– Tưởng và Tưởng tri

TƯỞNG  (saññā)

—oooOooo—

 

Thuận Pháp Dhammiko

@ Anh Hạnh Trương xem VDP giải thích NIỆM (SATI) và TƯỞNG (SAÑÑĀ), thấy có lý:
Tưởng là sự nhớ lại do 1 dấu hiệu (nimitta) đã từng gặp, sự nhớ lại này có khi đúng, có khi sai. Còn sự nhớ của Niệm là sự nhớ chính xác vì dấu hiệu được ghi nhận kỹ lưỡng rõ ràng.
Ví dụ như người thợ mộc, thấy 1 miếng gỗ, ông ta nghĩ rằng sẽ dùng nó làm 1 cái mặt bàn; vài hôm sau, ông ta thấy 1 miếng gỗ khác và nghĩ rằng đấy chính là miếng gỗ mà ta định dùng làm mặt bàn. Thật ra ông ta nhầm vì miếng gỗ thứ 2 đó rất giống miếng gỗ đầu. Sự nhớ của Tưởng cũng thế, có thể đúng có thể sai.
Nếu như khi thấy miếng gỗ, người thợ mộc ấy dùng mực để đánh dấu, để làm ký hiệu, thì khi gặp lại thời gian lâu sau đó, dứt khoát ông ta sẽ nhận ra ngay mà không thể nào sai lệch. Đây là ví cho sự nhớ của Niệm.
Do bởi sự nhớ lại của Tưởng có đúng có sai nên Tưởng thuộc nhóm Tâm sở Biến hành. Trong khi đó sự nhớ của Niệm là chính xác, có sự phân biệt đúng sai, tốt xấu nên Niệm thuộc về nhóm Tâm sở Tịnh quang.
Ngoài ra, sự sai biệt giữa Niệm, Tưởng, và Trạo cử tựa như chữ viết trên đá, chữ viết trên cát, và chữ viết trên nước. Chữ viết trên đá ví như sự nhớ của Niệm, Chữ viết trên đất giống như sự nhớ lại của Tưởng, còn chữ viết trên nước ví như Trạo cử.

 

Hạnh Trương

Theo HT thấy thì chưa chính xác lắm, hai function đó không hẳn như vậy

Pāli Việt Thuận Pháp Dhammiko

nên xem định nghĩ 2 sở hữu Tưởng và Niệm ở Siêu Lý Học (có ở CD Budsas).

Con có đọc rồi nhưng thấy rất mập mờ giữa Niệm và Tưởng; giữa Niệm, Chánh niệm và Tưởng.

Pāli Việt

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Niệm là trạng thái tâm ghi nhớ biết mình, biết những hành vi và cử động của thân và tâm.

– Bốn ý nghĩa của sở hữu Niệm

1- Chơn tướng: Là cách không sơ ý
2- Phận sự: Là làm cho không quên, hay là ghi nhớ.
3- Sự thành tựu: Là cách trao đổi tâm hằng khắn khít với cảnh.
4- Nhân cần thiết: Là nhớ vững chắc.

Thí dụ: Như người lính gác cổng biết rõ kẻ ra người vào.

 

Pāli Việt

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tưởng là cách trạng lại, nhớ lại, hồi tưởng lại, nhận thức lại những cảnh, vật, hay sự việc đã gặp đã biết.

– Bốn ý nghĩa của Tưởng:

1- Chơn tướng cách nhớ.
2- Phận sự nhớ lại việc đã qua.
3- Sự thành tựu nhớ đặng sự vật đã biết.
4- Nhân cần thiết phải có cảnh hiện bày.

 

Pāli Việt

Theo từ điển Pali, sati còn có nghĩa là memory, nhưng Sư chưa gặp ngữ cảnh này. Như vậy phải chấp nhận sati có ít nhất là 2 nghĩa. Nếu lấy sati = memory thì chi pháp của nó không thể là sở hữu NIỆM (sati) được.

 

Thuận Pháp Dhammiko

Trong thiền Chánh niệm:
– Người có hành thiền nói: tâm tôi có ghi nhớ biết mình, biết những hành vi và cử động của thân và tâm.
– Người không bao giờ hành thiền, báng bổ thiền cũn…See More

 

Phan Minh Nguyet

đúng đấy anh Hạnh Trương đi học VDP đi:-) Thuận Pháp đọc “Tìm hiểu Pháp hành thiền tuệ” của sư Hộ Pháp xem

 

Hạnh Trương

Tưởng đây🙂

7) Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.

VII. Ðáng Ðược Ăn (Tạp 2, Ðại 2,11) (S.iii,86)

♦ “kiñca, bhikkhave, saññaṃ vadetha? sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati. kiñca sañjānāti? nīlampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti. sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati.

 

 

TƯỞNG TRI (sañjānati)

—oooOooo—

 Cô Nguyên Hương:

TƯỞNG TRI: trong tiếng Pali là sañjānati (san + jānati), có thể dịch nghĩa

đen là biết trong tâm, hay ý tưởng về một kinh nghiệm vừa đi qua.

Sañjānāti [saŋ+jānāti]

1. to recognize, perceive, know, to be aware of

2. to think to suppose

3. to call, name, nickname

Có một đoạn kinh rất hay trong Madhupinndika sutta (M I, 28) như sau:

“cakkhuñcāvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā V vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti P , yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.

Nghĩa là: khi con mắt tiếp xúc với sắc trần, nhãn thức sinh khởi; sự gặp gỡ của ba tác nhân (mắt, sắc & tâm tỉnh thức) là xúc; duyên xúc (tạo ra) thọ;

cái gì vừa thọ nhận (cảm giác) thì có tưởng tri (tri giác);

tưởng tri đó dẫn đến suy nghĩ: tầm (vitakketi)

những gì vừa suy nghĩ đem đến vọng tưởng (papañceti)

Vọng tưởng đó chính là nguyên nhân làm cho người ta trôi lăn trói buộc trong điên đảo mộng tưởng (papañcasaññāsaṅkh) liên đới với quá khứ-tương lai- hiện tại…

Đây là một đoạn kinh mô tả cực kỳ chính xác quá trình nhận thức và cách mà con người tạo ra tri thức có nền tảng trong vô minh, chưa giải thoát giác ngộ. Đoạn Kinh này được trích dẫn rất phổ biến để giải thích về nhận thức luận và tâm lý học Phật giáo (không phải Abhidhamma).

Hy vọng quí vị thấy thú vị với cách mà ngài Maha Ca-Chiên-Diên giải thích!

 

Sư Indacanda:

Sao mệt với mấy cái Tri này ghê!

Tuệ Tri = pajānāti ,

Thắng Tri = abhijānāti,

Liễu Tri = parijānāti.

Rồi sao nữa? Không lẽ phải đi học tiếng Hán để hiểu nghĩa mấy chữ này sao! Sư Cô Nguyên Hương lỡ giúp rồi thì giúp cho trót luôn đi. Còn thêm mấy chữ này nữa:

vijānāti, paṭijānāti.

Không biết có còn thêm chữ nào phát xuất từ chữ jānāti không đây nữa?

Thêm từ này nữa: papañca, papañceti,

HT. Minh Châu dịch là hý luận (vừa là danh từ, vừa là động từ),

còn Sc. Nguyen Huong ghi nghĩa là vọng tưởng (vừa là danh từ, vừa là động từ).

papañca này ở ngữ cảnh khác còn có nghĩa là chướng ngại (obstacle) nữa.

 

Sư Hiếu Huynh

  1. Pāḷi

– Manasi (manas chia định sở cách): ở tâm ý, nơi tâm ý

– Kāra (√kar): hành vi, việc làm

>>> Manasikāra: hành động (cho đối tượng hiện hữu) nơi tâm ý

– Yoniso (yoni chia xuất xứ cách?): từ căn bản, từ nguồn gốc, từ khi bắt đầu; yoniso còn được cho nghĩa như là một phó từ: về cơ bản, một cách sáng suốt, một cách hoàn hảo

2. Hán dịch

– Manasikāra 作意 tác ý mang nghĩa chú ý, dụng tâm

– Yoniso manasikāra: 从起源作意 tòng khởi nguyên tác ý (chú ý/dụng tâm từ khi ngọn nguồn xuất hiện), 如理作意 như lý tác ý (chú ý/dụng tâm theo như cái lý lẽ/chân lý)

– Ayoniso manasikāra: 未从起源作意 vị tòng khởi nguyên tác ý (chú ý/dụng tâm chưa được từ khi ngọn nguồn xuất hiện), 非如理作意 phi như lý tác ý (chú ý/dụng tâm trái với cái lý lẽ/chân lý)

TT tổng hợp từ vài cuốn từ điển, mọi người tham khảo và góp ý🙂

 

Phạm Doãn:

Tỳ khưu Thiện Minh dịch ý hành là (cetanā):

“tâm thức là bao gồm 7 sở hữu tâm (cetasika) – xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), ý hành (cetanā), nhất tâm (ekaggatā), mạng căn (jivitindriya), chú ý hoặc tác ý (manasikara).”

Cô Nguyên Hương:

Cetanā là tư tâm sở, theo Vi diệu pháp, nó là một trong bảy biến hành tâm sở mà manásikara là một như đã post bởi Bs Pham Doãn.

Thầy Viên Minh cũng thường đề cập đến cetanā là ‘tư’ và nó chính là tâm sở quyết định nghiệp được tạo tác trong tiến trình tương tác.

Sư Thiện Minh dịch là ý hành có thể theo tiếng Anh là intention/volition. cetanā xác định hiệu quả của kinh nghiệm lên tâm thức (của người đang kinh nghiệm), trong lúc đó manasikāra lại hướng nó đến một nhận thức nào đ

‎” mấy cái Tri ” đó làm cho chúng ta thấy ngôn ngữ Pali rất phong phú! Trong một post trước đây con đã đề cập đến những thuật ngữ Pali xuất phát từ gôc -/jna là ‘nhận biết’ hay chỉ đơn thuần là ‘biết’. Nhưng vì các soạn giả Pali muốn chứng tỏ rằng người tu Phật thì có rất nhiều mức độ giác ngộ hay nhận biết nên họ sử dụng nhiều từ khác nhau để diễn tả cái ‘biết = tri’ đó.

Thưa sư và các đạo hữu, khi con nói CÁC SOẠN GIẢ PALI là ý rằng những người đã edit or redactors (người biên tâp) của các Kinh điển đó. Vì Kinh điển không được viết trực tiếp từ miệng ĐP khi ngài đang thuyết giảng theo kiểu ghi tốc lý thời nay, mà qua gần 500 năm sau mới viết thành văn lên lá bối, con nghĩ trong việc ghi chép này có sự thay đổi chút ít (bao nhiêu thì chúng ta không biết). Con đang viết Từ điển thuật ngữ Pali- Việt, nhưng rất tiếc là chưa xong. Trong tài liệu này con cố ý tránh dùng từ Hán-Việt nếu có thể. Vâng, các bản dịch của HT Minh Châu bị khó hiểu vì cái mớ từ Hán Việt đó.

Võ Trọng Phi:

Kính gởi sư! Lướt qua www.buddhanet.net, con thấy cetanā được dịch với các từ như sau: tác ý, ý hành, tư tác, tư tâm sở, tư, sự cố ý, sở hữu Tư, chủ ý.

Tuấn Lý:

– Về yoniso manasikāra, tôi thấy comment của Sư Hiểu Huynh là đầy đủ, súc tích, rõ nghĩa và dễ hiểu. Chữ này dịch như lý tác ý là tạm được rồi. Tôi sẽ bổ sung thêm vài lý do ở phần sau. Nếu cần thiết thì đổi “tác ý” thành “dụng tâm” hoặc “cân nhắc” (pondering): “dụng tâm như lý”, “như lý cân nhắc”…

– Về các loại tri, tôi “like” cả hai comments của Sư Indacanda và SC Nguyen Huong. Theo suy nghĩ của tôi, người học cần chấp nhận một số từ ngữ chuyên môn như một điều tất yếu. Chúng ta không thể dịch khác đi những chữ tích phân, lượng giác, phương trình, hình bình hành, hình thang, phân tử, nguyên tử, gia tốc, động năng, … Một quyển từ điển giải thích các từ ngữ chuyên môn là cần thiết. Quý Sư trong nhóm Pali-Việt song song với dịch thuật nên xây dựng thêm quyển từ điển này tương ứng với các từ ngữ quý Sư đã sử dụng. Có thể vài mươi năm nữa hậu thế lại bình phẩm quý sư dịch tối nghĩa, đọc không hiểu, vì thiếu quyển từ điển này. Hoặc quý sư chú thích ý nghĩ của những từ quan trọng phía dưới mỗi bài kinh lớn cho người đọc dễ tham khảo. Quan trọng ở công đức này nằm ở chỗ chỉnh sửa những đoạn bị dịch sai rõ rệt hơn là một số từ ngữ chuyên môn mà người học phải chấp nhận.

Đôi lời đóng góp theo sự nhận định của tôi.

Tôi xin đóng góp sự hiểu biết về bốn loại tri.

– Tưởng Tri (sañjānati): là loại chúng ta sử dụng thường ngày. Loại tri này lệ thuộc vào ký ức và sự đặt tên. Mắt ta thấy một cây bút, ta không quán sát gì nhiều nhưng vẫn biết ngay đó là một cây bút. Đó là tưởng tri. Tưởng tri nhờ cậy vào sự hiểu biết (và sự định danh) đã có trong quá khứ.

– Tuệ Tri (pajānāti): đó là sự nhận biết rõ rệt bằng <quán sát> — thay vì hời hợt trong quán sát và nhờ cậy vào ký ức. Trong English có chữ <“come to know”> để diễn tả ý này.

– Thắng Tri (abhijānāti): là một loại Tưởng tri nhưng kèm theo toàn bộ hiểu biết về đối tượng — thay vì chỉ định danh (xác định nó là cái gì), rồi bỏ qua như Tưởng Tri. Nghĩa là Thắng Tri có sự dừng lại, dồn hết hiểu biết đã có vào đối tượng. Ví dụ khi dịch một từ nào đó, ta dồn hết hiểu biết đã có, kinh nghiệm đã có vào từ ngữ ấy. Cái tri này gọi là Thắng Tri.

– Liễu Tri (pariññā): khác với Thắng Tri, loại tri dựa vào kinh nghiệm cá nhân, mang ý chủ quan. Liễu Tri là tri đi kèm toàn bộ hiểu biết <đầy đủ và chính xác> về đối tượng, mang nghĩa khách quan. Ta có thể đạt “Thắng tri về đối tượng” hơn là “Liễu tri về đối tượng” vì không dễ có hiểu biết chính xác và hiểu biết đầy đủ về đối tượng một cách khách quan. Liễu Tri là loại tri cao nhất.

Về dịch thuật, Liễu tri lấy chữ “liễu” tôi thấy thích hợp, Tưởng Tri lấy chữ “tưởng” theo saññā tôi thấy có mối liên hệ. Tuệ tri và Thắng tri, tôi không biết có cách dịch nào khác hơn không? Đặc biệt Tuệ tri tôi thấy không rõ nghĩa, mặc dù tạm gọi là ổn.

Phạm Doãn:

Sư Giác Chánh (Siêu Lý học, phần sở hữu tâm)

SỞ HỮU TÁC Ý (Manasikāra)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tác Ý là cách gom thâu đối tượng làm thành cảnh cho Tâm.

– Bốn ý nghĩa của Tác Ý:

1- Chơn tướng: Là cách hướng dẫn pháp tương ưng bắt cảnh trọn vẹn.

2- Phận sự: Là làm cho tâm phối hợp với cảnh.

3- Sự thành tựu: Là hướng tâm đến cảnh.

4- Nhân cần thiết: Là phải có cảnh.

Thí dụ: Như ống viễn kính thâu cảnh vật ở xa cho vừa tầm mắt được thấy.

II. Phân tích chi pháp: Sở hữu Tác Ý có 3 loại:

1- Tác Ý thành lộ.

2- Tác Ý thành đổng tốc.

3- Tác Ý thành cảnh.

 

Sư Hiếu Huỳnh:

Kiriyā kāro. Manamhi kāro manasikāro. Purimamanato visadisamanaṃ karotītipi manasikāro. Svāyaṃ ārammaṇapaṭipādako, vīthipaṭipādako, javanapaṭipādakoti tippakāro (visuddhi. 473)

Tác ý là cái tạo nên những gì sẽ được tạo, cái tạo nên trong tâm ý. Nó làm cho tâm khác với tâm hữu phần trước đấy, nên gọi là tác ý. Nó có ba cách làm việc này: kiểm soát đối tượng, kiểm soát lộ trình tâm và kiểm soát những tốc hành tâm. (Thanh Tịnh Đạo II. đoạn 152, Ni sư Trí Hải)

Dịch theo Ngài Tịnh Sự thì:

ārammaṇapaṭipādako >>Tác ý thành Cảnh

vīthipaṭipādako>>Tác ý thành lộ

javanapaṭipādako>> Tác ý thành Đổng tốc

tìm trong vài quyển sách, mọi người tham khảo.

Sư Indacanda:

Như vậy là thêm 1 từ Pali nữa cũng được dịch là “tác ý”:

– manasikāra

– cetanā

– paṭipādaka

Yoniso manamanasikāra: Kiểm tra lại bản dịch Phân Tích Đạo 2 tập và Milinda Vấn Đạo thì thấy cụm từ yoniso manamanasikāra đã được Tk. Indacanda dịch như sau:

– sự tác ý đúng đường lối (đa phần)

– sự tác ý đúng đắn (rất ít)

– sự chú tâm đúng đắn (1 lần)

Giờ ai mà hỏi vì sao đã dịch như vậy, thì cũng chẳng biết phải trả lời ra sao nữa. Kiểm tra lại thấy vậy thì biết vậy thôi.

Phạm Doãn:

Thưa sư, sư cô và đạo hữu: Khi ta quyết định lựa chọn làm một việc gì (will, volonte) thì có phải ta đã tác ý chưa? Và như vậy có phải ta đã dùng đến manasikara, hay ta đã dùng đến cetana, hay đã dùng cả hai? Con biết câu hỏi này khó, chỉ nên đặt ra cho các vị chuyên dạy Abhidhamma , nhưng sẵn cuộc thảo luận đây, có ai biết thì giúp giùm. Con rất cám ơn!

Võ Trọng Phi:

Kính gởi sư! Con tâm đắc với cụm từ “sự tác ý đúng đường lối” vì nó rõ ràng, cụ thể và khá sát với cụm Hán ngữ “như lý tác ý”. Với cetanā, con thấy các vị giảng sư Vi Diệu Pháp thay bằng từ Tư hoặc Sở Hữu Tư thì khá nhiều, gọi “tác ý” thay thế cho cetanā thì có vẻ ít hơn.

Sư Indacanda:

To BS Pham Doãn: Mỗi lần bí lối là Sư vào đây chiêm nghiệm. Dường như TƯ đi sau TÁC Ý một bước.

39- SỞ HỮU TƯ (Cetanā)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tư là trạng thái tính làm, quyết làm cố tâm.

– Bốn ý nghĩa của Tư:

1- Chơn tướng: Ðôn đốc pháp đồng sanh.

2- Phận sự: Làm cho pháp đồng sanh bắt cảnh.

3- Sự thành tựu: Sắp đặt được pháp đồng sanh.

4- Nhân cần thiết: Thọ, Tưởng và Thức uẩn.

Thí dụ: Người giám đốc xí nghiệp chỉ huy các công nhân làm việc.

42- SỞ HỮU TÁC Ý (Manasikāra)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Tác Ý là cách gom thâu đối tượng làm thành cảnh cho Tâm.

– Bốn ý nghĩa của Tác Ý:

1- Chơn tướng: Là cách hướng dẫn pháp tương ưng bắt cảnh trọn vẹn.

2- Phận sự: Là làm cho tâm phối hợp với cảnh.

3- Sự thành tựu: Là hướng tâm đến cảnh.

4- Nhân cần thiết: Là phải có cảnh.

 

Thí dụ: Như ống viễn kính thâu cảnh vật ở xa cho vừa tầm mắt được thấy.

 

Phạm Doãn:

Con cám ơn câu trả lời trên đây của sư! mấy năm trước con có viết một bài ngắn (Con người ta có ý chí tự do hay không?). Viết xong rồi bế tắc! hì hì… Hôm nay con hỏi nhều về tác ý (manasikara), về tư (cetana) là mục đích muốn tìm hiểu xem cái ý chí con người khi lựa chọn một quyết định, nó là sở hữu tâm nào? Sở hữu Tác ý hay sở hữu tư hay là cả hai?

Sư Hiếu Huynh:

Sao thấy trong từ điển “paṭipādaka” chỉ mang nghĩa là “hỗ trợ, dẫn dắt, an bài, sắp đặt” nên nếu nói đầy đủ “tác ý thành cảnh” thì e rằng phải là ārammaṇapaṭipādaka manasikāra. con kính sư Bhikkhu Indacanda check dùm và nhờ bác Phạm Doãn có gì thì edit lại dùm.🙂

Tuan Ly

Manasikāra hướng tâm đến đối tượng để khảo sát đối tượng, tùy theo đối tượng thiện hay bất thiện nó trở thành thiện hay bất thiện. Cetanā điều phối phần việc còn lại, trong đó có “muốn” và thúc đẩy hành vi. Thiện hay bất thiện tùy vào cái nó “muốn”.

Khi đối tượng (cảnh) xuất hiện, tác-ý có mặt để hướng đến khảo sát đối tượng. Sau đó có thể xuất hiện khán-ý-môn, cũng là một loại tác-ý, kháng lại đối tượng qua ý môn và tạo tâm động lực kế tiếp. Sở hữu tư có thể xuất hiện để quản thúc, thúc đẩy hành vi thiện hoặc bất thiện.

Manasikāra phải có cảnh và Yoniso-Manasikāra cũng phải có cảnh. Ví dụ : “<Tịnh tướng>, này các Tỷ-kheo, nếu <không như lý tác ý>, đưa đến dục tham chưa sanh được sanh khởi”. Nghĩa là Yoniso-Manasikāra không đi một mình.

Vấn đề ở đây đạo hữu cần quan tâm không phải ở tác ý <vì tác ý luôn luôn có mặt> khi có cảnh. Học VDP ta nên để ý chỗ này. Vấn đề ở đây là ta có “cái lý như lý” để sử dụng hay không! :))

Trở về câu hỏi:

1. Manasikāra luôn có mặt;

2. Cetanā có hay không có tùy thuộc “sự chọn lựa” của câu hỏi. Nếu chọn lựa vô ý vô tác thì tất nhiên cetanā không có mặt. Cetanā thiện hay bất thiện cũng tùy vào cái nó muốn là gì.

Khi tu người ta có thể lo nghĩ mình có chịu tác ý hay không chịu tác ý. Ở đây ta thấy tác ý luôn có mặt khi có cảnh. Thế nên điều ta quan tâm phải là tác ý đúng cách hay tác ý không đúng cách (như lý hay phi như lý). Cần tìm hiểu về yoniso và làm sao có yoniso để sử dụng khi tác ý.

Phạm Doãn:

Cám ơn sư Tuan Ly đã phân tích rõ. Theo nguồn gốc của từ yoniso: yoni=uterus=nơi sinh ra, nơi khởi nguồn. Vậy yoniso ở đây là quay về nguồn, về uyên nguyên. Đời sống là ra đi. Tu tập là quay về. Đạo Phật có xác định một chiều quay của bánh xe pháp. Yoniso là thuận theo chiều quay bánh xe pháp. Ví dụ Dục là lực đẩy đời sống đi tới. Tác ý ly Dục là nổ lực đi ngược về.

Trí Việt:

Cháu thấy Tỳ Kheo Thanissaro dịch là : Appropriate attention, nghĩa là Sự chú tâm đúng đắn🙂

Phạm Doãn:

Tỳ khưu Thiện Minh dịch ý hành là (cetanā):

“tâm thức là bao gồm 7 sở hữu tâm (cetasika) – xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), ý hành (cetanā), nhất tâm (ekaggatā), mạng căn (jivitindriya), chú ý hoặc tác ý (manasikara).”

Sư Indacanda:

NHÓM THUẬT NGỮ: THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH, Ý HÀNH ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG Ở 2 TRƯỜNG HỢP: manokamma, manosankhara

DỊCH THUẬT PALI: Tạm đúc kết như sau:

– Xác định cấu trúc của câu (đa số các dịch giả khi gặp cấu trúc lạ khó phân tích thường chọn lối dịch giảng, tỷ lệ may rủi có thể nói là 50-50)

– Chọn nghĩa của từ (xác định ngữ cảnh)

Atthakatha (Chú Giải) trợ giúp rất nhiều cho 2 việc trên.

Kiriyā kāro. Manamhi kāro manasikāro. Purimamanato visadisamanaṃ karotītipi manasikāro. Svāyaṃ ārammaṇapaṭipādako, vīthipaṭipādako, javanapaṭipādakoti tippakāro (visuddhi. 473)

Tác ý là cái tạo nên những gì sẽ được tạo, cái tạo nên trong tâm ý. Nó làm cho tâm khác với tâm hữu phần trước đấy, nên gọi là tác ý. Nó có ba cách làm việc này: kiểm soát đối tượng, kiểm soát lộ trình tâm và kiểm soát những tốc hành tâm. (Thanh Tịnh Đạo II. đoạn 152, Ni sư Trí Hải dịch từ bản Anh ngữ).

Tác là việc làm. Tác ý là việc làm ở ý. Tạo ra tâm không giống với tâm trước đó” nghĩa là tác ý. Cái này đây có ba sự thể hiện: dẫn đến cảnh, dẫn đến lộ (tâm), dẫn đến các (sát-na tâm) đổng tốc (Tk. Indacanda).

BẢN DỊCH ANH NGỮ GIÚP CHO VIỆC NHẬN DIỆN CẤU TRÚC CỦA CÂU VĂN PALI (NHƯNG CŨNG ĐỪNG LỆ THUỘC). VÀ CÓ MỘT SỐ NGỮ CẢNH CỦA CHÂU Á LÀ XA LẠ VỚI NGƯỜI CHÂU ÂU.

Tạm ngưng thảo luận ở mấy từ này thôi. Vấn đề ngữ nghĩa chưa chấm dứt đâu.

ĐỂ DỊCH LẠI CÁI ĐOẠN PALI DƯỚI ĐÂY THÌ PHẢI TỐN NHIỀU THỜI GIAN LẮM, VÌ PHẢI THAM KHẢO MỘT SỐ TÀI LIỆU. VÌ THẾ, CHỈ DỊCH ĐẠI KHÁI ĐOẠN NÀY ĐỂ CHO QUÝ VỊ THẤY ĐƯỢC VIỆC DỊCH “LỔN CỔN LẢNG CẢNG” CỦA NHÀ SƯ “MẮC DỊCH” CÓ GIÁ TRỊ NHƯ THẾ NÀO THÔI:

Tạng Kinh, Trung Bộ, bài 18: Kinh Mật Hoàn (Madhupiṇḍikasuttaṃ). Cái đoạn văn Pali này do Sc. Nguyên Hương nêu lên ở trên:

“cakkhuñcāvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tiṇṇaṃ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, yaṃ vedeti taṃ sañjānāti , yaṃ sañjānāti taṃ vitakketi, yaṃ vitakketi taṃ papañceti, yaṃ papañceti tatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.

Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại (HT. Thích Minh Châu).

Nghĩa là: khi con mắt tiếp xúc với sắc trần, nhãn thức sinh khởi; sự gặp gỡ của ba (tác nhân = mắt, sắc & tâm tỉnh thức) là xúc; duyên xúc (tạo ra) thọ; cái gì vừa thọ nhận (cảm giác) thì có tưởng tri (tri giác); tưởng tri đó dẫn đến suy nghĩ (tầm = vitakketi) những gì vừa suy nghĩ đem đến vọng tưởng (papañceti); vọng tưởng đó chính là nguyên nhân làm cho người ta trôi lăn trói buộc trong điên đảo mộng tưởng (papañcasaññāsaṅkhā) liên đới với quá khứ-tương lai- hiện tại… (Sư Cô Nguyên Hương giảng)

Này các đại đức, do mắt và các cảnh sắc, nhãn thức sanh liên. Sự hội tụ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, cảm thọ khởi lên. Cảm thọ cái nào thì nhận biết cái ấy; nhận biết cái nào thì suy tầm về cái ấy; suy tầm về cái nào thì tưởng tượng về cái ấy; tưởng tượng cái nào thì do nguyên nhân của điều ấy khiến sự xác định bởi tưởng tượng và nhận biết xảy đến cho con người khi các sắc được nhận thức bởi mắt ở các thời quá khứ, vị lai, và hiện tại (Tk. Indacanda).

BÂY GIỜ QUÝ VỊ CÓ THỂ SUY LUẬN RỒI ĐÓ.

 



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s