– Tâm Giải Thoát & Tâm Bất Động

TÂM GIẢI THOÁT VÀ TÂM BẤT ĐỘNG

(akuppā cetovimutti)

—oooO000—

Pāli Việt

Cần phải xác định hai cụm từ TÂM GIẢI THOÁT VÀ TÂM BẤT ĐỘNG 

Dường như đã có nhiều tác giả, tác phẩm Phật Giáo có đề cập đến hai từ này. Với vốn liếng Phật học cơ bản và tiếng Việt bình thường có thể đưa ra lời giải thích tương đối hợp lý về ý nghĩa của hai từ này. Tuy nhiên, qua một số comments gần đây, có vấn đề nảy sanh như sau: Có nhiều khả năng là 2 khái niệm TÂM GIẢI THOÁT VÀ TÂM BẤT ĐỘNG không có ở Tam Tạng Pali?

Vấn đề khởi đầu với cụm từ “akuppā cetovimutti“:

Ở Đại Kinh Phương Quảng, Trung Bộ I, bài 43, được dịch là “bất động tâm giải thoát“, còn ở Ðại kinh Ví dụ lõi cây, Trung Bộ I, bài 29, được dịch là “tâm giải thoát bất động.”

Việc ghi nghĩa “cetovimutti” là “tâm giải thoát” dễ gây lầm lẫn, đúng ra phải ghi rằng “tâm-giải-thoát” để khỏi hiểu là “cái tâm đã được giải thoát,” mà phải hiểu là “sự giải thoát của/ở tâm” Bhikkhu Bodhi cũng ghi nghĩa tiếng Anh của “cetovimutti” như sau: “deliverance of mind.”

Ngoài ra, còn có 1 từ Pali khác có cấu trúc tương tự là: paññāvimutti; Bhikkhu Bodhi ghi nghĩa tiếng Anh như sau: “deliverance by wisdom” = “sự giải thoát do tuệ” (thay vì dịch là “tuệ giải thoát” dễ gây lầm lẫn). Tương tự như vậy, 2 cụm từ “bất động tâm giải thoát” “tâm giải thoát bất động” nên được viết lại như sau: “bất-động tâm-giải-thoát” “tâm-giải-thoát bất-động.” Để hiểu được ý nghĩa của cụm từ “akuppā cetovimutti“, cũng cần nhắc lại như sau: Compound ở Pali, cũng như ở tiếng Anh, từ cuối đóng vai trò chính yếu, ví dụ như blackboard, chữ board là chủ yếu, black chỉ bổ nghĩa cho từ board. Tương tợ như thế, ở cụm từ cetovimutti, chữ vimutti (giải thoát) là chủ yếu, ceto (tâm, ý) chỉ đóng vai trò bổ nghĩa.

Như vậy, cetovimutti = sự giải thoát của tâm/sự giải thoát ở tâm. Ở cụm từ “akuppā cetovimutti“, akuppā là tính từ bổ nghĩa cho từ chính vimutti, nên phải hiểu là “sự giải thoát của tâm là bất động/không thể thay đổi/không thể sửa đổi.”

Để xác định vấn đề này, xin nhờ quý vị giúp cho việc tìm xem 2 cụm từ “tâm giải thoát” “tâm bất động” được tìm thấy ở các bài Kinh nào, căn cứ theo bản dịch của HT. Minh Châu, qua đó có thể tìm được từ Pali tương ứng. Nếu từ Pali tìm được không có liên quan đến cụm từ “akuppā cetovimutti” thì chúng ta có dịp để thu thập kiến thức về Phật học; ngược lại nếu 2 cụm từ “tâm giải thoát” “tâm bất động” được xác định có liên quan đến cụm từ “akuppā cetovimutti” e rằng sẽ có vấn đề nảy sanh.

Cũng nhờ thêm các vị có sinh hoạt paltalk, có thể hỏi TT. Giác Chánh và TT. Giác Giới xem thử hai Ngài có ý kiến như thế nào?

Khai Tong

Thưa Sư, dựa theo từ điển Phật học Hán ngữ thì TÂM GIẢI THOÁT (心解脫) là một thuật ngữ Phật học từ lâu đã xuất hiện trong các bản kinh thuộc Hán tạng dùng để dịch thuật ngữ tiếng Sanskrit là CITTAVIMUKTI. Theo con, thuật ngữ này là gốc Hán hoàn toàn, nên không thể hiểu TÂM GIẢI THOÁT theo ngữ pháp thuần Việt được mà phải hiểu nó theo ngữ pháp Hán ngữ.

Dưới đây là nội dung mục từ TÂM GIẢI THOÁT trong Phật Quang Đại Từ Điển:

心解脫
請參閱 般若波羅蜜多心經| 請參閱 波羅蜜多心經幽贊| 梵語 citta-vimukti。
謂由定力而於定障得解脫。與「慧解脫」相對。其原始本義,係指心由一切束縛中解放;解脫之當體即為心,故稱心解脫;而以智慧解脫者,則稱慧解脫。但後世術語化,將無明之滅稱慧解脫,將渴愛之滅稱心解脫。更以心解脫連結於禪定,謂依定而解脫定障,與無貪相應者,稱為心解脫。依慧而解脫煩惱障,與無癡相應者,稱為慧解脫。此二者同時解脫,則稱俱解脫。俱舍宗即將阿羅漢分類為慧解脫、俱解脫(得滅盡定)二種,又有所謂無量心解脫、無所有心解脫等種種心解脫之說。〔中阿含卷二十九說處經、大毘婆沙論卷一○一、成實論卷十五止觀品、集異門足論卷三、俱舍論卷二十五〕

Khai Tong

Bản dịch của dịch giả Huyền Thanh cho mục từ TÂM GIẢI THOÁT trong Phật Quang Đại Từ Điển:

Tâm Giải Thoát
Thỉnh tham duyệt Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Thỉnh tham duyệt Ba La Mật Đa Tâm Kinh U Tán
Tiếng Phạn Citta-vimukti nghĩa là: Do sức Định mà được giải thoát nơi ngăn che của Định, cùng đối nhau với Tuệ Giải Thoát (sự giải thoát của Tuệ).
Nghĩa nguyên thuỷ ấy là chỉ Tâm được giải phóng trong tất cả sự bó buộc. Đương Thể của giải thoát tức là Tâm, cho nên xưng là Tâm Giải Thoát (Citta-vimukti: sự giải thoát của Tâm), rồi dùng sự giải thoát của Trí Tuệ thì lại xưng là Tuệ Giải Thoát (Prajñā-vimukti).
Có điều đời sau dùng Thuật Ngữ Hoá, đem sự diệt của Vô Minh xưng là Tuệ Giải Thoát, đem sự diệt của Khát Ái xưng là Tâm Giải Thoát. Lần lượt đem Tâm Giải Thoát liên kết với Thiền Định, nói là: “Y theo Định mà giải thoát sự ngăn che của Định, cùng tương ứng với không có tham (vô tham), xưng là Tâm Giải Thoát. Y theo Tuệ mà giải thoát Phiền Não Chướng, cùng tương ứng với không có Si (vô si), xưng là Tuệ Giải Thoát. Hai điều này đồng thời giải thoát thì xưng là Câu Giải Thoát (cùng giải thoát, đều giải thoát)
Câu Xá Tông liền đem A La Hán chia ra làm hai loại là Tuệ Giải Thoát, Câu Giải Thoát. Câu Giảo Thoát là đắc Diệt Tận Định.
Lại có nơi nói là: Vô Lượng Tâm Giải Thoát, Vô Sở Hữu Tâm Giải Thoát… , rất nhiều thuyết nói về Tâm Giải Thoát.
[Trung A Hàm, quyển 29, thuyết Xứ Kinh_ Đại Tỳ Bà Sa Luận, quyển 101_ Thành Thật Luận, quyển 15, Phẩm Chỉ Quán_ Tập Dị Môn Túc Luận, quyển 3_ Câu Xá Luận, quyển 25]

Bhikkhu Indacanda

Nếu là cittavimukti (Skrt.) = cittavimutti = sự giải thoát của/ở tâm, không thể hiểu nôm nà là “cái tâm giải thoát” được.
Người Hán nghiên cứu Phật học cũng “ghê” lắm nhưng không hiểu sao ở VN lui tới chỉ có đề cập một vài bài Kinh, rồi tụng niệm Quán Thế Âm, A Di Đà, thêm 1 chút nữa là tánh Không. Tiếc thay cho các Thầy và Sư Cô Bắc Tông lúc này lại lo nghiên cứu Kinh điển tiếng Anh. Tiếc là Sư không có căn bản về tiếng Hán!.

Bhikkhu Indacanda

Có lẽ “Vô Lượng Tâm Giải Thoát, Vô Sở Hữu Tâm Giải Thoát” nên dịch sang tiếng Việt là “Sự giải thoát của tâm là không thể đo lường, sự giải thoát của tâm là không thuộc về tự ngã.”
Sư nghĩ rằng người Hàn họ hiểu đúng về ý nghĩa của các cụm từ này: Tâm Giải Thoát, Tuệ Giải Thoát, Vô Lượng Tâm Giải Thoát, Vô Sở Hữu Tâm Giải Thoát, nhưng đến khi các Ngài chuyển sang tiếng Việt như trên và các hàng học Phật về sau cứ theo đó mà luận theo tư kiến. Cần nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Sư có linh tính như vậy.

Bhikkhu Rama That kham phuc cac hoc gia nguoi Han, ban dich cua ho rat gan cac ban chu giai Pali.

Bhikkhu Indacanda

Cetovimuttiṃ paññāvimuttinti ettha ceto-vacanena arahattaphalasampayuttosamādhi, paññāvacanena taṃ sampayuttā ca paññā vuttā. Tattha ca samādhi rāgato vimuttattā cetovimutti, paññā avijjāya vimuttattā paññāvimuttīti veditabbā (Sārattha-3-476).
“Tâm-giải-thoát, Tuệ-giải-thoát” : Ở đây, với việc nói đến “tâm,” tức là định được gắn liền với quả vị A-la-hán; với việc nói đến “tuệ” tức là tuệ được gắn liền với điều ấy (quả vị A-la-hán). Và ở đây, nên biết rằng: “Định, do tính chất đã được thoát ra khỏi luyến ái, là sự giải thoát của tâm (cetovimutti). Tuệ, do tính chất đã được thoát ra khỏi vô minh, là sự giải thoát do tuệ (paññāvimutti).”

…samathassa phalaṃ rāgavirāgā cetovimutti, vipassanāya phalaṃ avijjāvirāgā paññāvimutti (Netti-37).
Quả của Chỉ Tịnh là sự giải thoát của tâm do không còn luyến ái, Quả của Minh Sát là sự giải thoát của tuệ do không còn vô minh.

akuppā cetovimuttī ti arahattaphalavimutti = Sự giải thoát không lay chuyển của tâm (bất động tâm-giải-thoát) là sự giải thoát của qủa vị A-la-hán.
animittā cetovimuttī ti arahattaphalasamāpatti = Sự giải thoát vô tướng của tâm (vô tướng tâm-giải-thoát) là sự chứng đạt của qủa vị A-la-hán.

Bhikkhu Rama

Tâm Giải Thoát hay Tâm Bất Động?

Trong cụm từ “ akuppā cetovimutti” xin đề xuất dịch là: ‘Sự giải thoát của tâm không còn lay động’ hay là ‘Tâm giải thoát bất động’.
Theo như chú giải của Trường bộ cũng như Trung bộ thì Tâm này là Tâm Quả Arahatta:
akuppā cetovimuttīti arahattaphalavimutti ( Dī-Aṭṭha-3-241)(Ma-Aṭṭha-2-135)

Tâm giải thoát (Cetovimutti), và Tuệ giải thoát ( Paññāvimutti).:
Tâm được đề cập nơi đây là Tâm quả Arahatta liên kết với Định,còn Tuệ được đề cập đây là Tâm quả Arahatta đó liên kết với Tuệ. Nên biết rằng Định vượt thoát khỏi ái dục nên gọi là Tâm giải thoát, Tuệ vượt thoát khỏi vô minh nên gọi là Tuệ giải thoát.
Cetovimutti½ paññ±vimuttinti ettha ceto-vacanena arahattaphalasampayutto
sam±dhi, paññ±-vacanena ta½ sampayutt± ca paññ± vutt±. Tattha ca sam±dhi r±gato vimuttatt± cetovimutti, paññ± avijj±ya vimuttatt± paññ±vimutt²ti veditabb±.(Sārattha-3-476)

Hoặc là đoạn sau:
Kết quả của Định là Tâm giải thoát khỏi sự trói buộc của Dục, kết quả của Tuệ Minh Sát là Tuệ giải thoát khỏi sự che đậy của vô minh.
…samathassa phala½ r±gavir±g± cetovimutti, vipassan±ya phala½ avijj±vir±g± paññ±vimutti.(Netti-37)

Ngoài hai cụm từ trên ta còn gặp:
1/Vô Hạn Tâm Giải Thoát(Appamāṇacetovimutti): gồm có 4 Phạm trú+ 4 Đạo+ 4 Quả= 12 Pháp.
2/Vô Sở Hữu Tâm Giải Thoát ( Ākiñcaññācetovimutti): gồm có Vô sở hữu xứ Thiền+4 Đạo+ 4 Quả= 9 Pháp.
3/Vô Tướng Tâm Giải Thoát( Animittacetovimutti): gồm có Vipassanā+ 4 Thiền Vô Sắc+4 Đạo+ 4 Quả= 13 Pháp.

Kết luận: Vì Tâm giải thoát là Tâm Quả của bậc thánh Arahat nên dĩ nhiên là bất động(akuppā) với vô minh ái dục.

Bhikkhu Indacanda

Cetovimutti = tâm-giải-thoát = sự giải thoát của tâm (ceto).
paññāvimutti = tuệ-giải-thoát = sự giải thoát do tuệ (paññā).

Cetovimuttiṃ paññāvimuttinti ettha ceto-vacanena arahattaphalasampayuttosamādhi, paññāvacanena taṃ sampayuttā ca paññā vuttā. Tattha ca samādhi rāgato vimuttattā cetovimutti, paññā avijjāya vimuttattā paññāvimuttīti veditabbā (Sārattha-3-476).
“Tâm-giải-thoát, Tuệ-giải-thoát” : Ở đây, với việc nói đến “tâm,” tức là định được gắn liền với quả vị A-la-hán; với việc nói đến “tuệ” tức là tuệ được gắn liền với điều ấy (quả vị A-la-hán). Và ở đây, nên biết rằng: “Định, do tính chất đã được thoát ra khỏi luyến ái, là sự giải thoát của tâm (cetovimutti). Tuệ, do tính chất đã được thoát ra khỏi vô minh, là sự giải thoát do tuệ (paññāvimutti).”

…samathassa phalaṃ rāgavirāgā cetovimutti, vipassanāya phalaṃ avijjāvirāgā paññāvimutti (Netti-37).
Quả của Chỉ Tịnh là sự giải thoát của tâm do không còn luyến ái, Quả của Minh Sát là sự giải thoát của tuệ do không còn vô minh.

akuppā cetovimuttī ti arahattaphalavimutti = Sự giải thoát không lay chuyển của tâm (bất động tâm-giải-thoát) là sự giải thoát của qủa vị A-la-hán.
animittā cetovimuttī ti arahattaphalasamāpatti = Sự giải thoát vô tướng của tâm (vô tướng tâm-giải-thoát) là sự chứng đạt của qủa vị A-la-hán.

Phạm Doãn

– Tâm giải thoát (ceto-vimutti):
Là những trải nghiệm tâm (biểu hiện sự giải thoát) đạt được khi thành tựu các loại thiền (hoặc là thiền định hoặc là thiền quán). Ví dụ
khi thực hành thiền quán về “tâm từ” thì kết quả khi đạt được là tâm từ biểu hiện sự giải thoát (mettācetovimutti). Dịch gọn là “Từ tâm giải thoát”
Khi
thiền quán về “Tứ vô lượng tâm từ bi hỉ xả” thì kết quả đạt được sẽ là “Vô lượng tâm giải thoát” (Appamāṇā cetovimutti)
Khi thực hànhthiền quán về “tánh không” thì kết quả đạt được sẽ là “Không tâm giải thoát” (suññatā cetovimutti).
Khi thực hành “định vô sỡ hữu xứ” thì kết quả sẽ là “Vô sở hữu tâm giải thoát” (ākiñcaññā cetovimutti).
Trong thời kỳ Đức Phật giảng dạy có nhiều Tâm Giải Thoát được đề cập trong kinh điển. Ví dụ:

Bất khổ bất lạc tâm giải thoát (adukkhamasukhāya cetovimuttiyā)
Đại hành tâm giải thoát (mahaggatā cetovimutti)
Từ tâm giải thoát (Mettā cetovimutti)
Bi tâm giải thoát (Karuṇā cetovimutti)
Hỉ tâm giải thoát (Muditā cetovimutti)
Xả tâm giải thoát (Upekkhā cetovimutti)
Vô Lượng Tâm giải thoát (Appamāṇā cetovimutti) gọi tắt cho tứ vô lương tâm giải thoát
Không (Tâm) giải thoát (Suññatā cetovimutti)
Vô Sở Hữu tâm giải thoát (ākiñcaññā cetovimutti)
Vô Tướng tâm giải thoát (Animittā cetovimutti)
Bất Động tâm giải thoát (Akuppā cetovimutti)
Và rất nhiều loại tâm giải thoát khác nữa.

Các Tâm giải thoát được hiểu là những biến cố của tâm (events of mind) xảy ra trong tiến trình đi đến giải thoát. Riêng “Bất động tâm giải thoát” là trạng thái tối thượng, nghiã là tâm không còn tham, sân, si, nghĩa là tâm của sự hoàn toàn giác ngộ

Các bài kinh Nikaya có rất nhiều đoạn đề cập đến và giải thích về sự khác biệt tên gọi của các loại tâm giải thoát (vimutti). Ví dụ như kinh MN 043. MAHĀVEDALLASUTTAṂ, kinh MN 127 ANURUDDHASUTTA, kinh SN, thiên sáu xứ, chương VII, tương ưng tâm, kinh GODATTA

Các loại tâm giải thoát khác nhau ở ý nghĩa nào? và giống nhau ở ý nghĩa nào?
Các kinh Nikaya đều giải thích như sau:
– Các loại “giải thoát” khác tên và khác ý nghĩa trong trường hợp được tu tập riêng lẻ.
– Các loại giải thoát dù khác tên, nhưng sẽ có cùng một ý nghĩa khi:
a) Sự tu tập được đặt trên cùng một nền tảng là diệt trừ Tham, Sân, Si và tất cả các ô nhiễm (lậu hoặc) của tâm.
b) Lấy “Bất động tâm giải thoát” là mục đích tối thượng vì bất động tâm giải thoát không có tham, sân, si.
c) Bất động tâm giải thoát là tâm giải thoát tối thượng ( theo sự giải thích của các bài kinh dẫn chứng)

Tuệ giải thoát (pañña-vimutti)
– Theo Richard Gombrich,, một học giả giáo sư về Pali, Sanskrit thì chữ pañña-vimutti thực ra không có syntax giống như ceto-vimutti (xem phần giải thích). Cho nên không thể coi hai danh từ kép “ceto-vimutti” và “pañña-
vimutti” này là một cặp!
Ông đề nghị dịch chữ “ceto-vimutti” sang tiếng Anh là “release of the mind”
trong khi phải dịch “pañña-vimutti” là “release by insight”.
Kính mời sư Pāli Việt và các vị biết Pali cho ý kiến!

Tài liệu trích từ sách của Richard Gombrich

Ceto vimutti VS panna-vimutti
—————————————
In English the word “insight” generally carries the implication that the in sight is correct, so I think it is good translation for Panna, provided that one remembers not to reify
the concept. So I translate panna-vimutti as “relese by insight”.
When the word panna-vimutti appears in the texts it is usually paire with ceto-vimutti. The P.E.D says of ceto that it equals citta, and on the later it has a enormous article. As it says, “in Indian Psychology citta is the seat and organ of thought” it also simply means “thought” or “thinking”. Since the general tenor of the Buddha’s teaching, with its emphasis on impermanence and lack of essence, was to substitute process for subtance, English “thought”, with its dynamic connotations, will in many contexts be preferable to the more static “mind”. Note that means that, just as with the words dhammanusari saddhanusari, we have here a paire of compound, a doublet, in which the syntactical relationship of the first half to the second half varies: “relese of the mind” but “relese by insight”.
Just as the case with dhammanussarino and saddhanusarino, I do not think that these words originated as technical terms. I suppose there is prbly no psy chological term in the early Buddist texts which did not finally come to be classified by the abhidhamma and so acquire a technical meaning; and certainly citta/ceto and panna have precis meanings in systematised dogmatics. Originally, however, citta/ceto is not one of the five aggregates (khandha), but a general term for mind or thought, just as panna begins as a general term for understanding.

Because the compounds ceto-vimutti and panna-vimutti differ in syntax, they do not have quite the same meaning; but they originally have the same reference. (Again: we recall that dhammanusari and saddhanusari, though different in meaning, also originally had the same reference). There is only one “release”: it is a mental event, triggered by insight. The practical problem is how to reach that stage.

———
How Buddhism Began: The Conditioned Genesis of the Early Teachings
Page 112

——–
Kính chuyển tài liệu này đến Sư Pāli Việt


3 phản hồi on “– Tâm Giải Thoát & Tâm Bất Động”

  1. ckkhaitue nói:

    Xin tham gia góp ý tý xíu!
    Tôi nhận định: akuppā cetovimutti
    1- tâm giải thoát: 9 giải thoát: sơ thiền tâm giải thoát… diệt thọ tưởng định tâm giải thoát, + Niết Bàn (tôi hiểu tâm = định)
    2- Tâm bất động: cũng đồng như trên
    như vậy tôi hiểu theo nghĩa chung nhất, tổng quát nhất!

    Hoan hỷ! Xin chỉ giáo!

    • ckkhaitue nói:

      Vì tôi nhận định:
      tâm giải thoát có 2 loại:

      1- Vô lậu tâm giải thoát: tâm giải thoát của các bậc Thánh Nhân từ Dự Lưu đến Arahat bất kể trú trong 1 trong 9 bậc thiền chứng nào! (từ sơ thiền đến Diệt thọ tưởng định)

      2- Hữu lậu tâm giải thoát:
      Tâm giải thoát của thiền giả phàm nhân, trú trong 1 trong 8 bậc thiền: từ sơ thiền đến phi tưởng phi phi tưởng xứ định!

      Giải thoát: tôi hiểu là giải thoát các pháp đối nghịch

      Đính chính lại comment phía trên là: 9 tâm giải thoát + Niết-bàn = 10 tâm giải thoát.

      • ckkhaitue nói:

        bổ sung thêm:
        1- Vô lậu tâm giải thoát: tâm giải thoát của các bậc Thánh Nhân từ Dự Lưu đến Arahat bất kể trú trong 1 trong 9 bậc thiền chứng nào! (từ sơ thiền đến Diệt thọ tưởng định), kể thêm Niết bàn của quả chứng Arahat như 1 Thánh quả định là 10 vô lậu tâm giải thoát!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s