– Tuệ và Trí

Tuệ (paññā) và Trí (ñāṇaṃ)

 Trong Pali Chuyên Đề, thảo luận này có đề tựa là:

“Bàn về kinh Tương Ưng vô vi& Kinh Bát Thành & Tuệ &Trí”

——————————

Nguyễn Viết Huy:

Hôm nay tình cờ con đọc được bài Kinh này, Đức Phật đã chỉ rõ trình tự, thứ lớp như sau: hành Thiền định viên mãn, chứng đắc các bậc Thiền, sau đó hành Tứ Niệm Xứ, phát triển các phần trợ đạo như : Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Tám Thánh Đạo? Không biết group Pali chuyên đề có ý kiến gì thêm về Đạo Lộ nữa không ạ? http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-43.htm

 

THẢO LUẬN

Phạm Doãn

Lúc đọc được nhiều bài kinh hơn, thì tôi thấy vấn đề Đạo Lộ không còn rối rắm như trước. Vì các bài kinh đều gần như thống nhất với nhau về đạo lộ: Giới hạnh, phòng hộ căn, làm bớt các lậu hoặc —> tu tập Chánh niệm thuần thục —>thu tập các bậc thiền (để có thắng trí)—> thực hành các pháp đoạn trừ lậu hoặc + pháp quán để phát triển tuệ (chánh trí)—->thực hiện tam minh (chánh giải thoát). Cám ơn cái link của Huy vừa cho biết. Rất hay!

Phạm Doãn

Bài kinh nói về thứ tự tu tập (đạo lộ): http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung39.htm

39. Đại kinh Xóm Ngựa

www.budsas.org

Nguyễn Viết Huy

Theo Đại Kinh Xóm Ngựa thì Tam Minh chỉ là Quả của Định và các quá trình trước chứ không phải là Nhân để giải thoát phải không ạ?

 Hạnh Trương

Trong bài kinh mà Huy đưa, có sự liệt kê các pháp, nhưng không có sự trình bày tuần tự, thứ lớp. Cho nên kết luận ” Đức Phật đã chỉ rõ trình tự, thứ lớp như sau” là không hợp lý.

Tam Minh là quả của Chánh Định và là Nhân cho Giải Thoát :

“Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu”

Nguyễn Viết Huy

Như vậy cái đánh thứ tự I,II, III ấy chỉ mang tính chất đoạn văn thôi ạ bác ?

Hạnh Trương

Theo anh thì như vậy, mấy đoạn đầu thì thấy nó là trình tự ngược lại, sau đó nó lại đi vào chi tiết, rồi nó lại mở rộng, rồi nó được bổ sung các pháp bổ trợ như ngũ căn, ngũ lực.

Nếu nói các pháp tu của Phật chỉ như là 1 mắt xích, cái này nối tiếp cái kia thì không đúng. Ý anh là không phải cái gì cũng là đạo lộ, mà có cái là đạo lộ, có cái là công cụ, phương tiện để đi trên đạo lộ ấy.

Ngoài ra, đạo lộ cũng nhiều nữa, ví dụ ở Kinh Bát Thành, có tới 11 cách chứng đạo.

Phạm Doãn

I. Ý KIẾN RIÊNG:

Một số lầm lẫn do chữ nghĩa mà ra:

Pháp Quán (contemplation) khác với Tuệ Quán (Vipassana)

– Pháp Quán thì Bà La Môn cũng có. Nhất là Mật Tông, phải hình dung (quán tưởng) hình ảnh của chư thiên, của các Mandala.v.v…

– Pháp Tuệ Quán = Quán thế nào để tạo ra Tuệ (ở đây là các Tuệ dùng để thực hiện giác ngộ). Tuệ Quán là pp đặc trưng cho Đạo Phật nguyên thủy, bản quyền thuộc về Đức Phật.

– Thực hành Chánh Niệm (satibhavana) trước giai đoạn tu tập Thiền Định thì chỉ là pháp Quán (đơn thuần). Chứ chưa thể gọi là Tuệ Quán. Vì lúc này tuệ có ít, mà cũng không thể dùng để thực hiện giác ngộ được . Ngay cả lúc đắc Định thì Tuệ sinh ra từ Định (Jhānā’bhiññā) cũng chưa phải là tuệ để trực tiếp tạo ra giác ngộ trong Đạo Phật

– Vì sự quen dùng của số đông, vì sự không phân biệt kĩ lưỡng nên các giai đoạn Quán trước khi chính thức thực hành Vipassana thường bị gọi chung là Vipassana. Tuy nhiên gọi làm sao cũng là do ta quy ước với nhau mà thôi!

II. Rừng thiền Pa Auk (theo pp Thanh Tịnh Đạo):

– Chỉ khi thực hành đến giai đoạn “Đạo Phi Đạo Tri kiến Thanh Tịnh” mới chính thức gọi là Vipassana. Có nghĩa là vào giai đoạn gần sát lúc giác ngộ.

Phạm Doãn

TAM MINH

Gồm có Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.

1. Túc mạng minh: tuệ giác sáng suốt biết rõ các kiếp sống đã qua của mình và của tất cả chúng sinh .

2. Thiên nhãn minh: tuệ giác sáng suốt biết rõ các kiếp sống tương lai của mình và của tất cả chúng sinh diễn biến sinh diệt như thế nào.

3. Lậu tận minh: tuệ giác sáng suốt nhận biết các pháp đoạn trừ phiền não mê lầm của mình và của tất cả chúng sinh để được an lạc.

Thực hiện Tam Minh, như Đại kinh xóm ngựa, Đại kinh Saccaka, v.v…mô tả :

“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời…”

Đây chính là giai đoạn mà Thanh Tinh Đạo gọi là “thực hành thiền Vipassanā gắn với quá khứ, đến hiện tại và đến tương lai.”

http://bsphamdoan.wordpress.com/tu%E1%BB%87-quan-vipassana/64-2/

Trường phái Pa Auk, căn cứ theo Thanh Tịnh Đạo, chỉ chính thức gọi là VIPASSANA khi sự thực hành tuệ quán đến giai đoạn Đạo Phi đạo Tri Kiến Thanh Tịnh.

– Nếu chúng ta “quy ước” với nhau rằng chỉ gọi là Vipassana, khi sự thực hành Pháp Quán của chúng ta có sinh ra các tuệ để giác ngộ, thì Vipassana thuộc về giai đoạn cuối cùng của đạo lộ tu tập.

– Và cũng nên quy ước như vậy để tránh một số nhầm lẫn với các pháp quán tứ niệm xứ để tạo Chánh Niệm.

– Căn cứ theo nội dung cảu nhiều bài kinh Nikaya, Đức Phật thực hành Vipassana sau khi có đủ các bậc thiền -định. Vipassana của Đức Phật kéo dài liên tục 49 ngày dưới cội Bồ đề, và Ngài cuối cùng hoàn tất Ba Minh.

– Vipassana dưới cội Bồ Đề là một đặc thù trong giáo pháp, không có ngoại đạo nào thực hành pháp này.

Tham khảo Thể nhập Thiền Định và Thiền Tuệ/ bsphamdoan.wordpress.com

Nguyễn Viết Huy

Cháu rất nhất trí với bác Phạm Doãn ở điểm này, đúng là từ Vipassana được dùng đại trà, còn chính xác phải như bác nói! Cháu cũng thấy nhiều Thầy nói như bác.

Hạnh Trương

Các pháp quán theo em, nó được phân biệt ở mấy yếu tố thế này ạ.

1. Mục đích của sự quán

2. Đối tượng của việc quán

3. Phương tiện dùng để quán

4. Phương pháp quán

5. Thời điểm sử dụng

Riêng với Vipassana, thời mà thực hành Vipassana là Tuệ được dùng làm công cụ rồi ạ, chứ không hăn thực hành Vipassana để có tuệ giác. Điều kiện để thực hành được Vipassana là tuệ và niệm đã phải cực kỳ sắc bén, và đối tượng của Vipassana là ngũ uẩn, mục tiêu của Vipassana là như thật thấy biết, thời điểm sử dụng là sau khi đã đạt chánh định…

Cái vụ luôn nhớ làm để làm gì cũng nhiều khi có lợi, hihi

Phạm Doãn

‎- Công cụ của Vipassana là: Tuệ tri như thực (yathābhūtaṃ pajānāti), vâng đây là “tuệ làm công cụ cho Vipassana”. Tuệ này do tu tập Định mà có.

– Kết Quả của Vipassana là: Các Tuệ (Trí) cần để đạt Giác ngộ, cũng có thể hiểu là các Tuệ có trong sự Giác ngộ. Đây là “Tuệ kết quả từ Vipassana”

Theo mô tả của Phân Tích Đạo, có rất nhiều Tuệ được sinh ra khi giác ngộ. Ví dụ một vài Tuệ như:

– Cetopariyañāṇa – Trí biết được tâm

– Pubbenivāsānussatiñāṇa – Trí nhớ về các kiếp sống trước

– Dibbacakkhuñāṇa – Trí về thiên nhãn

– Āsavakkhayañāṇa – Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc

Ba Minh (Tam Minh) là 3 trong các Tuệ được sanh khởi trong qui trình Tuệ Quán

Hạnh Trương

Trí là kết quả là đúng rồi ạ, còn Tuệ là phương tiện ạ, hai cái này khác nhau. Trong Milanda có phân biệt hai cái này cũng khá rõ, mà bản thân từ Pali của chúng cũng khác nhau rồi ạ.

Không biết Sư Bhikkhu Indacanda có bổ sung gì về Trí và Tuệ không (không chơi dẫn lại đoạn đã dịch từ Phân Tích Đạo, hihi)

Hạnh Trương

‎8. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài, tác ý có gì là tướng trạng, tuệ có gì là tướng trạng?”

“Tâu đại vương, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng, tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng.”

“Thưa ngài, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng nghĩa là thế nào? Tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng nghĩa là thế nào? Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, ngài có biết về những người gặt lúa không?”

“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm có biết.”

“Tâu đại vương, những người gặt lúa cắt cây lúa như thế nào?”

“Thưa ngài, họ nắm bó lúa bằng tay trái, cầm cái liềm bằng tay phải, rồi cắt bằng cái liềm.”

“Tâu đại vương, giống như người gặt lúa nắm lấy bó lúa bằng tay trái, cầm cái liềm bằng tay phải, rồi cắt bằng cái liềm, tương tợ y như thế hành giả nắm lấy ý bằng sự tác ý rồi cắt đứt các phiền não bằng tuệ. Tâu đại vương, tác ý có sự cân nhắc là tướng trạng nghĩa là như vậy, tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

15. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tuệ có gì là tướng trạng?”

“Tâu đại vương, quả là đã được tôi nói đến trước đây: ‘Tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng.’ Và tuệ còn có sự soi sáng là tướng trạng nữa.”

“Thưa ngài, tuệ có sự soi sáng là tướng trạng nghĩa là thế nào?”

“Tâu đại vương, tuệ trong khi được sanh lên thì xua tan bóng tối vô minh, tạo ra ánh sáng ngời của minh, phô bày ánh sáng của trí, làm cho các chân lý cao thượng được hiển hiện. Nhờ đó, hành giả nhìn thấy với tuệ chân chánh rằng: ‘là vô thường,’ hoặc ‘là khổ não,’ hoặc ‘là vô ngã’.”

Đoạn 15 phân biệt rất rõ giữa Tuệ và Trí .

Khi Tuệ được dùng làm tool để cắt đứt, thì nó thuộc về các giai đoạn trước khi đạt Chánh Định.

Khi Tuệ được dùng làm tool để soi vào ngũ uẩn (để thấy tam pháp ấn), thì nó được dùng ở sau Chánh Định. Điều kiện của nó là tâm phải được lọc sạch rồi.

Tuệ cũng được dùng để soi sáng, giúp phân biệt ác pháp, bất thiện pháp, khi đó nó là thuộc chi Chánh Kiến chạy vòng quanh các chi Thánh Đạo trong Bát Chánh Đạo.

Đặc biệt biết ơn Sư Indacanda đã dịch phần này của Milinda vấn đạo rõ ràng và hay tới vậy. Hihi

Hạnh Trương

Quên xíu ạ, còn cái ví dụ nữa của đoạn 15🙂

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như người đàn ông đem cây đèn vào trong ngôi nhà tối tăm, cây đèn khi đã được đem vào thì xua tan bóng tối, tạo ra ánh sáng ngời, phô bày ánh sáng, làm cho các vật thể được hiển hiện. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, tuệ trong khi được sanh lên thì xua tan bóng tối vô minh, tạo ra ánh sáng ngời của minh, phô bày ánh sáng của trí, làm cho các chân lý cao thượng được hiển hiện. Nhờ đó, hành giả nhìn thấy với tuệ chân chánh rằng: ‘là vô thường,’ hoặc ‘là khổ não,’ hoặc ‘là vô ngã.’ Tâu đại vương, tuệ có sự soi sáng là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

Nguyễn Viết Huy

Cảm ơn anh Hạnh Trương càng ngày càng làm rõ các vấn đề chi tiết, nhưng có đoạn này em muốn thắc mắc anh ạ:

– Đoạn em hỏi bác Phạm Doãn là Tam Minh là Quả của các nhánh trước, và anh chỉ cho em rằng nó lại làm Nhân cho Giải Thoát sau này.

Như vậy một nhánh nào đó là Quả thì đồng thời là Nhân cho cái sau, còn đoạn sau anh lại phủ nhận về mắt xích chuối liên kết về thứ tự của các giai đoạn phát triển, như vậy có mâu thuẫn nội tại trong lập luận của anh không ạ?

Hạnh Trương to ‎Nguyễn Viết Huy, có cái này hay này🙂

16. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, các pháp này là khác biệt, nhưng có phải chúng đạt tới cùng một mục đích?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Các pháp này là khác biệt, nhưng chúng đạt tới cùng một mục đích là diệt trừ các phiền não.”

“Thưa ngài, các pháp này là khác biệt, nhưng chúng đạt tới cùng một mục đích là diệt trừ các phiền não nghĩa là thế nào? Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như các đạo quân là khác nhau: các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, và bộ binh, nhưng chúng đạt tới cùng một mục đích là chiến thắng đạo quân đối địch ở chiến trường. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, các pháp này là khác biệt, nhưng chúng đạt tới cùng một mục đích là diệt trừ các phiền não.”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

Hạnh Trương

À, anh có viết là “không phải cái gì”, chứ không phủ nhận có sự tồn tại của trình tự, thứ lớp🙂 ( của cái mắt xích). cái “không phải cái gì đó” nó là cho các pháp mà đã được liệt kê trong đoạn kinh mà Huy dẫn ra.

Nguyễn Viết Huy

hihi, em hiểu về đoạn đó rồi, cảm ơn anh. À còn về Kinh Bát Thành em đọc và hiểu thì 11 cửa bất tử đó không phải là 11 cách anh ơi, tất cả đều nằm ở nhánh Thiền Định anh ạ và cũng phải hoàn tất các Chi sau mà anh.

Hạnh Trương

Chỗ Bát Thành nó có 1 cái đặc biệt, đó là có nhiều pháp mà ngoại đạo cũng có, như tứ vô lượng tâm, nhưng ở đoạn khác đức Phật nói là chỉ có đệ tử của Như Lai, sau khi chứng các pháp này mà sinh thiên, thì ở đó tu tiếp cũng chứng đạo như thường. Cho nên anh mới nói nó là 11 cách là vậy. Còn tất nhiên là lên trời rồi thì cũng phải tu nốt mấy cái kia thôi🙂

Nó giống như mình đang ở bờ bên đây, muốn qua một thành phố ở bờ bên kia thì mình có thể đi qua 11 bến thuyền khác nhau vậy. Qua tới bờ bên kia rồi thì vẫn phải làm nốt từng ấy việc thôi, đoán thế, hihi

Hạnh Trương

‎”mấy cái kia” = như thật thấy biết-nhàm chán- ly tham- giải thoát ….

Nguyễn Viết Huy

Anh ơi, đoạn này em thấy chưa ổn, chỗ anh bảo là qua 11 bến thuyền khác nhau ấy ạ, em đọc thì thấy là 11 bến thuyền liên tiếp nhau mà anh, 11 cửa ấy bao gồm 4 thiền, 4 phạm trú, và 3 thiền chứng Vô sắc, cái này nối tiếp cái kia ấy chứ anh nhỉ, vì 3 thiền chứng vô sắc cũng phải qua 4 thiền và 4 phạm trú mà anh.

Hạnh Trương

Đâu có liên tiếp đâu🙂 đọc kỹ lại xem

– Bạch Tôn giả Ananda, như người tìm một kho tàng cất dấu, trong một lúc tìm được mười một kho tàng cất giấu. Cũng vậy, bạch Tôn giả, con đi tìm một pháp môn bất tử mà được nghe một lần mười một pháp môn bất tử. Bạch Tôn giả, như ngôi nhà người ta có đến mười một cửa, khi ngôi nhà bị cháy, thì chỉ do một cửa người ta cũng có thể thoát ra một cách an toàn. Cũng vậy, bạch Tôn giả, chỉ với một cửa bất tử trong mười một cửa bất tử này, con có thể đạt được sự an toàn cho con.

NHƯ NGÔI NHÀ NGƯỜI TA CÓ ĐẾN MƯỜI MỘT CỬA..

CHỈ VỚI MỘT CỬA BẤT TỬ TRONG MƯỜI MỘT CỬA BẤT TỬ NÀY…

Nguyễn Viết Huy

Em đọc lại rồi, Quy trình là :

1) Sơ Thiền —> Phạm trú của Sơ Thiền, giả sử có dừng ở đây cũng từ đó hành tiếp qua các chi sau –> Niết Bàn

2) Nhị Thiền —> Phạm trú của Nhị Thiền, giả sử có dừng ở đây cũng từ đó hành tiếp qua các chi sau —> Niết Bàn

3) Tam Thiền: như trên

4) Tứ Thiền: như trên

như vậy là có 4*2, 4 bậc thiền và 4 phạm trú là 8, sau đó ai còn phát triển tiếp để chứng 3 Thiền Vô Sắc nữa : Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ .

Nguyễn Viết Huy

Vâng anh ơi, 11 cửa kia có nghĩa là có thứ tự, tức chỉ cần chọn cửa nào có độ an toàn thấp nhất đi nữa, ví dụ như Sơ Thiền, cũng đủ để thoát nạn, thoát ra khỏi đấy đã, với cái đà chạy khỏi đám cháy, thì sẽ chạy tiếp các cửa sau, không có nghĩa là 11 cửa kia như nhau anh ơi.

Hạnh Trương

Ủa, sao lại có thể hiểu phức tạp như thế, ví dụ trong kinh rõ thế cơ mà, làm gì có cái thứ tự nào ở đây🙂

Lưu ý là CHỈ VỚI MỘT CỬA là đã thoát được rồi, còn nếu tuần tự thì phải đi đủ hết 11 cửa mới thoát chứ🙂

Nguyễn Viết Huy

Ôi, nếu một cửa đã thoát thì lại quá đơn giản anh ạ, nếu thế chỉ cần đắc Sơ Thiền là an ổn luôn, nếu thế thì làm gì có Trí là Quả và Tuệ là phương tiện và Tam Minh giải thoát anh ơi.

Hạnh Trương Đọc kỹ thêm tý nữa thì thấy không đơn giản🙂

Nguyễn Viết Huy Đoạn này để em nghiên cứu kỹ và sẽ đưa lên một tham luận trên Pali chuyên đề trong thời gian tới anh nhé.

Hạnh Trương

Yes sir, nếu thế thì phải tìm thêm vài đoạn nữa. Anh đã đọc mà không nhớ chính xác, nêu lên sự khác biệt giữa đệ tử của Như Lai và ngoại đạo sau khi chứng thiền. Cái đó nó mới liên hệ tới vụ qua bờ bên kia rồi thì làm gì. Huy tìm thêm nhé, đề tài này cũng hay lắm, khá là khỏe, hehe

Phạm Doãn:

Dear Hạnh& Huy

“Câu hỏi về các tướng trạng”

(Milinda vấn đạo PDF, trang 55, từ đoạn 8 đên đoạn 15)

Các đoạn này bàn về các thiện pháp, lần lượt:

Giới, Tín ,Tấn, Niệm, Định, Tuệ

– Khi đến đoạn 16:

Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, các pháp này là khác biệt, nhưng có phải chúng đạt tới cùng một mục đích?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Các pháp này là khác biệt, nhưng chúng đạt tới cùng một mục đích là diệt trừ các phiền não.”

– Như vậy đoạn văn này nói về sự khác biệt của Tín Tấn Niệm Định Tuệ,

Chứ đâu có nói gì đến sự khác biệt giữa Tuệ Và Trí !

– ”Trong Milanda có phân biệt hai cái này cũng khá rõ, mà bản thân từ Pali của chúng cũng khác nhau rồi ạ.”

– Chắc không khác nhau đâu HT. Nếu có khác thì phải có hai từ Pali riêng biệt, một để dịch chữ Tuệ và một để dịch chữ Trí?

Sư Indacanda cũng như nhiều dịch giả khác đều hiểu và dịch tuệ và trí như nhau. Tuệ và Trí dùng chung không có khác biệt. Ví dụ: Mười sáu tuệ thu được trong Vipassana, sư Pháp Thông cũng dịch là Tuệ (Pali là nana)

Nếu muốn phân biệt thì hiểu Tuệ như “có tính active” và Trí như “có tính thụ động”. Giông như Triết học Trung Quốc xem xét một hiện hữu dưới hai khía cạnh “Thể” và “Dụng”

Ai có ý kiến thì xin góp thêm vào ạ!

Nguyễn Viết Huy

Theo cháu có thể hiểu nôm na Trí là cái thấy(nhận dạng), Tuệ là cái hiểu rõ(phân tích) được không ạ. Nó có chức năng diệt trừ phiền não thì nó phải nhận dạng phiền não, sau đó phân tích rõ phiền não .

Phạm Doãn ‎to Nguyễn Viết Huy

Đúng vậy:

Tuệ là sự nhận biết, còn Trí là Tuệ đã được nhận biết rõ ràng và trọn vẹn. Phân Tích Đạo (Patisambhidāmagga), bộ kinh thứ tám trong Tiểu bộ kinh, phân biệt hai khái niệm rất gần nhau là TRÍ và TUỆ bằng những cụm từ thường luôn được lập lại như sau:

– “Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā.”

Điều ấy theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là TRÍ (ñāṇaṃ), theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là TUỆ (paññā).”

Như vậy: ñāṇaṃ không khác với paññā về mặt bản chất

– Biết (active) thì gọi là Tuệ

– Được nhận Biết (passive) thì gọi là Trí

Chỉ khó là trong tiếng Việt hai chữ Trí và Tuệ thường đi đôi

Phạm Doãn

Tiếng Anh thì lại khó hơn vì cả Tuệ (panna) và Trí (nanam) đều dịch là wisdom cả!

Phạm Doãn

Ok, đồng ý với Hạnh Trương. Tuệ là tool của tu tập mà Trí là result của tu tập. Dùng phân biệt như vậy cho phù hợp với ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên phải biết khi có Tuệ là tức thì có “Trí tương ứng” ngay tức khắc. Ví dụ khi có TUỆ “phân biệt Danh Sắc” thì tức thời có TRÍ “phân biệt Danh Sắc”.

Hạnh Trương Theo em Tuệ là Tuệ thôi ạ, mình soi đèn vào cái bàn phím, thấy cái bàn phím, rồi bảo đó là đèn bàn phím thì cũng được, nhưng về bản chất nó chỉ là nguồn cung cấp ánh sáng. Cũng cái đèn đó, nếu mình soi vào cuốn sách, nhờ đó cuốn sách được thấy, thì mình có thể gọi nó là đèn đọc sách, nhưng vẫn vậy, đèn là đèn thôi ạ.

Tuệ là công cụ để tri và để có trí. Tuệ khi được dùng làm công cụ cho Tri thì được gọi là Tuệ Tri, khi dùng làm công cụ cho Trí, thì nó thành các TRÍ, các cái TRÍ viết hoa này ngầm hiểu là có Tuệ làm công cụ như đã được phân tích trong Phân Tích Đạo mà anh đã trích dẫn

Tuệ như vậy không khác nhau về bản chất mà chỉ khác nhau về cường độ, về sự ổn định, về chất lượng thôi ạ.

“9. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.

10. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào”

Là nó đó ạ.

Khi có Tuệ không chắc là có Trí , theo em là như vậy. Ví dụ như một số vị Đại Đệ Tử của Phật lúc chưa gặp Phật, họ có Tuệ, nhưng họ chưa có TRÍ, cho tới lúc được Phật chỉ dẫn, thì Tuệ đó mới được dùng đúng cách và TRÍ khởi lên ạ.

Hoa Nguyen

Câu nói của Phật :””9. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.

10. Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào”

khiến không khỏi nghĩ tới Tâm thanh tịnh và tâm nhiễm ô của Thiền tông (thật ra của tông phái Duy Thức hay Du già ở Ấn Độ mà Thiền tông tiếp nhận lại). Tâm thanh tịnh về sau được gọi bằng nhiều tên khác nhau (như Chân Tâm, Tự tánh, Chân Như, Phật tánh…). Chứng đạo, chứng ngộ với Thiền tông là nhận ra (hay tiếp xúc) được chân tâm đó.

Phạm Doãn

Hi Hi…PD không consider hai cái phạm trù Tuệ và Trí trong giới hạn trong lãnh vực tôn giáo đâu! Ngay cả một người bình thường (phàm phu) cũng có Tuệ và Trí. Cả hai đều là wisdom. Wisdom (tuệ và Trí) của phàm phu thì hướng về những mục đích thế gian còn wisdom của bậc Thánh thì hướng về sự giải thoát. Nhờ mở rộng tầm nhìn mà từ đó ta có thể thoát khỏi cái “thần bí” của Tôn giáo! thoát khỏi cái “thần bí” của trạng thái giác ngộ!

Phạm Doãn

Một đứa bé cũng có thể có Tuệ để khám phá thế giới chung quanh nó.

– Tuệ đứa bé phát triển đến đâu thì nó có cái Trí tương ứng (với cái Tuệ đó).

– Khi đứa bé lớn lên, đi qua Đại Học, nó sẽ trở thành triết gia hay khoa học gia có Tuệ và Trí về các lãnh vực triết học & khoa học mà nó nghiên cứu.

– Đến một ngày nó đi tu, thì cũng với Tuệ và Trí đó, nó sẽ hướng về sự giải thoát.

Xét về bản chất, không có gì khác biệt giữa tuệ và trí của khoa học với tuệ và trí của Đạo Phật. Dĩ nhiên có rất nhiều con người “tôn giáo” sẽ không đồng ý với quan điểm này. Các vị đó sẽ cho rằng tuệ và trí của Đạo Phật có tính “linh thiêng” và “vĩ đại” hơn!

Hoa Nguyen

Cái Tuệ trên có thể hiểu là “tâm sáng chói” Phật nói ở trên. Con người khi tái sinh mang theo “thiện nghiệp” đó, nhưng dù vậy Tuệ vẫn khác nhau ở mỗi người (chỉ là ý kiến riêng, và bàn cho vui thôi).

Hoa Nguyen

Cách học để thu nhận tri thức của đứa bé từ mẫu giáo đến tiến sĩ là làm tăng trưởng Thức tri, nhưng chúng ta đã biết. Còn Tuệ (giác) của Phật giáo muốn chỉ sự hiểu biết về pháp hành và con đường đưa tới giải thoát. Mỗi đứa bé đều có khả năng về (trí) thông minh để học và tiếp nhận tri thức mới, đồng thời cũng có tâm hướng thượng (tuệ), muốn giải thoát hay lên thiên đàng, bằng cách tu hành riêng, do đó có đạo này đạo kia. Tôi lại hiểu ngược lại với vài góp ý trên: Trí là khả năng (dụng, biểu hiện) của Tuệ (nhưng không tìm được dẫn chứng từ kinh, sách). Ở Duy thức học, khi Thức tiến tới mức thật cao (ở bậc giác ngộ) thì Thức biến thành Trí.

Phạm Doãn

Nếu nhận ra rằng:

Tuệ và Trí (Wisdom) bắt đầu phát triển từ đứa bé, từ một phàm phu, đến một người trưởng thành có tu tập, thì nhất định Tuệ và Trí trong sự tu tập sẽ không còn gì là “thần bí”, hay “linh thiêng” nữa. Hệ quả là những quan điểm liệt kê sau đây:

– Mọi người sẽ thấy Đạo Phật là khoa học về Tâm. Đó là khoa học xoay chuyển Tuệ và Trí của phàm phu (vốn hướng về thế gian) sang Tuệ và Trí của con đường giải thoát. Đó là khoa học về Tâm, từng bước phát triển Tuệ và Trí từ mức phàm phu tới mức của bậc Thánh. Đạo Phật nguyên thủy vốn là một nền khoa học (về Tâm) vĩ đại, nhưng rất tiếc, luôn bị Đạo Phật Tín Ngưỡng bao phủ bằng sự thần bí, linh thiêng. Có lẽ phải hơn 90% tín đồ là thuộc về dạng tín ngưỡng, luôn lệch lạc trong không khí thần bí linh thiêng. Ngay cả một người có trình độ học thức cũng không thoát khỏi cái thần bí linh thiêng của Đạo Phật (cũng như của tất cả tôn giáo). Đạo Phật (trong thế lỷ này) rất cần phải được desacralized và demythologized!

– Sẽ không có ai thuyết phục ta được rằng có trường hợp “hốt nhiên đại ngộ”. Phải luôn luôn có Tuệ và Trí phát triển theo đúng đạo lộ mới dẫn đến Giác Ngộ!

– Không có sự khác biệt giữa một Phàm phu và các bậc Thánh, ngoài sự khác biệt do chênh lệch mức độ của Tuệ và Trí. Nhận ra sự thật về tính bình đẳng này giúp ta trưởng thành và tự tin rất nhiều trên con đường tiến hóa tâm linh.

– Nhận thức này sẽ có tác dụng lớn đối với một số tín đồ của các tôn giáo thần khải. Sở dĩ lôi vấn đề này vào đây, vì PD vừa có một người bạn đang từ một gia đình Catholique truyền thống muốn đi về hướng Đạo Phật nguyên Thủy . Các tôn giáo thần khải không biết đến “Tuệ và Trí” mà cho rằng bậc Thánh là do được “ban phước” (blesed) từ Đấng tối cao. Không hiểu sao Bhikkhu Thanissaro thấu hiểu Đạo Phật lâu rồi, mà vẫn cứ dịch chữ Đức Phật, Bậc Giác Ngộ là the “Blessed One” !!! Có ai bless đâu? Ngài chỉ phát triển Tuệ và Trí từ một người bình thường thành một bậc Thánh đó thôi!

– Sẽ không còn tinh thần “sùng bái” trong Đạo Phật nữa. Chỉ còn có “tôn kính” thuần túy thôi. Thực ra cái ranh giới giữa “Sùng bái” và “Tôn kính” rất khó phân biệt, rất khó nhận ra! Tại sao lại phải cảnh giác với cái tinh thần sung bái? Vì tinh thần “sùng bái” sẽ dẫn đến rất nhiều nghi thức không đáng có, không cần có, và nhất là dẫn đến sự run sợ của người đi sau đối với người đi trước. Người đi sau không dám hỏi, không dám chất vấn người đi trước! Thế là, qua bao năm tháng, các thế hệ tu tập vẫn đi trên cùng một con đường mòn. Chính cái “đường xưa lối cũ”đó, mà ai tinh ý cũng thấy, đã dẫn đến sự thoái trào của Đạo Phật, cũng như tất cả các tôn giáo khác trong thời điểm hiện nay!

Comment này là cảm hứng ngẫu nhiên trong sáng nay. Có thể đây chỉ là quan điểm rất riêng tư và xa lạ. Mọi người nếu thấy không đúng, không phù hợp thì xin bỏ qua. Kính.

Nguyễn Viết Huy

Lại một lần nữa nhất trí hoàn toàn với bác Phạm Doãn, riêng về phần Trí và Tuệ có lẽ sẽ phải thêm một tham luận nữa . Như vậy chủ đề này cháu thấy rất hay, có hai điều bổ ích cần nghiên cứu thêm:

– Một là trong bài Kinh Bát Thành, 11 cửa kia là liên tiếp hay riêng biệt?

– Hai là, Trí và Tuệ là riêng rẽ, khác nhau, hay cùng ý nghĩa, chức năng, khái niệm của từng từ là gì ?

Xin tán thán những giây phút chia sẻ với những bậc huynh trưởng cùng các đạo hữu, sự lợi lạc này xin hồi hướng đến tất cả các mọi người cho ai đọc và theo dõi chủ đề này !

 


11 phản hồi on “– Tuệ và Trí”

  1. Vô thủ nói:

    “… trong bài Kinh Bát Thành, 11 cửa kia là liên tiếp hay riêng biệt?”

    – “… Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. XUẤT Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.” – http://budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm
    (Đang ở trạng thái “XUẤT Tứ thiền”, Ngài Diệt độ)

    • ckkhaitue nói:

      Diệt độ là Niết Bàn. Vậy Niết Bàn là 1 loại tâm định?

      • Vô thủ nói:

        Này Hiền giả! Diệt độ KHÔNG Phải là Niết-bàn; này Hiền giả, “Diệt Độ” là Như Lai chấm dứt sự cứu Độ chúng sanh(= Chánh Pháp) tại thế gian.

        Này Hiền giả! Niết-bàn là ngay khi Như Lai chứng ngộ BỐN THÁNH ĐẾ dưới cội cây Assattha(bát-đa-la) trong đêm canh thứ 3 (ÁI diệt, MINH sanh, VÔ Lậu, Niết-bàn).

        Này Hiền giả! Tâm định là một Pháp Hữu vi. Phàm có pháp nào là Hữu vi, pháp ấy bị biến hoại Vô thường, pháp như vậy thời không phải Niết-bàn.

        Mong rằng Hiền giả an lạc và tinh tấn !!

  2. BS Phạm Doãn nói:

    Cám ơn đạo hữu Vô Thủ vì câu trả lời ngắn gọn và chính xác!

    • Vô thủ nói:

      Lành thay, này Hiền giả! Cảm ơn Hiền giả đã nói lời tán thán!

      Ở đây, này Hiền giả, VT có khởi lên 2 thắc mắc như sau:

      1) VT là người tự đi trên đôi chân của mình, tự mình nương tựa lấy chính mình. Do vậy, phàm có điều gì liên hệ đến Pháp, liên hệ đến Luật; VT đều học hỏi kỹ lường, rồi đem ra so sánh với Kinh, đem ra đối chiếu với Luật. Sau khi so sánh với Kinh, sau khi đối chiếu với Luật, thấy điều nào là chơn chánh, là lợi ích thiết thực, thời mới gìn giữ và tinh tấn thọ trì.
      Do vậy, này Hiền giả, đối với những điều liên hệ đến Pháp và Luật, VT chỉ dùng “KINH đối KINH”, dùng “KINH đối LUẬT”, dùng “LUẬT đối LUẬT”, dùng “LUẬT đối KINH”, KHÔNG Có dùng “KINH đối Từ-điển” hay dùng “Từ-điển đối KINH”, KHÔNG Có dùng “KINH đối Chú-giải”, hay dùng “Chú-giải đối KINH”,…
      người như vậy, này Hiền giả! phải chăng là thích hợp để lui tới và chia sẻ trên Diễn đàn ?

      2) Này Hiền giả! Như lời Thế Tôn khuyên dạy và sách tấn Đệ tử: “Thấy nguy hiểm trong từng lỗi NHỎ NHẶT, Không CHẤP THỦ các phương tiện ở đời”, thời VT vẫn thường tác ý gìn giữ những điều ấy. Do vậy, này Hiên giả, VT không có dùng “Facebook” hay các Pháp có nhiều liên hệ đến thế tục (vì tự thấy đó là những chướng ngại, không thích hợp để giữ gìn Phạm hạnh); như vậy, này Hiền giả! phải chăng là có thể tham gia Diễn đàn với nhiều lợi ích và tốt đẹp cho những người Hữu duyên ?

      Kính mong được lóng nghe những lời chia sẻ từ Hiền giả!
      Kính chúc Hiền giả an lạc và tinh tấn !!

      • BS Phạm Doãn nói:

        Đạo hữu Vô Thủ kính,
        – Nếu Đạo hữu không ngại sự tạp nhiễm trên Internet, thì xin mời Đạo hữu thỉnh thoảng ghé qua trang blog này, để nhiều người được nhận những chia sẻ quý giá từ Đạo hữu.
        – Hiện nay group Pali Chuyên Đề không còn sinh hoạt nhiều nữa. Những thảo luận cũ post ở đây cũng cần có sự đóng góp thêm của Đạo hữu để giúp ích mọi người hữu duyên.
        Kính

  3. Vô thủ nói:

    Lành thay, này Hiền giả! Cảm ơn Hiền giả đã có lời chia sẻ. Nhưng tại sao nhóm PLCĐ lại không còn sinh hoạt nhiều nữa, phải chăng nhóm đã di chuyển đến một nơi khác hay do các Pháp đang vận hành theo quy luật của chúng ?
    Kính chúc an lạc và tinh tấn !!

    • BS Phạm Doãn nói:

      Đạo hữu Vô Thủ,
      Group PLCĐ bắt đầu với một nhóm người học Pāli, sau đó phát triển thêm nhiều thành viên, mở rộng ra thảo luận về Phật Học. Vì đông người, nhiều ý kiến tranh luận, đưa đến nhiều mâu thuẩn. Vì lý do đó, nhóm không tổ chức thảo luận nữa, mà chỉ giới hạn trong việc học chữ Pāli.
      Trang blog này nhằm chia sẻ một ít thông tin (của nhóm) ra ngoài cho những ai cần tìm hiểu thêm về các bài kinh Pāli. Mong được như vậy!
      Kính

      • Vô thủ nói:

        Thật vậy, này Hiền giả! Thật sự là vậy, này Hiền giả!

        Này Hiển giả! thuở xưa, khi đức Như Lai còn tại thế, sau mỗi thời Pháp ngài thuyết giảng, các hữu học có trí thường nói lời hoan hỷ tán thán:
        “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn!…”, thời ngày nay, này Hiền giả! trong thời Như Lai đã diệt độ, các hữu học sau khi đến học tập Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng đã lấy đó làm phương tiện để luận tranh,đả tranh nhau. Thật là bất hạnh, thật là đại tổn giảm cho các hữu tình trong thời đức Như Lai đã vô dư Niết-bàn.
        Vì sao vậy? vì rằng, này Hiền giả! chư vị ấy đã học tập và “lạm dụng” pháp như là những người “ăn trộm Pháp”. Như thế nào là “ăn trộm Pháp”?

        – “Này các tỳ khưu, ở đây có hạng ÁC Tỳ Khưu sau khi đã học tập Pháp và Luật được công bố bởi Như Lai lại Xem Là CỦA CHÍNH BẢN THÂN. Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ nhì được biết đến ở thế gian.” – http://budsas.org/uni/u-luat-ptg/tk1-04.htm

        này Hiền giả! ở đây, có những pháp do Như Lai thuyết giảng cho các vị Tỳ khưu(Tỳ khưu ni), các vị nam cư sĩ,nữ cư sĩ không hiểu được điều đó, họ đến học tập và nghe pháp (Không phải dành cho họ) làm cho hình thành những sở kiến làm phương tiện để luận tranh các Tỳ khưu,Tỳ khưu ni, luận tranh các nam cư sĩ,nữ cư sĩ. Như vậy là sự rối loạn, sự tổn giám trong Pháp và Luật vi diệu này.

        lại nữa, này Hiền giả! có các Tỳ khưu hữu học tâm chưa thành tựu, Hữu kiết sử chưa được chặt đước, Ái và Tham chưa được xả ly, Phạm hạnh chưa thành, các việc cần làm chưa làm xong, chư vị ấy đã dấn thân trên con đường truyền pháp; như vậy, này Hiền giả, là sự đa đoan của chư vị ấy; như thuở xưa, này Hiền giả! Đức Như Lai đã khuyên dạy và TUYÊN BỐ:

        – “Này các Tỷ-kheo, Ta Đã Được GIẢI THOÁT KHỎI Tất Cả Bẫy Sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, các Ông CŨNG ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI Tất Cả Bẫy Sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng,…” – http://budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu1-04.htm

        hay :

        “Này Cunda, con người tự mình bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, Sự Tình ấy KHÔNG THỂ XẢY RA. Này Cunda, con người tự mình không rơi vào bùn lầy, có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy có thể xảy ra.
        Này Cunda, con người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, KHÔNG ĐƯỢC HOÀN TOÀN GIẢI THOÁT, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát người khác, Sự Tình ấy KHÔNG THỂ XẢY RA. Một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy có thể xảy ra.” – http://budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung08.htm
        sự tình là như vậy, thời này Hiền giả; trong thời pháp này, các hữu tình đã học và hành sai chánh pháp rất nhiều

        ở đây, này Hiền giả! có thể có 2 sự tranh chấp,đả tranh nhau hiện khởi lên ở đời. Như thế nào là hai?

        “- Do nhân gì, thưa Tôn giả Kaccàna, do duyên gì các người SÁT-ĐẾ-LỴ Tranh Chấp Với Người SÁT-ĐẾ-LỴ, các BÀ-LA-MÔN Tranh Chấp Với Bà-la-môn, các người GIA CHỦ Tranh Chấp Với Người GIA CHỦ?

        – Do nhân thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các DỤC Tham, này Bà-la-môn, nên các Sát-đế-lỵ tranh chấp với các Sát-đế-lỵ, các người Bà-la-môn tranh chấp với các người Bà La môn, các người gia chủ tranh chấp với các người gia chủ.

        – Do nhân gì, thưa Tôn giả Kaccàna, do duyên gì các SA-MÔN Tranh Chấp Với SA-MÔN?

        – Do nhân thiên chấp, bị trói buộc, bị đắm say, bị xâm chiếm, bị đắm trước bởi các KIẾN Tham, này Bà-la-môn, nên các Sa-môn tranh chấp với các Sa-môn.”(những người còn thọ hưởng các Dục như “Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Gia chủ” thời tranh chấp nhau do duyên với DỤC Tham, những người xuất gia sống viễn ly Dục thời tranh chấp nhau do duyên KIẾN Tham”) – http://buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi02-0104.htm

        như vậy, này Hiền giả! là 2 sự tranh chấp hiện khởi lên ở đời, và chư vị ấy đã vi phạm vào điều mà Thế Tôn chỉ trích nặng nhất:

        “XAN THAM
        1. – Này các Tỷ-kheo, có năm Xan Tham này. Thế nào là năm?
        2. Xan tham trú xứ, xan tham gia đình, xan tham lợi dưỡng, xan tham tán thán, Xan THAM Pháp.
        Này các Tỷ-kheo, có năm xan tham này. Trong năm xan tham này, này các Tỷ-kheo, cái này là TỐI HẠ LIỆT, tức là Xan THAM PHÁP.” – http://budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-1926.htm

        ở đây, này Hiền giả! một thời Thế Tôn đã khuyên dạy và sách tấn các Đệ tử như sau:
        “Này các Tỷ-kheo, hãy Từ Bỏ MỘT PHÁP. Ta BẢO ĐẢM cho các Thầy không có tái sanh. Thế nào là một pháp? THAM, này các Tỷ-kheo, Là MỘT PHÁP, các Thầy hãy từ bỏ! Ta BẢO ĐẢM cho các Thầy không có tái sanh.” – http://budsas.org/uni/u-kinh-tieubo1/tb14-ptnv1.htm#chuong1

        như vậy, này Hiền giả! Đức Thế Tôn giảng dạy và “BẢO ĐẢM” không có Tái sanh.

        như vậy, này Hiền giả! nếu có phải học tập, một vị khéo học chỉ học tập 1 pháp, đó chính là ly Tham,
        nếu có phải thực hành, một vị khéo hành chỉ thực hành 1 pháp, đó chính là ly Tham,
        nếu có phải thành tựu, một vị khéo thành tựu chỉ thành tựu 1 pháp, đó chính là ly Tham.
        [vậy mà các hữu học thời nay ôm đồm quá nhiều thứ, làm sai phận sự của mình (người Cư sĩ thì đi làm phận sự của Tỳ khưu, “Tỳ khưu” thì lo ôm đồm Phật sự của cư sĩ…) nhiều quá]

        và này Hiền giả! do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn chỉ nói 1 lời và BẢO ĐẢM “không có tái sanh”. Hiền giả hãy lóng nghe và khéo léo tác ý:

        “do sự Ly THAM => đoạn diệt Vô Minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Dọ thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.”

        như vậy, này Hiền giả! là lời Thế Tôn khéo giảng và giải quyết TRỌN VẸN vấn đề:
        – nếu người học Pháp chưa thành tựu, thời cũng không đưa đến luận tranh,đả tranh nhau (dầu là nhân Dục THAM hay là Kiến THAM)
        – nếu người học pháp thành tựu viên mãn, thời BẢO ĐẢM “Không Có Tái sanh” nữa.

        như vậy, là sự Toàn vẹn Pháp và Luật vi diệu của Thế Tôn.

        * Thời nay, các hữu tình chỉ “Quy Y THẦY”,”Quy Y KINH” chứ không phải là “QUY Y PHÁP”. Rất tiếc cho tình trạng của Chánh pháp thời nay như lời ngài Maha Kassapa năm xưa đã cảnh tỉnh (“các điều học thì tràn kinh tràn sách mà các bậc Thánh thì vắng bóng đâu xa”).

        Kính chúc Hiền giả an lạc và tăng thịnh trong Thiện pháp !

      • BS Phạm Doãn nói:

        Chân thành cám ơn
        Đạo hữu Vô THủ đã dành thời giờ viết một comment, trích dẫn từ các đoạn kinh phù hợp, để đóng góp với thực tế tình hình của sự tu tập Đạo Phật trong thời điểm này! Rất nhiều người sẽ nhận được lợi ích ở đây!
        Kính

  4. Vô thủ nói:

    Lành thay, lành thay này Hiền giả! Thật khéo lành thay, này Hiền giả!

    Nhân vì hữu duyên, VT nói thêm ít lời để cho xác quyết, cho sáng tỏ ý nghĩa. Này Hiền giả! Như thế nào là QUY Y PHÁP, như thế nào là Quy Y KINH?
    ở đây, này Hiền giả! cần phải trả lời:

    QUY Y PHÁP là “ĐẾN ĐỂ MÀ THẤY”, Quy Y KINH là “Như Vầy Tôi Nghe”

    nhưng này Hiền giả! như thế nào là Vị Thuyết PHÁP ?
    ” III. VỊ THUYẾT PHÁP (S.iv,252)
    1-2) …

    3) — Thưa Hiền giả, những ai là những vị Thuyết Thuận PHÁP ở đời? Những ai là những vị KHÉO Thực Hành ở đời? Những ai là những vị KHÉO Đến ở đời?

    4) — Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để ĐOẠN TẬN THAM,
    những ai thuyết pháp để Đoạn Tận SÂN,
    những ai thuyết pháp để Đoạn Tận SI;
    những vị ấy là những vị THUYẾT THUẬN PHÁP ở đời.

    5) Này Hiền giả,
    những ai thực hành ĐOẠN TẬN THAM,
    thực hành Đoạn Tận SÂN,
    thực hành Đoạn Tận SI;
    những vị ấy là những vị KHÉO Thực Hành ở đời.

    6) Này Hiền giả,
    Những ai ĐOẠN TẬN THAM, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai;
    những ai Đoạn Tận SÂN, ….
    những ai Đoạn Tận SI, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai;
    những vị ấy là những vị KHÉO Đến ở đời.” – http://budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-38.htm

    hay như lời Thế Tôn xác quyết và rộng giảng:
    “IV. VỊ THUYẾT PHÁP (S.iii,164)

    1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

    2) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

    – “Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến.
    Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Vị Thuyết PHÁP?
    Cho đến như thế nào, được gọi là vị thực Hành PHÁP Tùy PHÁP?
    ………..

    3-4) – Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự Nhàm Chán, Ly THAM, Đoạn Diệt đối với Sắc; như vậy là VỪA ĐỦ để được gọi là Tỷ-kheo Thuyết PHÁP.

    Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự Nhàm Chán, Ly THAM, Đoạn Diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực Hành PHÁP Tùy PHÁP.
    ………..

    5-7)
    – Nếu Tỷ-kheo … đối với Thọ… đối với Tưởng… đối với các Hành…

    8)
    – Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự Nhàm Chán, Ly THAM, Đoạn Diệt đối với Thức; như vậy là VỪA ĐỦ để được gọi là Tỷ-kheo Thuyết PHÁP.

    Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự Nhàm Chán, Ly THAM, Đoạn Diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực Hành PHÁP Tùy PHÁP.
    ….. ” – http://budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22g.htm

    và này Hiền giả! hãy Khéo lóng nghe, Khéo tác ý trên lời Phật tuyên bố:

    “Này các Tỷ-kheo, dầu cho loại PHÁP HỮU VI Nào, Thánh Đạo Tám Ngành được xem là TỐI THƯỢNG, những ai đặt lòng tin vào Thánh đạo Tám ngành, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

    2. Dầu cho Loại PHÁP Nào, này các Tỷ-kheo, HỮU VI Hay VÔ VI, LY THAM được xem là TỐI THƯỢNG trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự Ly Tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỷ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.” – http://budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi04-0406.htm
    như vậy, này Hiền giả! những gì đã nói là do nhân duyên này mà nói.

    này Hiền giả! những gì là cần nói, những gì là lợi ích thiết thực, thời VT đã nói rõ ở đây.

    Kính chúc Hiền giả cùng các Chư hiền an lạc,tăng thịnh trong Thánh pháp của Thế Tôn !


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s