– Tiến trình nhận thức

TIẾN TRÌNH NHẬN THỨC TỪ BÊN NGOÀI VÀO BÊN TRONG

—oooOooo—

THẢO LUẬN

‘‘ 1.Paṭhamaṃ saddaṃ sotena,2. tītaṃ dutiyacetasā;

3.Nāmaṃ tatiyacittena,4. atthaṃ catutthacetasā ’’ (Sī-Ṭī-Sac-1-399)

Chỉ cần một âm thanh thì ta đã hiểu qua 4 lần nhận thức, 2 tiến trình đầu là Chân Nghĩa Pháp ( Paramattha), 2 tiến trình sau là Pháp Khái Niệm ( Paññatti).Lấy ví dụ khi nghe một âm thanh,chẳng hạn như  “ Bird” ta liền hiểu “ Con Chim”.Thì hoạt động của tâm như sau:

1)Biết một xung động âm: Trong miền âm có thể nghe được, tiến trình tâm qua Nhĩ môn( Sotadvāravīthi) sẽ làm nhiệm vụ nhận biết một âm là “ Bird”.<Paramattha>

2)Biết một xung động âm vừa tắt: Tâm ta liền chú ý đến âm “ Bird”, tiến trình tâm qua Ý môn( Manodvāravīthi) sẽ làm nhiệm vụ nhận biết một âm là “ Bird”.Nếu ta đang suy nghĩ một vấn đề gì đó, mặc dù có nhiều tiếng động chung quanh mà ta không biết được, là do tiến trình này không phát sanh.<Paramattha>

3)Danh Khái niệm: Khi nghe một âm “ Bird” ta liền biết đây là tiếng Anh chứ không phải tiếng Trung, tiếng Nhật. Ta biết đây là một cái tên. Tiến trình tâm qua Ý môn( Manodvāravīthi) sẽ lấy khái niệm này làm đối tượng.<Paññatti>

4)Nghĩa Khái Niệm: Nếu ta là người có biết tiếng Anh, ta sẽ biết từ này nghĩa là “ Con chim”.Tiến trình tâm qua Ý môn( Manodvāravīthi) sẽ nhận biết được nghĩa của từ này <Paññatti>

Tương tự các tiến trình nhận thức qua Mắt, Mũi , Lưỡi, Thân cũng như vậy.

Khi chúng ta thực hành Thiền Vipassanā các ngài Thiền sư thường chỉ dẫn ta cách nhận biết trực tiếp qua đối tượng có mặt trong hiện tại, tức là 2 tiến trình đầu tiên.

Rama Bhik @Tiểu Mặc:
“Sự nhận thức Danh và Sắc ở các căn nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân đều không quá khó”điều này chỉ sự nhận biết thông thường. Còn để làm phát sinh các tuệ Minh Sát, thì hành giả đòi hỏi phải có một Định tâm nhất định , nhìn Sắc ở bình diện căn bản nhất- Các tổng hợp Sắc ( Kalāpa).
“Nhưng riêng ý căn nằm ở đâu? “: Các câu trả lời của các vị Vo Trong Phi ,Định Phúc khá đầy đủ.
Ghi chú ở đây: Một số các vị hành Thiền Định, thuần thục trong các tầng thiền.Họ lấy Quang tướng ( Nimitta) làm đối tượng, thì ánh sáng do tâm thanh tịnh phát sinh ra từ quả tim, họ càng chú ý ở quả tim thì ánh sáng càng rực rỡ. Nên nhiều người tin Ý căn(Hadayavatthu) là ở quả tim.
Một ví dụ nữa là khi tâm ta khởi tham ái với người khác giới, thì tim đập rộn rã. Hoặc khi ta tức giận một ai đó, hay sợ sệt tim đập mạnh hơn hay đứng tim… Do các liên hệ cảm xúc này nên nhiều người tin Ý căn(Hadayavatthu) là ở quả tim.
“Tại sao ở ý căn thì Suy nghĩ lại là Sắc? “ Suy nghĩ ở đây là Danh chứ không phải là Sắc, Ý căn chỉ là nơi mà từ đó các Tâm- Tâm sở( Danh) phát khởi.
“Danh tương ứng ở đây là gì ?” Khi ta suy nghĩ thì các tâm Dục giới ( Kāmāvacaracitta)liên kết với các tâm sở tương ưng. Đối tượng của nó có thể là quá khứ, hiện tại , vị lai. Các tiến trình 2,3,4 kể trên. Tâm sẽ lấy tâm làm đối tượng nhận thức . Đối tượng này gọi là Cảnh Pháp ( Dhammārammaṇa)
VD khi hành thiền Thiền sư dạy: “ Phóng tâm biết phóng tâm”. Có nghĩa là cái tâm biết sẽ lấy đối tượng tâm phóng tâm làm đối tượng.

Rama Bhik @Kan Trần :
Danh-Nāma( Tâm và Tâm sở), Sắc-Rūpa( Vật chất).
Khi tâm không có các đối tượng Sắc ( Cảnh Sắc, Cảnh Thanh, Cảnh Hương,Cảnh Vị,Cảnh Xúc) và Danh khác( Cảnh Pháp ) làm đối tượng để phát sinh tiến trình tâm, thì nó vẫn thuần tuý là Danh( Tâm Hộ Kiếp- Bhavaṅga). Nó có mối tương quan chặc chẽ như vậy chứ không phải là “ Một”.
Có những cõi trời có Danh mà không Sắc- Cõi Vô Sắc ( Arūpa)
Có những cõi trời có Sắc mà không Danh- Cõi Vô Tưởng Thiên ( Asaññasattā): Ở đây không phải là không có tâm mà mọi hoạt động của tâm đều dừng lại.
–>Từ Danh sinh ra Sắc: Thuyết Duy Tâm ( Hầu hết các tôn giáo khác ngoài đạo Phật, họ cho là nguyên nhân đầu tiên, thượng đế, tâm thức vũ trụ, đại ngã…)
–>Từ Sắc sinh ra Danh: Thuyết Duy Vật.
Danh và Sắc là một? Điều này không xảy ra, vì Danh và Sắc luôn có thể chia chẻ được. Vấn đề biết và thấy Danh và Sắc là một trong những mắt xích quan trọng của đạo lộ giải thoát trong đạo Phật.Tuệ thấy Danh Sắc ( Nāmarupaparicchedañāṇa) là tiến trình thứ 3- Kiến tịnh ( Diṭṭhivisuddhi) trong 7 giai đoạn thanh tịnh.
– – > Một số quan điểm :” Tôi là lá, tôi là mây, là hoa sen, là cội bồ đề…” đồng hoá Danh làm một với Sắc, đây cũng chỉ là tư tưởng ( Tưởng Tri), chỉ có ý nghĩa trên bình diện “ văn học” chứ không đưa đến giải thoát.
Trân trọng.

Kan Trần Dạ thưa Sư Bhikkhu Rama,

Con xin cảm ơn Sư đã chia sẻ. Con cũng xin đóng góp đôi dòng.

khi trả lời bạn Tiểu Mặc, con ko viết danh – sắc là một. Cái con luôn nhấn mạnh là: mọi phân tích, phân chia, xếp loại chỉ là tương đối, ta ko bao giờ đạt dc 1 phân tích hoàn hảo. Mọi phương pháp phân tích, phân loại chắc chắn đều có chỗ sơ hở.

Nên con khá dè dặt khi comment cho bạn TM. Bởi con thấy bạn TM đang quan tâm đến khái niệm đó, nên con viết đôi dòng chia sẻ.

Cá nhân con thì cho rằng những phân tích dựa trên cơ sở Abhidhamma không thật sự ích lợi cho quá trình tu học hướng tới giải thoát. Có rất nhiều sơ hở trong phương pháp phân tích của Abhidhamma, con ko tiện viết chỗ này vì sẽ cực kì dài.

Chỉ xin nêu 1 VD: Sắc là vật chất. Vậy vật chất là gì? Con xin chờ quý sư phân tích chỗ này.

Kan Trần Con xin tạm chia mọi người thành 2 dạng: bậc chứng ngộ [hiểu theo 1 mức độ nào đó] và người bình thường.

Nếu con dc diện kiến 1 bậc chứng ngộ, con ko cần vị ấy mô tả cho con nghe tiến trình tâm, có bao nhiêu tâm vương tâm sở v.v. Con chỉ xin hỏi vị ấ…See More

Hạnh Trương Tiến trình nhận thức mà Bhikkhu Rama đưa ra ở trên nó là tiến trình nhận thức thông qua Tưởng rồi ạ. Cho nên Sư kiểm tra lại ở đây từ Pali là Panna hay Sanna.

Ngoài ra, tiến trình nó không đơn giản như vậy. Ví dụ khi âm thanh nó vang lên, nó không vang trong 1 sát na, mà trong hàng tỷ tỷ sát na, trong hàng tỷ tỷ sát na đó đã có hàng tỷ tỷ tiến trình nhận thức diễn ra. Nó diễn ra theo đường nào, cũng là chuyện phải bàn.

Nếu để nó đi qua tưởng, thì sẽ là vấn đề

Nếu chỉ nhận biết là nhận biết, thì là chuyên khác

Có một ví dụ thế này, cty của tôi tên là Cty cổ phần Thủy Thiên, ấy thế mà đa số các bạn ở đây sẽ đọc ra là cty cổ phần Thủy Tiên. Tại sao lại như vậy, đó là do chúng ta dùng tưởng mà nhận thức, chúng ta bỏ qua thực tại đang diễn ra. ( chúng ta không đọc hết thấy hết, nghe hết, nhìn hết, ngửi hết, nếm hết, xúc chạm ,hết quán sát ( các pháp) hết)

Đúng như Kan Trần đã viết, dùng Vi diệu pháp để làm căn cứ thảo luận rất nguy hiểm, nó dễ dẫn tới hý luận và xa rời thực tế. Quá trình tâm sinh lý đang diễn ra liên tục trên chính chúng ta, nhưng thay vì trực tiếp nhận thức nó như nó đang là, chúng ta lại dùng khái niệm để nhận thức nó, (các khái niệm của vi diệu pháp), nó lại làm chúng ta tưởng thêm nữa. Cuối cùng, “Pháp được Như Lai khéo thuyết, thiết thực, hiện tại…” trở thành Pháp môn lý luận. Pháp của Liễu Tri, Tuệ tri nay trở thành pháp của Thắng Tri, Tưởng Tri. Thay vì Như Thật Tuệ Tri, để Thấu Hiểu Chân Lý, thì người ta lại Như Thật Tưởng Tri để rồi Tưởng là hiểu chân lý.

Nó như thế này :
(*)
————————————->
————————————->

Chúng ta nghĩ hai đường thẳng song song trên chỉ cùng một hướng?

Không phải, chúng chỉ hoàn toàn về hai hướng khác nhau.

Nhận thức ( tu tập) thông qua tưởng cùng các khái niệm và nhận thức ( tu tập) trực tiếp không qua tưởng cũng như vậy.

Trên đây là một số ý của HT về danh sắc và cách dùng danh sắc làm đối tượng thiền quán.

Về việc khi nào mới nên bắt đầu thực hiện việc này, hy vọng còn được các Sư trao đổi thêm.

(*) – 2 đường thẳng trên HT vẽ lại từ không gian ba chiều, chúng nằm trên hai mặt phẳng khác nhau.

Rama Bhik Có rất nhiều sơ hở trong phương pháp phân tích của Abhidhamma?

Hạnh Trương HT không có ý nói Abhidhamma nhiều sơ hở hay ít sơ hở, vì khi còn dùng khái niệm để mô tả thì bao giờ cũng còn sơ hở. Vấn đề là ở chỗ khi để Abhidhamma bám rễ vào tư duy rồi, thì sẽ khó mà bỏ nó để thấy cái như thật. Mà hình như Pháp của Phật Thích Ca là Đoạn diệt, là Từ Bỏ.

Rama Bhik Các ngài thiền sư nổi tiếng như ngài Ledi Sayadaw, Mokau Sayadaw, Mahasi Sayadaw, Pa auk Sayadaw,… trong các sách của các ngài đều sử dụng Abhidhamma.Lộ trình tâm diễn ra quá nhanh, chỉ khi mình đắc Đạo Quả thì mình mới thấy được. Đức Phật và các bậc Thánh chứng ngộ rồi để lại trong Chánh tạng, chú giải…Chủ đề này sư chỉ là người góp nhặt những gì trong kinh tạng để chia sẽ cùng mọi người, chứ không dám đưa ý kiến của riêng mình. Còn có người bảo những câu trích dẫn này sai thì sư cũng hết cách… potay.com

Hạnh Trương Sư chỉ cần thay tên các vị ở trên thành các vị thiền sư nổi tiếng thời Đức Phật chưa Giác Ngộ, Sư sẽ thấy rằng Sư không nên bó tay, và rất cần Sư dám đưa ý kiến riêng của mình.

Rama Bhik Các thuật ngữ của Vi Diệu Pháp xuất hiện rất nhiều trong Kinh tạng( Suttantapiṭaka) và Luật tạng(Vinayapiṭaka).
Một sự kiểm chứng khá thú vị về Abhidhamma là trường hợp thiền sư Sunlun Miến điện. Ngài từ nhỏ đến lớn không qua một trường lớp Phật Pháp n…See More

Kan Trần Dạ thưa Sư Bhikkhu Rama,

Các A-tì-đàm con đã từng chia sẻ với nhiều vị là con thấy chúng có giá trị lớn, nhất là về mặt học thuật. Nhưng ở đây mọi người đang nói về tu tập thì con cho rằng chúng không có ích lợi gì nhiều. Điều này tương tự như trường hợp công trình chứng minh bổ đề Langlands của Ngô Bảo Châu, chính ông thừa nhận ngoài giá trị học thuật thuần túy thì nó không có giá trị thực tiễn nào.

Con xin mượn lại ý của anh Hạnh Trương phía trên, nói cho hợp lý hơn thì không riêng gì Abhidhamma, mà bất cứ hệ thống phân tích nào được xây dựng dựa trên các khái niệm thì chắc chắc sẽ có sơ hở không kể ít hay nhiều. Ngay cả toán học, vốn dc coi là hệ thống phân tích chặt chẽ bậc nhất, cũng chứa đựng sơ hở ngay trong những khái niệm nền tảng.

Một vấn đề là: tại sao A-tì-đàm của Hữu Bộ nêu tên rất rõ ràng tác giả từng tập, tất cả đều ko phải là Đức Phật; thì tại sao Thượng Tọa Bộ trừ tập Kathavatthu đều bảo lưu ý kiến cho rằng Đức Phật là tác giả của Abhidhamma? Tại sao rất nhiều nghiên cứu khác nhau đã nói rất rõ rằng các A-tì-đàm xuất hiện sớm nhất trong thời kì bộ phái (mà TTB là 1 trong số các bộ phái) nhưng truyền thống TTB vẫn cứ nhất nhất bảo lưu quan điểm cho rằng Đức Phật đã nói chúng dù cơ sở của niềm tin như vậy là rất ít?

Còn nhiều vấn đề nữa, nhưng như con đã thưa trước, viết ra sẽ cực kì dài. Nên con xin tạm dừng ở đây bằng trích dẫn 1 bài viết của Thầy Minh Châu:

Kan Trần …Thật sự chúng tôi chỉ mong rằng quý vị hãy đọc thật kỹ và suy tư thật chín chắn, những đoạn mà chúng tôi phiên dịch rồi quý vị hãy tự hỏi, những đoạn ấy có phải là những đoạn “Tiểu thừa” dành riêng cho những vị có tiểu tâm, chỉ biết tư lợi không biế…See More

Kan Trần hình như fb đang bị lỗi nên ko dán link vào comment được. Đoạn trích vừa rồi con lấy từ bài “Dịch kinh và đại học” – quyển “Chánh Pháp và hạnh phúc” của Thầy Minh Châu. Quý vị có thể xem tại trang quangduc.com

Kính.

Vo Trong Phi Vi Diệu Pháp xuất phát từ đâu?

Theo lịch sử Phật Giáo thì Vi Diệu Pháp được Ðức Phật thuyết vào hạ thứ bảy tại cung trời Ðạo Lợi (Tam Thập Tam Thiên – Tāvatiṃsa) với mục đích là độ thân mẫu của Ngài.

Theo một vài học giả thì Vi Diệu Pháp không phải do chính Ðức Phật thuyết mà là do các vị Sư uyên bác soạn thảo ra sau nầy. Ðại Ðức Nārada, một nhà học Phật lão thành đã viết: “Ðúng theo truyền thống thì chính Ðức Phật đã dạy phần chính yếu của tạng nầy. Những đoạn ấy được gọi là Ðầu đề (Mātikā) hay nồng cốt nguyên thủy của giáo lý như Pháp Thiện (Kusalā Dhammā), hay Pháp Bất Thiện (Akusalā Dhammā), Pháp Vô-Ký (Abyākatā Dhammā) …”.

Trong 6 tập của Tạng Diệu Pháp (trừ tập Ngữ Tổng – Kathāvatthu – do Ngài Mục Kiền Liên (Moggallanaputta) viết; cũng có thuyết cho rằng tập này do chính Ðức Phật thuyết nhưng Ngài Moggallana thêm vào 500 câu) đều do Ðức Phật thuyết và Ðại Ðức Xá lợi Phất (Sārīputta) được danh dự giảng rộng và sâu vào chi tiết.

Dầu tác giả là ai, nhưng chắc chắn Tạng Diệu Pháp là một công trình sáng tác của một bộ óc kỳ tài có thể so sánh với một vị Phật.

Chúng ta không cần phải biết là Vi Diệu Pháp có phải do chính Ðức Phật thuyết hay không mà chỉ cần sáng suốt nhận định về những điều mà Tạng Diệu Pháp đề cập đến. Bởi người nào thấu rõ được chân lý thì người đó chính là người giác ngộ (hay Phật) và chỉ người nào hiểu được lẽ thật, người đó mới nói lên được sự thật.
(Tỳ Kheo Giác Chánh. Vi Diệu Pháp Giảng Giải, truy cập tại http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-vdp-gg/vdpgg-00.htm)

Vi Dieu Phap Giang Giai – 00

www.buddhanet.net

Xin lưu ý: Cần có phông UnicodeViệt-Phạn VU Times hay CN-Times cài vào máy để đọc các chữ Pàli.

Hạnh Trương

1. Trong thảo luận mà đưa ra lý lẽ kiểu này có lẽ không ổn nhỉ. Thảo nào mà có tới 84.000 pháp môn.

2. Nếu quả thật VDP không phải Phật thuyết mà gán cho Phật thì đó là một ác pháp, biết mà nói láo…

Kim Ngan to-> Hạnh Trương
Abhidhamma không do đức Phật thuyết?
Mỗi lần kết tập Tam Tạng thì ít nhất cũng trên 500 đến vài ngàn các ngài trưởng lão có giới hạnh, thông hiểu tam tạng, mà các ngài có dám nối dối không? Trong khi các lời nối dối,khoe khoang về Pháp, Đạo Quả sẽ bị trục xuất khỏi tăng đoàn.
Sự thật các ngài không nói dối, thì các học giả ” lộng ngôn” ưa thích chống đối sẽ bị “Ác Khẩu”.
Một lời nói mạ luỵ đến các bậc Thánh tăng sẽ lãnh hậu quả nghiêm trọng.
Lấy chứng cứ của tông phái này chống đối tông phái kia là không có logic, cũng như “LẤY ĐÁP ÁN SAI MÀ BẢO ĐÁP ÁN ĐÚNG LÀ SAI” thì càng làm rối tung rối mù lên, rồi cuối cùng xoá sổ hết sao?….Thử nghĩ Phật giáo của mình không còn Thanh Tịnh Đạo, Vi Diệu Pháp thì đó là một tổn thất lớn.
Em muốn vào diễn đàn để học hỏi chứ không thích nghe những lời mạ luỵ, chỉ trích. Đây là Diễn đàn học về Pali mà…

Kan Trần Thưa bạn Mưa Saigon,

Có lẽ bạn vui lòng đọc kĩ câu anh HT viết phía trên. Anh chỉ đưa ra 1 nghi vấn chứ anh chưa có kết luận điều gì.

Về phần mình, mình sẵn sàng khắng định: Abhidhamma ko phải do Đức Phật thuyết.

Khi nêu vấn đề này ra đây, mình đã nói nhiều lần, rằng Abhidhamma cò giá trị lớn, nhưng chủ yếu về mặt học thuật thuần túy. Nếu bạn xác định rằng bạn vào trang này để học hỏi cũng như mình, thì bạn cũng cần học cách lắng nghe các ý kiến trái chiều nhau, rồi tự mình suy xét. Bởi “đạo Phật là dành cho những vị đến và thấy, ko dành cho những vị ko đến ko thấy.”

Nếu bạn, hoặc vị nào hướng tới con đường tu tập, thì mình xin khẳng định lại 1 lần nữa: Abhidhamma ko ích lợi gì nhiều cho quý vị.

Mình xin nói thật lòng, bạn MSG cần tự mình tìm tòi thêm nhiều nữa, ít nhất là bạn phải nắm được tiến trình lịch sử của đạo Phật, rồi mới nên bàn luận trong thread này.

Kan Trần Thưa quý vị trong nhà,

Con thấy vấn đề nguồn gốc của các bộ Abhidhamma [xin nhấn mạnh lại cho quý vị nào chưa có thông tin dc biết, là có rất nhiều Abhidhamma thuộc các bộ phái khác nhau, và Abhidhamma của Theravada chỉ là 1 trong số đỏ.] thật ra rất đơn giản; ko phải Đức Phật giảng thì mình cứ nói là ko phải Ngài giảng; việc nói xiên nói xéo như cách nói của ngài Narada là rất không nên.

Kan đề nghị để tránh những suy diễn đáng tiếc như bạn MSG vừa làm, quý vị nào sẵn lòng trao đổi tiếp về vấn đề nguồn gốc của Abhidhamma thì mong quý vị nêu quan điểm và phân tích của chính mình, cho mọi việc dc rõ ràng. Bởi Đức Phật đã dạy là “lấy mình làm hải đảo cho mỉnh”.

Paññadiṭṭhi Nguyễn Anh Tú Dạ, con cũng có cùng 1 ý kiến với bác Kan Trần, con nghĩ rằng tạng Abhidhamma không có phải do Đức Phật thuyết, vì khá nhiều lí do, như quý bác ở trên đã có đề cập đến !
Và ở đây thì con cũng chỉ xin đưa ra thêm 1 ý kiến nữa đó là vào kỳ kiết tập Tam Tạng lần thứ nhất và lần thứ hai thì con không hề có thấy nhắc đến sự kiết tập A Tỳ Đàm, chỉ bắt đầu đến kỳ kiết tập thứ 3 thì mới thấy xuất hiện nhen nhòm phần Thắng Pháp này !
Đó là 1 ý kiến nhỏ bổ sung thêm của con !

Paññadiṭṭhi Nguyễn Anh Tú Còn như Ngài Phật Âm có giải trong 1 bộ Luận nào đó thì A Tỳ Đàm được kiết tập vào kỳ II và được lưu vào tập kinh “Tiểu Bộ” và rồi tới kỳ thứ III thì được đưa ra thành một bộ riêng thì nghe miễn cưỡng và vô lý quá !
Vì chẳng nhẽ Quý Ngài ở kỳ kiết tập I và II lại không có đủ suy xét để biết trước được điều ấy (tức là việc A Tỳ Đạt Ma là 1 bộ riêng với những nghĩa lý cao hơn Kinh Tạng được đề cập đến trong chính nó) hay sao !?
Đó cũng là 1 ý kiến bổ sung của con !

Pāli Việt – Tam Tạng có ba: Luật, Kinh, và Vi Diệu Pháp.
– Pháp Học là gì? Là học Tam Tạng và Chú Giải.
– Chưa học và hiểu thấu đáo về Tạng Vi Diệu Pháp, thì nên học và hiểu cho thấu đáo trước đã.
– Lúc nghiên cứu và tìm hiểu về Phật Giáo, nên dè dặt với những phát biểu của các học giả phương Tây.
– Nghe nói có nhiều thiền sư không thích hướng dẫn các thiền sinh có học qua Abhidhamma. Nhưng cũng có thiền sư bắt buộc thiền sinh phải học qua phần Abhidhamma căn bản.

Vô Vô Không Khi ta giảng giải điều gì thì ta đều lấy lời đức Phật ra để dẫn chứng, khi các ngài giảng giải Vi Diệu Pháp thì các ngài cũng dựa trên lời Phật dạy để giảng giải thêm mục đích là cho đại chúng ai cũng hiểu không phân biệt căn cơ, tầng lớp, tránh đi lạc vào ngoại đạo và LÀM CĂN BẢN CÙNG VIỆC THỰC HÀNH để thâm nhập vào tạng kinh. Trong thực hành thì Vi Diệu Pháp giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thân, thọ, tâm pháp để chúng ta nhiệt tâm, tinh cần chánh niệm và tỉnh giác ly dục, ly bất thiện pháp đó là bước đầu, còn nếu ai đã nắm rõ thời điểm tâm khởi nghĩ, sự vận hành của tâm thức thì xét lại tạng kinh để chứng thực không cần VDP vì lúc đó chúng ta đã hiểu được tạng kinh rồi. Vi Diệu Pháp không cần khi ta có tín tâm, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm và tỉnh giác đối với một pháp môn thực hành miên mật và liên tục không ngừng nghĩ tới khi chứng thánh quả.

Kan Trần Thưa quý vị trong nhà,

– Khi dẫn chứng để đồng tình hay ko đồng tình 1 quan điểm, tất nhiên ta cần dẫn chứng phải rõ ràng. Dẫn chứng anh VTP đưa ra về lời ngài Narada, ai đọc kĩ đều thấy ngài thừa nhận Abhidhamma ko phải do Đức Phật thuyết.

” Dầu tác giả là ai, nhưng chắc chắn Tạng Diệu Pháp là một công trình sáng tác của một bộ óc kỳ tài có thể so sánh với một vị Phật.

Đây cũng là cách lí luận rất phổ biến của những vị bảo vệ cho tính original của kinh điển Đại thừa. Chỉ cần thay cụm từ Tạng Diệu Pháp = cụm từ Kinh đại thừa.

– Về ý kiến của giới học giả: ngày nay ta biết các kinh Nikaya hay Agama thuộc về 1 lịch sử xưa hơn kinh đại thừa, có tính ng thủy cao hơn. Ai đã giúp chúng ta biết điều này? Chính nhờ giới học giả thuộc nhiều ngành khác nhau. Nhưng tại sao 1 số vị ở đây ko muốn tham khảo ý kiến của giới học giả về Abhidhamma? 1 thái độ thiếu nhất quán như vậy hẳn ko phải là 1 thái độ cởi mở cần có của người Phật tử.

– Trích dẫn của sư Rama về vị sư Sunlun nói lên điều gì? Ngài Sulun đạt dc 1 chứng ngộ nào đó nhờ thực hành thiền hơi thở hay nhờ học tập Abhidhamma? Hỏi cũng đã là trả lời.

Kan Trần quý vị nào sẵn lòng thảo luận về nguồn gốc và giá trị thực hành của Abhidhamma của Theravada, thiết nghĩ quý vị cần tìm hiểu và đối chiếu nó với các Abhidhamma của các truyền thống khác như Hữu Bộ, Duy Thức… Bất cứ truyền thống nào, nếu chỉ biết khư khư trong những quan niệm thuộc bộ phái mình, đều thiếu tinh thần khiêm tốn tối thiểu.

quý vị nào sẵn lòng thảo luận trực tiếp vào nội dung của Abhidhamma Theravada, con xin quay lại điểm ban đầu:

– có những vị trong này cho rằng Danh và Sắc tách biệt nhau; cái này là danh, cái kia là sắc. Chẳng hạn, sư Rama cho rằng Sắc là vật chất. Con xin hỏi lại lần nữa: vật chất là gì? phân biệt vật chất – sắc với danh [phi vật chất?] như thế nào?

Kính.

Pāli Việt Vấn đề ở đây là gì nhỉ? Xuất xứ của Tạng Abhidhamma? Thì đâu có ai bình luận gì đâu? Còn việc thầy tổ bảo phải học Abhidhamma, thì phải học. Còn vị nào không muốn học thì thôi, thì cứ học Luật, học Thiền, thầy tổ đâu có cấm. Hai lãnh vực khác nhau mà. Còn việc nghe lời thầy tổ và lời của Kan Trần thì Sư nghe theo lời của thầy tổ.

Su Trung Thiện Thưa các sư, thưa các đạo hữu. Bạn nào nói Abhidhamma không phải là do Đức Phật thuyết, hoặc nghi ngờ thì chứng tỏ rằng 5 bộ Nikaya chưa đọc kĩ. Không đọc rõ về Kinh chớ có đưa ra phát biểu về Thắng Pháp. Ngũ uẩn là kiến thực thuộc về Abhidhamma, Giới, Xứ, Căn, Trần, đều có trong Kinh Nikaya. Ban đầu khi chưa kết tập kinh điển, thì Abhidhamma nằm trong Pháp, còn Luật thì vẫn đứng riêng biệt cho đến giờ. Nên dừng sự nghi ngờ ở đây!

Su Trung Thiện Còn vấn đề Sắc thì bạn Kan Trần có thể đọcchi tiết trong Nikaya: kinh Tương ưng bộ- Thiên uẩn: “Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc”

Hieu Huynh “Ehi passiko””Hãy đến để mà thấy”, với Abhidhamma mình đã đến chưa và thấy chưa? mình đã đến như thế nào và thấy như thế nào nhỉ? không vội vàng tin cũng không vội bác bỏ, thiện tai, thiện tai

Kan Trần Thưa quý vị trong nhà,

Nếu chỉ đơn thuần là lấy 1 đoạn trong kinh như sư Việt Dũng vừa làm để chứng minh; thì con có thể lấy ra gấp nhiều lần như vậy, để cho quý vị thấy được sự bất nhất của các khái niệm được miêu tả trong kinh. Đề nghị quý sư khi trích dẫn cũng nên có 1 phương pháp tốt hơn.

Quý vị cũng đã biết, chính vì sự thiếu nhất quán trong kinh tạng, nên các À-tì-đàm mới ra đời, để bổ khuyết cho kinh tạng với mong muốn tổng quát hóa kinh tạng.

Con đã thưa nhiều lần, nếu con viết cụ thể ra đây dẫn chứng về nguồn gốc của các A-tì-đàm cùng các vấn đề xoay quanh nội dung của chúng, ít nhất nó cũng dài bằng 1 quyển sách 100 trang A4, không chỉ Abhidhamma của Theravada mà còn Abhidharma của Hữu Bộ, rồi Tỳ-bà-sa Luận, Thành Duy Thức Luận v.v.

Tóm lại, quý vị nào muốn biết về A-tì-đàm mà chỉ biết có mỗi Abhidhamma của Theravada và dùng nó làm căn cứ, mà bỏ qua những bộ Abhidharma của các truyền thống khác cùng với tiến trình lịch sử của chúng, thì con e là vị đó sẽ lập lại tình trạng giống như thầy bói mù sờ voi mà thôi.

Con cũng xin phép được dừng đề tài này tại đây, để trả lại sự bình thường trong trang nhà Pali chuyên đề cho mọi người.

Kính.

Paññadiṭṭhi Nguyễn Anh Tú Sàdhu! Sàdhu! Lành thay!



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s