢN DỊCH ANH NGỮ GIÚP CHO VIỆC NHẬN DIỆN CẤU TRÚC CỦA CÂU VĂN PALI (NHƯNG CŨNG ĐỪNG LỆ THUỘC). VÀ CÓ MỘT SỐ NGỮ CẢNH CỦA CHÂU Á LÀ XA LẠ VỚI NGƯỜI CHÂU ÂU.

Phạm Doãn

Cám ơn Sư và tất cả các đạo hữu. Vậy thì ta có thể tạm kết thúc thảo luận này tại đây.

Pāli Việt

Tạm ngưng thảo luận ở mấy từ này thôi. Vấn đề ngữ nghĩa chưa chấm dứt đâu.

ĐỂ DỊCH LẠI CÁI ĐOẠN PALI DƯỚI ĐÂY THÌ PHẢI TỐN NHIỀU THỜI GIAN LẮM, VÌ PHẢI THAM KHẢO MỘT SỐ TÀI LIỆU. VÌ THẾ, CHỈ DỊCH ĐẠI KHÁI ĐOẠN NÀY ĐỂ CHO QUÝ VỊ THẤY ĐƯỢC

VIỆC DỊCH “LỔN CỔN LẢNG CẢNG” CỦA NHÀ SƯ “MẮC DỊCH” CÓ GIÁ TRỊ NHƯ THẾ NÀO THÔI:

Tạng Kinh, Trung Bộ, bài 18: Kinh Mật Hoàn (Madhupiṇḍikasuttaṃ). Cái đoạn văn Pali này do Sc. Nguyên Hương nêu lên ở trên:

“cakkhuñcāvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti , yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.

Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại (HT. Thích Minh Châu).

Nghĩa là: khi con mắt tiếp xúc với sắc trần, nhãn thức sinh khởi; sự gặp gỡ của ba (tác nhân = mắt, sắc & tâm tỉnh thức) là xúc; duyên xúc (tạo ra) thọ; cái gì vừa thọ nhận (cảm giác) thì có tưởng tri (tri giác); tưởng tri đó dẫn đến suy nghĩ (tầm = vitakketi) những gì vừa suy nghĩ đem đến vọng tưởng (papañceti); vọng tưởng đó chính là nguyên nhân làm cho người ta trôi lăn trói buộc trong điên đảo mộng tưởng (papañcasaññāsaṅkhā) liên đới với quá khứ-tương lai- hiện tại… (Sư Cô Nguyên Hương giảng)

Này các đại đức, do mắt và các cảnh sắc, nhãn thức sanh liên. Sự hội tụ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, cảm thọ khởi lên. Cảm thọ cái nào thì nhận biết cái ấy; nhận biết cái nào thì suy tầm về cái ấy; suy tầm về cái nào thì tưởng tượng về cái ấy; tưởng tượng cái nào thì do nguyên nhân của điều ấy khiến sự xác định bởi tưởng tượng và nhận biết xảy đến cho con người khi các sắc được nhận thức bởi mắt ở các thời quá khứ, vị lai, và hiện tại (Tk. Indacanda).

BÂY GIỜ QUÝ VỊ CÓ THỂ SUY LUẬN RỒI ĐÓ.

Nguyen Huong

Khi người ta quyết định lựa chọn làm một việc gì, trước hết có sự khởi tâm hướng đến đối tượng cần làm – đó là tác ý (manasikaara), nhưng sự ‘quyết định lựa chọn’ lại là TƯ (cetanaa) – thuộc về một lộ trình tâm khác trong tiến trình suy ngh

ĩ về giải pháp hành động. Những tiển tình tâm này xẩy ra rất nhanh trong đầu, cái này dẫn đếncái kia theo một tiến trình nhân quả, nên ít người nhận biết được quá trình phân tích, nhận xét và quyết định mà tâm đưa ra khiến họ nói hay hành động theo một cách nào đó. Khi tu thiền, hành giả bắt đầu học cách nhận biết các tiến trình tâm sinh khởi, cái gì dẫn đến cái gì, cái gì nên theo, cái gì không nên theo (vì sẽ dẫn đến phiền não nghiệp chướng).

Nguyen Thach Nguyen Huu

Như lý Tác ý (manasikara) là một trong bảy 7 yếu tố cơ bản luôn có mặt trong tất cả tâm. Nó có nhiệm vụ tự nhiên ban đầu là dẫn tâm về một trong hai hướng (mặt) của đối tượng. Nếu nhận đối tượng theo hướng chân thực thì gọi là như lý tác ý,

nếu nhận đối tượng theo hướng chủ quan thì gọi là phi như tác ý. Ví dụ thấy sợi dây như nó là tức hướng thấy đúng thì gọi là như lý tác ý. Nếu thấy sợi dây là con rắn tức hướng thấy ảo tưởng thì gọi là phi như tác ý. Nhiều người hiểu lầm như lý tác ý là ý chí quyết định đúng, và phi như tác ý là ý chí quyết định sai. Như vậy là nhầm lẫn tác ý với tư tác (cetana). Đối trị phóng tâm không phải là công việc của tác ý. Cố ý dùng ý chí đối trị phóng tâm tức muốn loại bỏ phóng tâm thì đó là một tâm sân, chỉ làm cho phóng tâm tăng thêm, hoặc làm cho tâm căng thẳng, mệt mỏi, đưa đến hôn trầm thụy miên, một trạng thái ngược hẵn với phóng tâm nhưng cả hai đều có trạng thái si giống nhau. Chính tầm (vitakka) mới làm công tác hướng tâm đến đối tượng. Khi tầm vừa đủ thì tứ (vicara) giúp tâm giữ thăng bằng trên đối tượng. Khi tâm lập lại thăng bằng thì hỷ (piti) phát sinh khiến cho sân tự rút lui. Sau đó hỷ dịu xuống thì lạc (an ổn) đến và lập tức phóng tâm (trạo hối) tự rút lui chứ không cần dùng ý chí đối trị. Cần nắm vững điều này nếu không chỉ tạo chiến tranh nhị nguyên của bản ngã trong thiền định. Thắng thì sinh ngã mạn tự tôn, bại thì tự ty mặc cảm, đều chỉ là biểu hiện của cái ta háo thắng mà thôi.

Đơn Sa

Con xin kính chào các sư và thân chào các đạo hữu
Trong quá trình tìm hiểu kinh điển, sách vở quả thực những từ như: Tưởng Tri, Tuệ Tri, Thắng Tri, Liễu Tri,…nhiều lần cũng làm cho con khó hiểu.
Nhất là từ “Liễu Tri” theo con hiểu đó là cái “Tri” cao quý nhất trong các “Tri” ở trên. Mà không hiểu sao lại có từ “Liễu” ở trong này (xét về mặt từ ngữ)
Hiện nay, con đang nghĩ rằng:
Tưởng Tri =~ thường biết
Tuệ Tri =~ biết giỏi
Thắng Tri =~ biết rõ
Liễu Tri =~ biết thật
(biết ở đây bao gồm: nghĩ, nghe, thấy,…)
Không biết con nghĩ thế có được không, Mong quý sư và các đạo hữu chỉ bảo thêm

Vo Trong Phi

Liễu là từ Hán Việt, có nghĩa: xong, hết, đã, rồi. “Liễu tri” có thể hiểu là biết rồi, biết từ đầu đến đuôi, biết rốt ráo. “Tuệ tri” có thể hiểu là hành động/cái biết của tuệ.

Hiếu Nguyễn

Không biết đào bới lại topic này có làm phiền mọi người không ạ?

Con có đọc topic này nhiều lần và thấy vấn đề tác ý, tư và các tri đã được làm khá rõ, nhưng như Sư Tuan Ly đã nói, phần NHƯ LÝ (yoniso) thì cần được chú ý hơn.

(1) Như lý,

hợp cách, đúng đắn là theo tiêu chí nào? Có đoạn kinh nào Đức Phật chỉ rõ ra cách mà ta cần phải “tác ý” không ạ?’

(2) Vai trò của Như Lý Tác Ý trong tu tập là thế nào? Có phải nó sử dụng để “chiến đấu” với các bất thiện pháp sau khi nó đã lọt qua sự phòng hộ và canh gác của Niệm hay không ạ (nghĩa là sau khi phòng hộ thất bại)?

Hiếu Nguyễn

Anh Hạnh gợi mở thêm một xíu đường lối, “chỗ” để tìm hiểu thêm đi ạ.

Hạnh Trương

Thấu được LÝ sẽ hiểu được “như lý”🙂
đây cũng lại là một đề tài nữa, cũng phức tạp chứ chẳng dễ

Hạnh Trương

Lúc chiết tự, Sư Hieu Huynh có ghi rồi đó, lần theo cái đó cũng là một đường.
Một cách khác là dùng “luật tự nhiên” để hiểu bản thể (vốn vô hình, vô tướng), để về với khởi thủy của các pháp
Một cách khác nữa là thử tóm gọn cả giáo pháp của Phật vào vài chữ🙂

Hiếu Nguyễn

Em tìm ra 1 bài kinh Tương Ưng, chuyên về vụ này:
55.VII. Như Lý (1) (Yoniso). (S.v,31)

1) …
2)– Này các Tỷ-kheo, như cái đi trước và điềm tướng báo trước mặt trời mọc, tức là rạng đông; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái đi trước và điềm tướng báo trước Thánh đạo Tám ngành sanh khởi chính là đầy đủ như lý tác ý (yonisomana-sikàrasampadà).

3) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ như lý tác ý này, thời chờ đợi rằng Thánh đạo Tám ngành sẽ được tu tập, Thánh đạo tám ngành sẽ được sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ như lý tác ý, tu tập Thánh đạo Tám ngành, và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ… tu tập chánh định, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ như lý tác ý, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-45a.htm

Hạnh Trương

“Sự chú tâm” không ổn lắm đâu ạ

Vô Vô Không: http://khemarama.com/?p=6240


5 phản hồi on “– Tác ý & Tuệ tri & Tưởng tri”

  1. Vô thủ nói:

    @Hiếu Nguyễn: ” (1) Như lý,

    hợp cách, đúng đắn là theo TIÊU CHÍ Nào? Có Đoạn KINH NÀO Đức Phật Chỉ Rõ Ra Cách Mà Ta Cần Phải “TÁC Ý” Không Ạ? ”

    Này Hiền giả! Hãy lóng nghe và khéo Tác Ý !

    – Này Hiền giả! Thế Tôn đã dạy: “nếu các du sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi?”, thời vị ấy cần phải được trả lời: “Tất Cả Pháp lấy TÁC Ý làm Sanh khởi” (chương X, phẩm VI, Tăng Chi Bộ kinh)

    này Hiền giả! “Tất Cả Pháp” gì, mà các Pháp ấy lấy “TÁC Ý” làm Sanh khởi?
    ở đây,này Hiền giả, các Pháp như: “Lậu hoặc, Tri Kiến, Nghiệp, Tinh Tấn, Chánh niệm Tỉnh giác, 5 Triền cái, 7 Giác chi, 8 Thánh đạo” là các Pháp đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác giảng dạy.

    LẬU HOẶC
    – “Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc Cho Người BIẾT, Cho Người THẤY, KHÔNG Phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: CÓ Như Lý Tác Ý và KHÔNG Như Lý Tác Ý.
    Này các Tỷ-kheo, do KHÔNG Như Lý Tác Ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.
    Này các Tỷ-kheo, do Như Lý TÁC Ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
    ………….
    Vị ấy Như Lý Tác Ý:”đây là Khổ”, Như Lý Tác Ý:”đây là khổ Tập”, Như Lý Tác Ý:”đây là khổ Diệt”, Như Lý Tác Ý:”đây là Con Đường đưa đến khổ diệt”. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ.
    Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các Lậu Hoặc phải do tri Kiến được đoạn trừ.” (kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc – Trung Bộ kinh)

    THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH
    “55.VII. Như Lý (1) (Yoniso). (S.v,31)
    1) …
    2)– Này các Tỷ-kheo, như cái Đi Trước và điềm tướng Báo TRƯỚC mặt trời mọc, tức là rạng đông; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Cái Đi TRƯỚC và điềm tướng báo trước Thánh đạo Tám ngành sanh khởi chính là đầy đủ Như Lý TÁC Ý (yonisomana-sikàrasampadà).
    3) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ Như Lý TÁC Ý này, thời chờ đợi rằng Thánh đạo Tám ngành sẽ được tu tập, Thánh đạo tám ngành sẽ được sung mãn.” (Tương ưng Đạo,phẩm IV – Tương Ưng Bộ kinh)

    KIẾN
    “Ta Không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do Pháp ấy, Chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay Chánh kiến đã sanh được tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, như Như Lý TÁC Ý.
    Do Như Lý TÁC Ý, này các Tỷ-kheo, Chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay Chánh kiến đã sanh được tăng trưởng.” (Chương I,Phẩm XVII – Tăng Chi Bộ kinh)

    Hay là:
    Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai?
    “Tiếng Nói Của Người Khác” và “Không Như Lý TÁC Ý”. Những Pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai Duyên khiến Tà Kiến sanh khởi.
    Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến Chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? “Tiếng Nói Của Người Khác” và “Như Lý TÁC Ý”. Những Pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai Duyên khiến Chánh kiến sanh khởi.” (Chương II,phẩm XI – Tăng Chi Bộ kinh)

    do nhân này,do duyên này, này Hiền giả! đầu MỌI Thời Pháp, Thế Tôn LUÔN nhắc nhở và sách tấn các Đệ tử: “Này các Ty-kheo, hãy lóng Nghe và khéo TÁC Ý, Ta sẽ nói… ”;

    vì sao vậy,này Hiền giả? vì rằng:
    Có Hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? “Người Độc Ác với Tâm đầy Sân Hận”, và “người có Lòng Tin Với TÀ Kiến”. Này các Tỷ-kheo, có Hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.” (chương II,phẩm III – Tăng Chi Bộ kinh)

    lại nữa, này Hiền giả:
    “có hạng người đi đến khu vườn(tinh xá) thường thường nghe pháp từ các Tỷ-kheo, các vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho người ấy, Sơ Thiện, Trung Thiện, Hậu Thiện, có Nghĩa, có Văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người ấy, Tại Chỗ Ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, KHÔNG Có Tác Ý đến đoạn Đầu, KHÔNG Có Tác Ý đến đoạn Giữa, KHÔNG Có Tác Ý đến đoạn Cuối. Cũng vậy, khi người ấy Từ Chỗ Ngồi Ấy Đứng Lên, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy KHÔNG Có Tác Ý đến đoạn Đầu, KHÔNG Có Tác Ý đến đoạn Giữa, KHÔNG Có Tác Ý đến đoạn Cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, một cái ghè bị Lộn Ngược, nước chứa trong ấy tuôn chảy, không có dừng lại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ Lộn Ngược.” (chương III,phẩm III – Tăng Chi Bộ kinh)

    như vậy, này Hiền giả! 1 người đến học tập trong Chánh pháp, nếu như người ấy không có khéo lóng Nghe, “không có khéo Tác Ý” trên những gì được nghe, thời KHÔNG Có Lợi Ích cho người ấy và vị ấy hoàn toàn có thể trở thành người “Có Lòng Tin và xuyên tạc Như Lai”.

    NGHIỆP
    “Phàm có những pháp nào, này các Tỷ-kheo, dự phần về Thiện và Bất thiện, nhưng thuộc về Phần THIỆN, Tất Cả Những Pháp Ấy lấy Như Lý TÁC Ý làm căn bản, lấy Như Lý TÁC Ý làm chỗ quy tụ; Như Lý TÁC Ý được gọi là TỐI THƯỢNG đối với những pháp ấy.” (Tương ưng Giác Chi,phẩm IV – Tương Ưng Bộ kinh)

    “Ý Dẫn Đầu Các Pháp. Ý Làm Chủ, Ý Tạo,
    Nếu tác Ý nhiễm ô, Nói lên hay hành động,
    Khổ não liền theo sau, như xe theo bò kéo.
    Ý Dẫn Đầu Các Pháp. Ý Làm Chủ, Ý Tạo,
    Nếu tác Ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động,
    An lạc liền theo sau, như bóng chẳng rời hình” (Kệ số 01 – Kinh Pháp Cú)

    “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ác Nghiệp được làm, ác Nghiệp được tiếp tục làm? … Này Mahàli, do nhân PHI Như Lý TÁC Ý, do duyên PHI Như Lý TÁC Ý, ác Nghiệp được làm, ác Nghiệp được tiếp tục làm.
    Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thiện Nghiệp được làm, thiện Nghiệp được tiếp tục làm? … Này Mahàli, do nhân Như Lý TÁC Ý, do duyên Như Lý TÁC Ý, Thiện Nghiệp được làm, Thiện Nghiệp được tiếp tục làm.”(Chương X,phẩm V – Tăng Chi Bộ kinh)

    “Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các triền ách, sau khi làm thành nội chi phần, Ta Không Thấy Một Chi Phần Nào Khác, được nhiều lợi ích như vậy, này các Tỷ-kheo, tức là Như Lý TÁC Ý.
    Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo Như Lý TÁC Ý, Từ Bỏ BẤT Thiện, Tu Tập THIỆN.” (kinh Phật Thuyết Như Vậy,chương I,phẩm II – Tiểu Bộ kinh)

    TINH TẤN
    “7.- Ta Không Thấy Một Pháp Nào Khác, này các Tỷ-kheo, do Pháp ấy, các pháp Thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp Bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, như Như Lý TÁC Ý. Với người Như Lý TÁC Ý, này các Tỷ-kheo, các pháp Thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp Bất thiện đã sanh được đoạn tận.” (chương I,phẩm Tinh Tấn – Tăng Chi Bộ kinh)

    “Này các Tỷ kheo, và thế nào là Chánh tinh tấn? Này các Tỷ kheo,
    ở đây Tỷ kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, Khởi Lên Ý Muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí.
    Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, Khởi Lên Ý Muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí.
    Ðối với các Thiện pháp chưa sanh, Khởi Lên Ý Muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí.
    Ðối với các Thiện pháp đã sanh, Khởi Lên Ý Muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí.
    Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tinh tấn.” (Đại kinh Niệm xứ – Trường Bộ kinh)

    CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC
    “Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng KHÔNG Chánh Niệm Tỉnh Giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và Cái Gì là thức ăn cho KHÔNG Chánh Niệm Tỉnh Giác? PHI Như Lý TÁC Ý, cần phải trả lời như vậy.
    ……………
    Này các Tỷ-kheo, Chánh Niệm Tỉnh Giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái gì là thức ăn cho CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC? Như Lý TÁC Ý, cần phải trả lời như vậy” (Chương X,phẩm VII – Tăng Chi Bộ kinh)

    * tóm lại:
    Khởi đầu “điềm Đi TRƯỚC, điềm Báo TRƯỚC” Thánh Đạo Tám Ngành sẽ sanh khởi & được tu tập viên mãn, là Như Lý TÁC Ý. Kế đến, Như Lý TÁC Ý phản ánh và Tác Động vào “từng chi phần” của Thánh đạo Tám ngành, gồm có: CHÁNH Kiến, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm. Đặc biệt là nếu khéo Như Lý TÁC Ý trên 4 Thánh Đế, tức là “KHỔ,TẬP,DIỆT,ĐẠO” thời có thể đoạn diệt 3 Kiết sử, chứng quả Dự lưu.

    5 TRIỀN CÁI
    “I. Món Ăn Của Các Triền Cái
    1-2) …
    3) — Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Dục THAM (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có TỊNH Tướng, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    4) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho SÂN chưa sanh được sanh khởi; hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có CHƯỚNG NGẠI Tướng (patighanimittam), này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    5) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Hôn Trầm Thụy Miên chưa sanh được sanh khởi; hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? KHÔNG Hân Hoan, Biếng Nhác, Chán Nản, Ăn Quá No, Tâm Uể Oải. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    6) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Trạo Hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có Tâm Chưa Được CHỈ Tịnh, này các Tỷ-kheo. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    7) Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Có Các Pháp Trú Xứ Của Nghi hoặc. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    III. Không Phải Món Ăn Cho Các Triền Cái
    15) — Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có bất tịnh tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho dục tham chưa sanh được sanh khởi, hay dục tham đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    16) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có từ tâm giải thoát. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho sân chưa sanh được sanh khởi, hay sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    17) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có phát cần giới, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    18) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có tâm chỉ tịnh. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho trạo hối chưa sanh được sanh khởi, hay trạo hối đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.
    19) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại? Này các Tỷ-kheo, có pháp thiện và bất thiện, có pháp có tội và không có tội, có pháp liệt và thắng, có pháp dự phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được tăng trưởng, quảng đại.” (Tương ưng Giác chi,phẩm VI – Tương Ưng Bộ kinh)
    7 GIÁC CHI
    “2) Ví như, này các Tỷ-kheo, cái này là điềm Đi TRƯỚC,là tướng Báo TRƯỚC mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, CÁI Này là điềm đi trước, là tướng báo trước bảy giác chi sanh khởi, tức là Như Lý TÁC Ý. Tỷ-kheo thành tựu Như Lý TÁC Ý, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng: bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn.” (Tương ưng Giác chi,phẩm II – Tương Ưng Bộ kinh)
    “IV. Không Phải Là Món Ăn Cho Các Giác Chi
    20) — Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, Có Các Pháp Trú Xứ Cho NIỆM Giác Chi. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    21) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các Pháp Thiện và Bất Thiện, Có Tội và Không Có Tội, liệt và thắng, dự phần vào đen và trắng. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    22) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có Phát Cần Giới, Tinh Cần Giới, Dõng Mãnh Giới. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    23) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, Có Những Pháp Trú Xứ Cho HỶ Giác Chi. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    24) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có THÂN Khinh An, TÂM Khinh An. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý, làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    25) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, Có TỊNH CHỈ Tướng, BẤT LOẠN Tướng. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    26) Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, Có Các Pháp Trú Xứ Cho XẢ Giác Chi. Ở đây, nếu PHI Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này không phải món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    II. Món Ăn Cho Các Giác Chi
    8) — Cái gì là món ăn, này các Tỷ-kheo, khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, Có Các Pháp Trú Xứ Cho NIỆM Giác Chi. Ở đây, nếu Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay niệm giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn.
    9) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Có Những Pháp Thiện và Bất Thiện, này các Tỷ-kheo, Có Những Pháp Có Tội và Không Có Tội, có những pháp liệt và thắng, có những pháp dự phần đen và trắng. Ở đây, nếu Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    10) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Có Phát Cần Giới, này các Tỷ-kheo, Tinh Cần giới, Dõng Mãnh Giới. Ở đây, nếu Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho tinh tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay tinh tấn giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    11) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Có Những Pháp Trú Xứ Cho HỶ Giác Chi. Ở đây, nếu Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay hỷ giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    12) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có THÂN Khinh An, TÂM Khinh An. Ở đây, nếu Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay khinh an giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    13) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, Có TỊNH CHỈ Tướng, BẤT LOẠN Tướng. Ở đây, nếu Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay định giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.
    14) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, Có Các Pháp Trú Xứ Cho XẢ Giác Chi. Ở đây, nếu Như Lý TÁC Ý được làm cho sung mãn, thời chính cái này là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi, hay xả giác chi đã sanh được tu tập, được làm cho viên mãn.” (phẩm VI,Tương ưng Giác chi – Tương Ưng Bộ)
    * Như vậy, này Hiền giả! là các pháp vận hành theo nguyên lý Duyên khởi: “Cái này có mặt, Cái kia có mặt. Cái này diệt,Cái kia diệt”.
    ở đây, này Hiền giả :
    – “Tịnh tướng” + “Phi như lý tác ý” => Dục Tham sanh & tăng trưởng
    “Bất Tịnh tướng” + “Như lý Tác Ý” => Dục Tham đoạn diệt & Ko sanh khởi

    – “Chướng Ngại tướng” + “Phi như lý tác ý” => Sân sanh & tăng trưởng
    “Từ Tâm giải thoát” + “Như lý Tác Ý” => Sân đoạn diệt & Ko sanh khởi

    – “Không hân hoan, biếng nhác, uể oải,ăn no” + “Phi như lý tác ý”=> Hôn trầm Thụy Miên sanh & tăng trưởng
    “Phát cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới” + “Như lý Tác Ý” =>Hôn trầm Thụy Miên đoạn diệt & Ko sanh khởi

    – “Tâm chưa tịnh Chỉ” + “Phi như lý tác ý” => Trạo hối sanh & tăng trưởng
    “Tâm được Chỉ tịnh” + “Như lý Tác Ý” => Trạo hối đoạn diệt & Ko sanh khởi

    – “Có pháp là trú xứ của Nghi hoặc” + “Phi như lý tác ý” => Nghi hoặc sanh & tăng trưởng
    “Có pháp Thiện,pháp Bất Thiện, Có tội,Ko có tội” + “Như lý Tác Ý”=> Nghi hoặc đoạn diệt & Ko sanh khởi.

    ở đây, này Hiền giả :
    – “Có Pháp là trú xứ cho Niệm giác chi” + “Phi như lý tác ý” =>Niệm giác chi Không sanh & viên mãn
    “Có Pháp là trú xứ cho Niệm giác chi” + “Như lý Tác Ý” => Niệm giác chi sanh & tu tập viên mãn

    – “Có pháp Thiện,pháp Bất Thiện, Có tội,Ko có tội” + “Phi như lý tác ý” => Trách Pháp giác chi Không sanh & viên mãn
    “Có pháp Thiện,pháp Bất Thiện, Có tội,Ko có tội” + “Như lý Tác Ý”=> Trạch Pháp giác chi sanh & tu tập viên mãn

    – “Có phát cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới” + “Phi như lý tác ý” => Tinh Tấn giác chi Không sanh & viên mãn
    “Có phát cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới” + “Như lý Tác Ý”=> Tinh Tấn giác chi sanh & tu tập viên mãn

    – “Có pháp trú xứ cho Hỷ giác chi” + “Phi như lý tác ý” => Hỷ giác chi Không sanh & viên mãn
    “Có pháp trú xứ cho Hỷ giác chi” + “Như lý Tác Ý” => Hỷ giác chisanh & tu tập viên mãn

    – “Có Thân khinh an,Tâm khinh an” + “Phi như lý tác ý” => Khinh angiác chi Không sanh & viên mãn
    “Có Thân khinh an,Tâm khinh an” + “Như lý Tác Ý” => Khinh angiác chi sanh & tu tập viên mãn

    – “Có tịnh Chỉ tướng, bất loạn tướng” + “Phi như lý tác ý” => Địnhgiác chi Không sanh & viên mãn
    “Có tịnh Chỉ tướng, bất loạn tướng” + “Như lý Tác Ý” => Định giác chi sanh & tu tập viên mãn

    – “Có pháp là trú xứ cho Xả giác chi” + “Phi như lý tác ý” => Xả giác chi Không sanh & viên mãn
    “Có pháp là trú xứ cho Xả giác chi” + “Như lý Tác Ý” => Xả giác chisanh & tu tập viên mãn
    ** LƯU Ý: trong các Duyên sanh khởi “5 Triền cái” có pháp Thuận-có pháp Nghịch, tức là: “”TỊNH Tướng” nghịch với “BẤT Tịnh tướng”, “CHƯỚNG NGẠI tướng” nghịch với “TỪ TÂM”…”,…
    còn trong các Duyên sanh khởi “7 Giác chi” thời các Pháp tiên khởi là khách quan, tức là Có tác ý thì Sanh khởi-Không tác ý thì Không sanh khởi, như là: "trú xứ cho Niệm","trú xứ cho Hỷ"…
    như vậy, này Hiền giả! là “Như Lý TÁC Ý” được Thế Tôn nói đến trong nhiều phương diện sai khác,
    như vậy, này Hiền giả! là các “TIÊU CHÍ”, các “KINH VĂN” Thế Tôn giảng rõ các PHÁP(Như Lý) để cho các Đệ tử TÁC Ý.
    @Bs Phạm Doãn: nếu không có gì phiền hà và bất tiện, mong rằng Hiền giả chuyển những lời này đến Hiền giả Hiếu Nguyễn, để cho Hiền giả ấy được lợi ích, được nhiều tăng thịnh trong Thánh đạo Thiện pháp. Cảm ơn Hiền giả!
    Kính chúc Chư Hiền giả an lạc, tinh tấn !!

    • Vô thủ nói:

      *** Sửa sai vài lỗi nhỏ:

      1.
      trong phần Như Lý TÁC Ý tác động đến “NGHIỆP” VT có trích bài Kệ số 01(kinh Pháp cú) nhưng nội dung bị trùng lắp, xin được trích lại như sau:

      “Ý Dẫn Đầu Các Pháp. Ý Làm Chủ, Ý Tạo,
      Nếu tác Ý nhiễm ô, Nói lên hay hành động,
      Khổ não liền theo sau, như xe theo bò kéo.

      Ý Dẫn Đầu Các Pháp. Ý Làm Chủ, Ý Tạo,
      Nếu tác Ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động,
      An lạc liền theo sau, như bóng chẳng rời hình.”

      2.
      trong phần “LƯU Ý” các Duyên sanh khởi 5 Triền Cái có nói đến “pháp Thuận-pháp Nghịch” nhưng vì dùng ký tự đặc biệt ( >< ) thể hiện cho sự Đối Nghịch nên khi post bị lỗi làm sai lạc ý nghĩa, xin sửa lại như sau:
      "TỊNH Tướng" nghịch với "BẤT Tịnh tướng", "CHƯỚNG NGẠI tướng" nghịch với "TỪ TÂM"…

      Kính chúc Chư Hiền an lạc và được nhiều tăng thịnh trong Thánh pháp của Thế Tôn !!!

      • BS Phạm Doãn nói:

        Theo comment điều chỉnh này, tôi đã chỉnh lại những đoạn đã nêu trong bài viết của đạo hữu. Đạo hữu xem lại coi đã đúng như ý chưa?
        Cám ơn đạo hữu Vô Thủ đã có một bài comment công phu và giá trị.
        Kính,

  2. Vô thủ nói:

    Lành thay, lành thay, này Hiền giả! Cảm ơn Hiền giả đã sửa giùm!

    Kính chúc an lạc và tinh tấn !!

  3. ckkhaitue nói:

    mạn phép góp ý:
    Tư là biến hành tâm sở, làm gì có chuyện có mặt hay ko có mặt?


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s